CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN (B)
Dẫn nhập đầu lễ :
Chúng ta họp nhau trong ngày Chúa Nhật nầy phải chăng là để cùng nhau ôn lại bài học đức tin, hay đúng hơn, để một lần nữa trả lời lại câu hỏi của chính Chúa Giêsu : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”.
Cho dù đã có sẵn câu trả lời đúng phóc 100% của Phêrô : “Thầy là Đức Kitô”, thì một niềm tin đích thực, một câu trả lời đúng nghĩa của người môn đệ Đức Kitô hôm nay, dĩ nhiên không phải là chuyện cứ lặp lại thuộc lòng câu trả lời của Thánh Phêrô như một điệp khúc, như một công thức, một tín điều… là đủ, mà đằng sau câu trả lời đó là cả một cuộc dấn thân phục vụ Tin Mừng đầy nhiêu khê và anh hùng, một cuộc lên đường làm chứng cho Chúa Kitô trong đắng cay và thập giá. Và đó chính là sứ điệp phụng vụ được đề nghị cho cộng đoàn và cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành …
Giảng Lời Chúa :
Thế giới trong năm vừa qua, đặc biệt trong lãnh vực văn học và điện ảnh, đã sôi động hẳn lên với cuốn tiểu thuyết trinh thám dã tưởng cùng với bộ phim mang tên “Mật Mã Da Vinci” của nhà văn Dan Brown. Sự kiện văn học và nghệ thuật thứ bảy nầy đã thu hút sự quan tâm của cả thế giới, đặc biệt thế giới Kitô giáo, một thế giới mà có thể nói được, là chính đối tượng để cuốn tiểu thuyết của Dan Brown kết án và phủ nhận cách trơ trẻn, với đầy luận cứ lịch sử và khoa học ngụy biện. Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Giêsu trở thành đối tượng cho sự báng bổ và xúc phạm. Mấy chục năm về trước, Ngài đã từng bị lột trần xúc phạm như một kẻ phàm phu tục tử trong tác phẩm tiểu thuyết “Cơn cám dỗ cuối cùng” của Nikos Kazant-zakis…Thì ra, Giêsu Na-da-rét, sau 2000 năm, vẫn còn sống mãi giữa lịch sử nhân loại. Nói cách khác, Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn còn là một vấn nạn cho muôn con người, một vấn nạn mà chính Ngài đã đặt ra cho các môn sinh cách đây 2000 năm trước : “Phần các con, các con bảo Thầy là ai ?”.
Đức tin của chúng ta, đức tin của người Kitô hữu, phải chăng chính là câu trả lời dứt khoát và thường xuyên cho vấn nạn đó.
1. Đức tin : một lời đáp, một câu trả lời thiết yếu :
Quả thật, trong đời sống, có những câu trả lời thật quan trọng, ảnh hưởng trên toàn bộ vận mệnh của cả một dân tộc, của cả một đời người. Chỉ một câu trả lời “không” của Nhật Hoàng trước đề nghị đầu hàng vô điều kiện của phe Đồng Minh, hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật bị tiêu hủy bởi hai quả bom nguyên tử của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Bởi một câu trả lời của con gái bà Herodia : “Con muốn đầu Gioan Tẩy Giả…”, lập tức cuộc đời của nhà đại tiên tri của cựu ước bị xóa sổ ! Trong những ngày vừa qua toàn thế giới đang như nín thở chờ đợi câu trả lời của Nhà nước I-Ran đối với Liên-Hiệp-quốc về vấn đề hạt nhân. Chỉ cần môt câu trả lời “chấp thuận ngưng lại việc làm giàu chất uranium”, ngưng lại việc nghiên cứu hạt nhân…” hàng triệu trẻ em I-ran sẽ không còn thiếu dinh dưỡng, hàng triệu người dân nghèo I-ran sẽ được no cơm ấm áo…vì hàng rào cấm vận được tháo dỡ.
Trong lãnh vực niềm tin, có thật sự câu trả lời cho vấn nạn : “Thầy là ai” là cần thiết ?
Nếu quả thật, câu trả lời cho vấn nạn đó chỉ là một cụm từ, một mệnh đề, cho dù là một cụm từ hay mệnh đề hoa mỹ, trau chuốt, nhưng không liên hệ gì đến con người, đến lịch sử nhân loại, đến vận mệnh cuộc đời, đến sự sống sự chết…thì quả thật câu trả lời đó chả cần thiết, và cũng chẳng đáng phải quan tâm.
Để hiểu tầm quan trọng của vấn nạn Chúa Giêsu đặt ra cho các môn sinh và tính quan trọng, nghiêm túc tuyệt đối cần thiết của câu trả lời của thánh Phêrô, chúng ta hãy trở về khung cảnh diễn ra câu vấn nạn và trả lời trên cách đây 2000 năm về trước :
Vùng đất Xêdarê Philipphê hoàn toàn nằm ngoài ranh giới xứ Galilê, không thuộc lãnh thổ của Hêrôđê, nhưng là đất thuộc về Philipphê. Đây là một thành phố có lịch sử ly kỳ. Từ thời xưa nó được gọi là Balias, vì nó từng là trung tâm quan trọng cho việc thờ thần Baan. Ngày nay, nó hãy còn được gọi là Banias vốn từ hình thức của Panias. Sở dĩ nó có tên Panias bởi trên một sườn đồi tại đấy có một hang đá mà người ta bảo là chỗ sinh của Pan, thần sáng tạo cõi thiên nhiên của dân Hylạp. Hơn nữa từ một hốc đá bên sườn đồi ấy lại phát xuất một dòng suối mà người ta cho rằng đó là nguồn phát sinh của sông Giođan. Cao hơn trên sườn đồi, sừng sững một đền thờ sáng chói bằng đá trắng, Philipphê đã xây để thờ thần tính của Xêda, hoàng đế Lamã, người đang trị vì thế giới thời ấy, người được xem như một vị thần. Có thể nói đựoc rằng, từ nơi đây, bầu không khí tôn giáo cổ xưa bao trùm xứ Paletin: những kỷ niệm về Baan được nhìn thấy khắp nơi. Các thần của thế giới cổ Hylạp cũng ngự trị tại đó, người ta vẫn như còn nghe tiếng sáo của thần Pan, và còn thoáng thấy các nữ thần sống trong các khu rừng. Sông Giođan chắc gợi cho người ta nhớ lại từng giai đoạn trong lịch sử dân Israel và việc chinh phục xứ ấy. Và đưới ánh sáng mặt trời từ phương Đông, đền thờ bằng đá trắng đang phản chiếu đó như nhắc nhở mọi người rằng Xêda là một vị thần.
Chính trong cái không gian đa thần và tín ngưỡng hổ lốn ấy, Chúa Giêsu đặt vấn nạn về thái độ tín ngưỡng của dân chúng và của riêng các môn sinh về chính Ngài : “Thầy là ai ?”. Làm sao một Phêrô cục mịch dốt nát, trong bối cảnh “mê tín” như thế, lại trả lời một câu như một lời tuyên tín gãy gọn, chính xác, về một anh chàng thợ mộc đến từ Na-da-rét : “Thầy là Đức Kitô”. Chúng ta chỉ hiểu được : đó chính là câu trả lời của niềm tin như chính Đức kitô nhận xét : “Nầy anh Simon con ông Gio-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17).
Trong một thế giới “vàng thau lãn lộn”, một thế giới đang trưng bày không biêt bao nhiêu “thần tượng” trên bệ thờ của tri thức kiêu căng và não trạng hưởng thụ : thần tiền bạc, thần quyền lực chính trị, thần dục vọng, thần sắc đẹp, thần kỷ thuật tiên tiến, thần võ khí hiện đại, thần kinh tế bá chủ, thần năng lượng, thần khủng bố…thì quả thật, câu hỏi “Thầy là ai” vẫn rất cần thiết được đặt ra cho mỗi người kitô hữu chúng ta và cho những ai còn thao thức và trăn trở đi tìm chân thiện mỹ. Và dĩ nhiên, điều quan trọng không kém chính là câu trả lời.
Thật vậy, vào chính thời điểm câu hỏi đó đặt ra, thì đối với những con người như vua Hêrôđê, như quan tổng trấn Philatô, như các bậc đại gia ăn trên ngồi trước và chức quyền đạo đời ung dung bề thế ở thủ đô Giêrusalem, với vợ đẹp con khôn, với tiền bạc và phương tiện dồi dào… thì “Thầy là ai” mặc kệ Thầy, có liên quan gì đến họ, miễn là đừng làm gì ảnh hưởng đến sự an toàn của họ, vị thế chính trị của họi, sự hưởng thụ của họ. Nếu có, coi chừng họ sẽ loại trừ Thầy như nhỗ một cái đinh.
Tuy nhiên, cũng trong thời điểm đó, câu trả lời “Thầy là ai” lại tuyệt đối quan trọng và cần thiết cho rất nhiều người : là những thân phận khố rách áo ôm, những kẻ què mù đuôi điếc, những người phong cùi, những người đỉ điếm, những kẻ bị loại trừ và cách ly vì hành nghề thu thuế…Tất cả họ là những người đang dõi mắt trông chờ ngày hiện thực của những lời sấm ngôn thuở trước về một Đấng Kitô như : “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài đã xức dầu tấn phong tôi để tôi đem Tin mừng cho kẻ nghèo…”. Với họ, niềm hy vọng duy nhất khi câu trả lời : “Thầy là Đức Kitô,” sẽ biến thành hiện thực. Vì nếu phải là Đấng Kitô thì : Kẻ mù mới hy vọng được sáng mắt, kẻ què mới hy vọng nhảy cửng lên như nai, kẻ phung hủi bị đọa đầy cách ly ngoài hoang mạc mới có cơ may trở về sống kiếp con người, kẻ lầm đường lạc lối như Maria-Mađalêna, Giakê, Matthêu… mới còn sinh lộ làm lại cuộc đời, và kẻ chết như con trai bà góa Naim, như Lazarô ở Bêtania mới có ngày được thấy lại mặt trời sự sống…
Và suốt 2000 năm nay, có hàng hàng lớp người nhờ câu trả lời như thế mà tìm được ý nghĩa cho cuộc đời, tìm được hạnh phúc đích thực. Và nhất là thế giới đã, đang và sẽ mãi mãi cần Ngài, Đức kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, vì :
- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để thế giới hôm nay hòa bình hơn, huynh đệ hơn khi nhờ Thầy mà nhân loại nhận ra mình là con cái Thiên Chúa và là anh em một nhà.
- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để những giá trị tinh thần được thăng hoa, để hạnh phúc các gia đình được thiết định trên nền tảng Tin Mừng, để tình yêu hôn nhân được liên kết và vững bền bằng giao ước thánh, để thiếu nhi được chăm sóc yêu thương và giáo dục, để người trẻ sống có lý tưởng và can đảm dấn thân xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống, để những người già được yêu thương và kính trọng…
- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để người giàu biết sẻ chia, người nghèo biết khiêm nhu đón nhận, kẻ bịnh hoạn tật nguyền luôn mỉm cười hy vọng được ủi an, người tội lỗi biết mở lòng sám hối để làm lại cuộc đời…
Vâng, câu trả lời “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” không chỉ để trả lời một vấn nạn mà là một tuyên xưng niềm tin, một xác tín, một niềm hy vọng ngút ngàn, một tiếng kêu òa vỡ của hạnh phúc và niềm vui khi chợt khám phá ra “Nước Trời đang đến”, ơn cứu độ đã được trao ban, Thiên Chúa đã nhập thể và đang đồng hành cùng nhân loại. Quả thật, đằng sau câu trả lời là một trời hy vọng đã mở ra !
2. Đức tin : lời đáp trả đòi hỏi phải dấn thân lên đường
Tuy nhiên, đó lại là môt câu trả lời kèm theo một đòi hỏi phải dấn thân chọn lựa. Ở đây, chính là chọn lựa đi con đường thập giá mà Đức Kitô đã đi qua để cứu chuộc muôn người. Khước từ con đường nầy, chọn lựa này chính là sự thỏa hiệp với Satan, là chắp cánh cho sự dữ, là ngăn cản công trình của Thiên Chúa. Phêrô mới vừa được khen tặng trước đó với câu trả lời xuất thần “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, lại bị quở trách thật nặng lời kế liền sau đó cũng chỉ vì muốn tránh né con đường và chọn lựa nầy : “Satan, lui lại đằng sau Thầy ! vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà là của loài người”. Tuy nhiên, cuối cùng tại thủ đô Rôma của đế quốc La mã, Phêrô đã viết lại nguyên vẹn câu trả lời hôm xưa tại vùng Cê-sa-rê Philip bằng chính chọn lựa nghiêm túc của mình : chịu đóng đinh ngược đầu xuống đất để trung thành trọn vẹn với chính Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng mà Ngài phụng sự, yêu mến và loan báo không mệt mõi.
Cũng như Phêrô ngày xưa, hôm nay rất nhiều người trong chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó của Chúa Giêsu một cách gọn ghẽ, ngon ơ. Tuy nhiên, cũng như Phêrô, sẽ có không ít người tránh né chọn lựa con đường thập giá, khước từ chọn lựa những đòi hỏi dấn thân anh hùng và gian khổ của Tin Mừng để uốn mình nô lệ cho những giàu sang và đam mê thế tục. Để minh họa cho ý nghĩa nầy, xin hãy nghe một người kể lại giấc mơ của mình :
Tối hôm qua, tôi mơ thấy mình đang cầu nguyện, bỗng chốc một luồng ánh sáng xuất hiện; trong ánh sáng huy hoàng đó, tôi nhận ra Chúa Giêsu đang đứng trước mặt tôi, Ngài mỉm cười nhìn tôi và nói:”Con hãy đến ngồi trên tấm thảm này với Ta”. Lòng tràn đầy vui sướng, tôi tiến lại gần bên Chúa và ngồi xuống tấm thảm bên cạnh Ngài. Tấm thảm từ từ bay bổng lên không trung đưa theo Chúa Giêsu và tôi ngồi trên đó. Tôi mỉm cười, lòng đầy vui sướng và tự nhủ: thật không còn gì hạnh phúc cho bằng được ở gần bên Chúa.
Một lúc sau, tôi quay nhìn Chúa Giêsu để bày tỏ niềm vui của tôi; thế nhưng tim tôi bắt đầu đập mạnh, vì tôi có cảm tưởng như Chúa Giêsu không còn bận tâm đến tôi nữa, bởi lẽ Ngài đang chăm chú rút từng sợi chỉ của tấm thảm, chẳng mấy chốc tấm thảm chỉ còn lại phân nửa. Hết sợi chỉ này đến sợi chỉ khác từ từ bay lên theo gió, chân tay tôi bắt đầu run lên vì hoảng sợ, thế nhưng Chúa Giêsu vẫn thản nhiên tiếp tục rút từng sợi chỉ. Sau cùng tôi kêu lên :”Lạy Chúa, Chúa đang làm gì thế ? Chúa không thấy là chẳng còn mấy chốc nữa tấm thảm của chúng ta sẽ tan tành hay sao ?” Chúa Giêsu mỉn cười nắm lấy tay tôi và nói :”Sao con lại nhát đảm và kém lòng tin như thế? Con hãy bám chặt vào Ta, con sẽ không phải sợ gì nữa, mặc dù con sẽ bị tước đoạt hết mọi sự, cả đến sợi chỉ cuối cùng”. Chúa Giêsu vừa dứt lời, thì qủa thực sợi chỉ cuối cùng của tấm thảm cũng bị rút đi luôn, tôi giật mình thức giấc.
Chọn lựa Đức Kitô và con đường của Ngài, chính là chọn lựa những nổi bấp bênh và trắc trở, những hy sinh và từ bỏ, những tăm tối và khổ cực, và nếu cần, cả ngục tù và cái chết. Có biết bao nhiêu người đã anh hùng chon lựa như thế. Trong số đó phải kể tới 118 anh hùng Tử Đạo Việt nam được Giáo Hội tôn vinh trên bàn thờ.
Bàn Tiệc Thánh Thể hôm nay có thể nói được là một câu trả lời hiện thực nhất : “Thầy là Đức Kitô” cũng có nghĩa : “Thầy là mình máu được trao ban cho chúng con được nuôi sống hôm nay và mang mầm vĩnh cửu, Thầy là lời chân lý và tình yêu được sẻ chia để chúng con no đầy sự sống, Thầy là sự tha thứ và giao hòa để mở đường cho chúng trở về với Chúa Cha và với anh chị em…”.
Lạy chúa Giêsu, chúng con đang thật sự cần Ngài, vì Ngài là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống.
Trương Đình Hiền
Đằng sau câu trả lời là một trời hy vọng
Dẫn nhập đầu lễ :
Chúng ta họp nhau trong ngày Chúa Nhật nầy phải chăng là để cùng nhau ôn lại bài học đức tin, hay đúng hơn, để một lần nữa trả lời lại câu hỏi của chính Chúa Giêsu : “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”.
Cho dù đã có sẵn câu trả lời đúng phóc 100% của Phêrô : “Thầy là Đức Kitô”, thì một niềm tin đích thực, một câu trả lời đúng nghĩa của người môn đệ Đức Kitô hôm nay, dĩ nhiên không phải là chuyện cứ lặp lại thuộc lòng câu trả lời của Thánh Phêrô như một điệp khúc, như một công thức, một tín điều… là đủ, mà đằng sau câu trả lời đó là cả một cuộc dấn thân phục vụ Tin Mừng đầy nhiêu khê và anh hùng, một cuộc lên đường làm chứng cho Chúa Kitô trong đắng cay và thập giá. Và đó chính là sứ điệp phụng vụ được đề nghị cho cộng đoàn và cho mỗi người chúng ta hôm nay.
Giờ đây, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành …
Giảng Lời Chúa :
Thế giới trong năm vừa qua, đặc biệt trong lãnh vực văn học và điện ảnh, đã sôi động hẳn lên với cuốn tiểu thuyết trinh thám dã tưởng cùng với bộ phim mang tên “Mật Mã Da Vinci” của nhà văn Dan Brown. Sự kiện văn học và nghệ thuật thứ bảy nầy đã thu hút sự quan tâm của cả thế giới, đặc biệt thế giới Kitô giáo, một thế giới mà có thể nói được, là chính đối tượng để cuốn tiểu thuyết của Dan Brown kết án và phủ nhận cách trơ trẻn, với đầy luận cứ lịch sử và khoa học ngụy biện. Đây không phải là lần đầu tiên Chúa Giêsu trở thành đối tượng cho sự báng bổ và xúc phạm. Mấy chục năm về trước, Ngài đã từng bị lột trần xúc phạm như một kẻ phàm phu tục tử trong tác phẩm tiểu thuyết “Cơn cám dỗ cuối cùng” của Nikos Kazant-zakis…Thì ra, Giêsu Na-da-rét, sau 2000 năm, vẫn còn sống mãi giữa lịch sử nhân loại. Nói cách khác, Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn còn là một vấn nạn cho muôn con người, một vấn nạn mà chính Ngài đã đặt ra cho các môn sinh cách đây 2000 năm trước : “Phần các con, các con bảo Thầy là ai ?”.
Đức tin của chúng ta, đức tin của người Kitô hữu, phải chăng chính là câu trả lời dứt khoát và thường xuyên cho vấn nạn đó.
1. Đức tin : một lời đáp, một câu trả lời thiết yếu :
Quả thật, trong đời sống, có những câu trả lời thật quan trọng, ảnh hưởng trên toàn bộ vận mệnh của cả một dân tộc, của cả một đời người. Chỉ một câu trả lời “không” của Nhật Hoàng trước đề nghị đầu hàng vô điều kiện của phe Đồng Minh, hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật bị tiêu hủy bởi hai quả bom nguyên tử của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Bởi một câu trả lời của con gái bà Herodia : “Con muốn đầu Gioan Tẩy Giả…”, lập tức cuộc đời của nhà đại tiên tri của cựu ước bị xóa sổ ! Trong những ngày vừa qua toàn thế giới đang như nín thở chờ đợi câu trả lời của Nhà nước I-Ran đối với Liên-Hiệp-quốc về vấn đề hạt nhân. Chỉ cần môt câu trả lời “chấp thuận ngưng lại việc làm giàu chất uranium”, ngưng lại việc nghiên cứu hạt nhân…” hàng triệu trẻ em I-ran sẽ không còn thiếu dinh dưỡng, hàng triệu người dân nghèo I-ran sẽ được no cơm ấm áo…vì hàng rào cấm vận được tháo dỡ.
Trong lãnh vực niềm tin, có thật sự câu trả lời cho vấn nạn : “Thầy là ai” là cần thiết ?
Nếu quả thật, câu trả lời cho vấn nạn đó chỉ là một cụm từ, một mệnh đề, cho dù là một cụm từ hay mệnh đề hoa mỹ, trau chuốt, nhưng không liên hệ gì đến con người, đến lịch sử nhân loại, đến vận mệnh cuộc đời, đến sự sống sự chết…thì quả thật câu trả lời đó chả cần thiết, và cũng chẳng đáng phải quan tâm.
Để hiểu tầm quan trọng của vấn nạn Chúa Giêsu đặt ra cho các môn sinh và tính quan trọng, nghiêm túc tuyệt đối cần thiết của câu trả lời của thánh Phêrô, chúng ta hãy trở về khung cảnh diễn ra câu vấn nạn và trả lời trên cách đây 2000 năm về trước :
Vùng đất Xêdarê Philipphê hoàn toàn nằm ngoài ranh giới xứ Galilê, không thuộc lãnh thổ của Hêrôđê, nhưng là đất thuộc về Philipphê. Đây là một thành phố có lịch sử ly kỳ. Từ thời xưa nó được gọi là Balias, vì nó từng là trung tâm quan trọng cho việc thờ thần Baan. Ngày nay, nó hãy còn được gọi là Banias vốn từ hình thức của Panias. Sở dĩ nó có tên Panias bởi trên một sườn đồi tại đấy có một hang đá mà người ta bảo là chỗ sinh của Pan, thần sáng tạo cõi thiên nhiên của dân Hylạp. Hơn nữa từ một hốc đá bên sườn đồi ấy lại phát xuất một dòng suối mà người ta cho rằng đó là nguồn phát sinh của sông Giođan. Cao hơn trên sườn đồi, sừng sững một đền thờ sáng chói bằng đá trắng, Philipphê đã xây để thờ thần tính của Xêda, hoàng đế Lamã, người đang trị vì thế giới thời ấy, người được xem như một vị thần. Có thể nói đựoc rằng, từ nơi đây, bầu không khí tôn giáo cổ xưa bao trùm xứ Paletin: những kỷ niệm về Baan được nhìn thấy khắp nơi. Các thần của thế giới cổ Hylạp cũng ngự trị tại đó, người ta vẫn như còn nghe tiếng sáo của thần Pan, và còn thoáng thấy các nữ thần sống trong các khu rừng. Sông Giođan chắc gợi cho người ta nhớ lại từng giai đoạn trong lịch sử dân Israel và việc chinh phục xứ ấy. Và đưới ánh sáng mặt trời từ phương Đông, đền thờ bằng đá trắng đang phản chiếu đó như nhắc nhở mọi người rằng Xêda là một vị thần.
Chính trong cái không gian đa thần và tín ngưỡng hổ lốn ấy, Chúa Giêsu đặt vấn nạn về thái độ tín ngưỡng của dân chúng và của riêng các môn sinh về chính Ngài : “Thầy là ai ?”. Làm sao một Phêrô cục mịch dốt nát, trong bối cảnh “mê tín” như thế, lại trả lời một câu như một lời tuyên tín gãy gọn, chính xác, về một anh chàng thợ mộc đến từ Na-da-rét : “Thầy là Đức Kitô”. Chúng ta chỉ hiểu được : đó chính là câu trả lời của niềm tin như chính Đức kitô nhận xét : “Nầy anh Simon con ông Gio-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17).
Trong một thế giới “vàng thau lãn lộn”, một thế giới đang trưng bày không biêt bao nhiêu “thần tượng” trên bệ thờ của tri thức kiêu căng và não trạng hưởng thụ : thần tiền bạc, thần quyền lực chính trị, thần dục vọng, thần sắc đẹp, thần kỷ thuật tiên tiến, thần võ khí hiện đại, thần kinh tế bá chủ, thần năng lượng, thần khủng bố…thì quả thật, câu hỏi “Thầy là ai” vẫn rất cần thiết được đặt ra cho mỗi người kitô hữu chúng ta và cho những ai còn thao thức và trăn trở đi tìm chân thiện mỹ. Và dĩ nhiên, điều quan trọng không kém chính là câu trả lời.
Thật vậy, vào chính thời điểm câu hỏi đó đặt ra, thì đối với những con người như vua Hêrôđê, như quan tổng trấn Philatô, như các bậc đại gia ăn trên ngồi trước và chức quyền đạo đời ung dung bề thế ở thủ đô Giêrusalem, với vợ đẹp con khôn, với tiền bạc và phương tiện dồi dào… thì “Thầy là ai” mặc kệ Thầy, có liên quan gì đến họ, miễn là đừng làm gì ảnh hưởng đến sự an toàn của họ, vị thế chính trị của họi, sự hưởng thụ của họ. Nếu có, coi chừng họ sẽ loại trừ Thầy như nhỗ một cái đinh.
Tuy nhiên, cũng trong thời điểm đó, câu trả lời “Thầy là ai” lại tuyệt đối quan trọng và cần thiết cho rất nhiều người : là những thân phận khố rách áo ôm, những kẻ què mù đuôi điếc, những người phong cùi, những người đỉ điếm, những kẻ bị loại trừ và cách ly vì hành nghề thu thuế…Tất cả họ là những người đang dõi mắt trông chờ ngày hiện thực của những lời sấm ngôn thuở trước về một Đấng Kitô như : “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Ngài đã xức dầu tấn phong tôi để tôi đem Tin mừng cho kẻ nghèo…”. Với họ, niềm hy vọng duy nhất khi câu trả lời : “Thầy là Đức Kitô,” sẽ biến thành hiện thực. Vì nếu phải là Đấng Kitô thì : Kẻ mù mới hy vọng được sáng mắt, kẻ què mới hy vọng nhảy cửng lên như nai, kẻ phung hủi bị đọa đầy cách ly ngoài hoang mạc mới có cơ may trở về sống kiếp con người, kẻ lầm đường lạc lối như Maria-Mađalêna, Giakê, Matthêu… mới còn sinh lộ làm lại cuộc đời, và kẻ chết như con trai bà góa Naim, như Lazarô ở Bêtania mới có ngày được thấy lại mặt trời sự sống…
Và suốt 2000 năm nay, có hàng hàng lớp người nhờ câu trả lời như thế mà tìm được ý nghĩa cho cuộc đời, tìm được hạnh phúc đích thực. Và nhất là thế giới đã, đang và sẽ mãi mãi cần Ngài, Đức kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, vì :
- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để thế giới hôm nay hòa bình hơn, huynh đệ hơn khi nhờ Thầy mà nhân loại nhận ra mình là con cái Thiên Chúa và là anh em một nhà.
- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để những giá trị tinh thần được thăng hoa, để hạnh phúc các gia đình được thiết định trên nền tảng Tin Mừng, để tình yêu hôn nhân được liên kết và vững bền bằng giao ước thánh, để thiếu nhi được chăm sóc yêu thương và giáo dục, để người trẻ sống có lý tưởng và can đảm dấn thân xây dựng nền văn minh tình thương và sự sống, để những người già được yêu thương và kính trọng…
- Thầy phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống để người giàu biết sẻ chia, người nghèo biết khiêm nhu đón nhận, kẻ bịnh hoạn tật nguyền luôn mỉm cười hy vọng được ủi an, người tội lỗi biết mở lòng sám hối để làm lại cuộc đời…
Vâng, câu trả lời “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” không chỉ để trả lời một vấn nạn mà là một tuyên xưng niềm tin, một xác tín, một niềm hy vọng ngút ngàn, một tiếng kêu òa vỡ của hạnh phúc và niềm vui khi chợt khám phá ra “Nước Trời đang đến”, ơn cứu độ đã được trao ban, Thiên Chúa đã nhập thể và đang đồng hành cùng nhân loại. Quả thật, đằng sau câu trả lời là một trời hy vọng đã mở ra !
2. Đức tin : lời đáp trả đòi hỏi phải dấn thân lên đường
Tuy nhiên, đó lại là môt câu trả lời kèm theo một đòi hỏi phải dấn thân chọn lựa. Ở đây, chính là chọn lựa đi con đường thập giá mà Đức Kitô đã đi qua để cứu chuộc muôn người. Khước từ con đường nầy, chọn lựa này chính là sự thỏa hiệp với Satan, là chắp cánh cho sự dữ, là ngăn cản công trình của Thiên Chúa. Phêrô mới vừa được khen tặng trước đó với câu trả lời xuất thần “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, lại bị quở trách thật nặng lời kế liền sau đó cũng chỉ vì muốn tránh né con đường và chọn lựa nầy : “Satan, lui lại đằng sau Thầy ! vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà là của loài người”. Tuy nhiên, cuối cùng tại thủ đô Rôma của đế quốc La mã, Phêrô đã viết lại nguyên vẹn câu trả lời hôm xưa tại vùng Cê-sa-rê Philip bằng chính chọn lựa nghiêm túc của mình : chịu đóng đinh ngược đầu xuống đất để trung thành trọn vẹn với chính Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng mà Ngài phụng sự, yêu mến và loan báo không mệt mõi.
Cũng như Phêrô ngày xưa, hôm nay rất nhiều người trong chúng ta có thể trả lời câu hỏi đó của Chúa Giêsu một cách gọn ghẽ, ngon ơ. Tuy nhiên, cũng như Phêrô, sẽ có không ít người tránh né chọn lựa con đường thập giá, khước từ chọn lựa những đòi hỏi dấn thân anh hùng và gian khổ của Tin Mừng để uốn mình nô lệ cho những giàu sang và đam mê thế tục. Để minh họa cho ý nghĩa nầy, xin hãy nghe một người kể lại giấc mơ của mình :
Tối hôm qua, tôi mơ thấy mình đang cầu nguyện, bỗng chốc một luồng ánh sáng xuất hiện; trong ánh sáng huy hoàng đó, tôi nhận ra Chúa Giêsu đang đứng trước mặt tôi, Ngài mỉm cười nhìn tôi và nói:”Con hãy đến ngồi trên tấm thảm này với Ta”. Lòng tràn đầy vui sướng, tôi tiến lại gần bên Chúa và ngồi xuống tấm thảm bên cạnh Ngài. Tấm thảm từ từ bay bổng lên không trung đưa theo Chúa Giêsu và tôi ngồi trên đó. Tôi mỉm cười, lòng đầy vui sướng và tự nhủ: thật không còn gì hạnh phúc cho bằng được ở gần bên Chúa.
Một lúc sau, tôi quay nhìn Chúa Giêsu để bày tỏ niềm vui của tôi; thế nhưng tim tôi bắt đầu đập mạnh, vì tôi có cảm tưởng như Chúa Giêsu không còn bận tâm đến tôi nữa, bởi lẽ Ngài đang chăm chú rút từng sợi chỉ của tấm thảm, chẳng mấy chốc tấm thảm chỉ còn lại phân nửa. Hết sợi chỉ này đến sợi chỉ khác từ từ bay lên theo gió, chân tay tôi bắt đầu run lên vì hoảng sợ, thế nhưng Chúa Giêsu vẫn thản nhiên tiếp tục rút từng sợi chỉ. Sau cùng tôi kêu lên :”Lạy Chúa, Chúa đang làm gì thế ? Chúa không thấy là chẳng còn mấy chốc nữa tấm thảm của chúng ta sẽ tan tành hay sao ?” Chúa Giêsu mỉn cười nắm lấy tay tôi và nói :”Sao con lại nhát đảm và kém lòng tin như thế? Con hãy bám chặt vào Ta, con sẽ không phải sợ gì nữa, mặc dù con sẽ bị tước đoạt hết mọi sự, cả đến sợi chỉ cuối cùng”. Chúa Giêsu vừa dứt lời, thì qủa thực sợi chỉ cuối cùng của tấm thảm cũng bị rút đi luôn, tôi giật mình thức giấc.
Chọn lựa Đức Kitô và con đường của Ngài, chính là chọn lựa những nổi bấp bênh và trắc trở, những hy sinh và từ bỏ, những tăm tối và khổ cực, và nếu cần, cả ngục tù và cái chết. Có biết bao nhiêu người đã anh hùng chon lựa như thế. Trong số đó phải kể tới 118 anh hùng Tử Đạo Việt nam được Giáo Hội tôn vinh trên bàn thờ.
Bàn Tiệc Thánh Thể hôm nay có thể nói được là một câu trả lời hiện thực nhất : “Thầy là Đức Kitô” cũng có nghĩa : “Thầy là mình máu được trao ban cho chúng con được nuôi sống hôm nay và mang mầm vĩnh cửu, Thầy là lời chân lý và tình yêu được sẻ chia để chúng con no đầy sự sống, Thầy là sự tha thứ và giao hòa để mở đường cho chúng trở về với Chúa Cha và với anh chị em…”.
Lạy chúa Giêsu, chúng con đang thật sự cần Ngài, vì Ngài là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống.
Trương Đình Hiền