Đức Maria trong cộng đoàn hiệp thông của Giáo hội
Sau những cuộc tranh luận sôi nổi và kéo dài các nghị phụ Công đồng chung Vat. II đã quyết định rằng, giáo huấn của Công đồng về Đức Maria được biên soạn như là phần kết thúc hiến chế về Giáo hội (x. LG số 8).
Với cách trình bày nầy Công đồng đã ủng hộ và khẳng định về tư tưởng điển hình học (Typologie), có nghĩa là các nghị phụ đã đồng ý quan điểm: Đức Maria là hình ảnh hay biểu hiện Giáo hội cũng được gọi là Mẹ và là Trinh nữ, một hình ảnh thường được trình bày trong Kinh thánh. Công đồng trình bày rõ ràng: “Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo hội trên bình diện Đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô. Thực vậy, trong mầu nhiệm Giáo hội, chính Giáo hội cũng được gọi cách hợp pháp là Mẹ và Trinh Nữ “ (LG 63) “Khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện kỳ diệu và noi gương bác ái của Đức Maria cũng như trung thành chu toàn thánh ý của Chúa Cha, Giáo hội vì trung thành nhận lãnh Lời Thiên Chúa, nên cũng được làm mẹ. Giáo hội cũng là trinh nữ đã giữ gìn vẹn toàn và tinh tuyền lòng trung nghĩa đã hiến cho phu quân” (LG số 64). Như Đưc Maria Giáo hội cũng nhận lãnh Lời Chúa trong Chúa Thánh Thần, cũng như Đức Maria Giáo hội tiếp tục trao ban An sủng vô giá nầy và trở thành “Mẹ” của những kẻ tin.
a) Giáo hội như cộng đoàn hiệp thông cứu độ
Giáo hội không bao giờ được hiểu chỉ như là một sự qui tụ bởi những cá nhân đạo đức, nhưng như là một cộng đoàn hiệp thông cứu độ được cấu thành trong Chúa Giêsu Kitô. Giáo hội như là thân thể Chúa Kitô hiệp thông (Koinonia) các chi thể của thân thể lại với nhau và với Chúa Kitô là đầu. Việc sống “với nhau” và “cho nhau” được hiện thực trong hành động liên đới kết đoàn và trong sự bầu cử, chuyển cầu. Sự phục vụ lẫn nhau với hồng ân đặc biệt (1 Pr 4, 10; Rom 12, 3 tt; 1 Cor 12, 26) nhằm đến việc phục vụ “xây dựng công đoàn” chính là thân thể Đức Kitô (Eph 4,12). Trong việc chia sẻ, và liên đới với nhau về nỗi khổ đau và hy vọng cũng như trong lời cầu xin của từng chi thể nhiệm thể Chúa Giêsu, đầu của Giáo hội, làm cho từng người tín hữu đạt tới sự toàn thiện và hợp nhất thân thể trong từng chi thể của Người với Người, là Đầu (Eph 4, 13 – 16). Qua cái chết của các vị Thánh tử đạo thời bình minh Kitô giáo đã chứng minh rằng, sự chết không hủy hoại mối tương quan đời sống linh thiêng của các chi thể thuộc thân thể Chúa Kitô. Hơn nữa có một sự hợp nhất giữa Giáo hội lữ hành (sancti in via) với Giáo hội trọn hảo trên trời (sancti in patria) (x. Kh 6, 9; Dt 12, 22 – 24).
Trong chương tám của Hiến chế “Lumen gentium” Công đồng đã củng cố suy tư của Giáo hội thời ban đầu và nhấn mạnh đến ý nghĩa về Đức Maria trong nhiệm cục cứu độ, đã dựa vào Kitô học và mở ra trong chiều kích Giáo hội học. Bổn phận của Đức Maria trong nhiệm cục cứu độ được phát sinh trong vai trò lịch sử cứu độ của Mẹ. Nếu vai trò của Mẹ có thể được miêu tả với những tước hiệu thời giáo hội cổ “Trạng sư, Đấng Bảo trợ, Đấng Hộ phù và Đấng trung gian” (LG, số 62), thì cũng không làm lu mờ đi sự khác biệt tự bản chất của “vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô” (LG 60). Nhờ Đức Giêsu Kitô ủy quyền, Mẹ có thể thực hiện “ảnh hưởng cứu độ” (LG 60) trên nhân loại, tuy nhiên Mẹ hoàn toàn lệ thuộc vào sự trung gian duy nhất không thể so sánh được của Đức Kitô và bởi từ nơi Người Mẹ nhận lấy năng lực của việc cộng tác vào hành vi cứu độ. Đức Maria cũng là mẫu mực (Typus) của Giáo hội trên bình diện của đức tin, đức mến và sự hợp nhất trọn hảo với Đức Kitô” (LG, số 63). Như là mẫu mực của Giáo hội, Đức Maria được diễn tả là Trinh nữ trong sự vâng phục và tin tưởng vào Thiên Chúa cũng như là Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Mẹ “cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục các tín hữu” (LG số 63).
b) Việc tôn kính Đức Maria và việc kêu cầu sự bầu chữa của Mẹ
Với sự tôn kính các Thánh, thần học công giáo hiểu thấu việc tưởng nhớ lịch sử đời sống của các ngài đã được biến đổi nhờ bởi ân sủng, lời tạ ơn Chúa đối với việc tran ban đặc sủng cho các ngài, để từ đó khuyến khích việc noi theo cuộc sống gương mẫu của các ngài và nhận thức việc thực hành hiệp thông cá nhân với tất cả từng chi thể một của cộng đoàn cứu độ trong lời khẩn cầu lên Thiên Chúa.
Nói chung Giáo hội Cải cách thống nhất với sự nhận thức của Giaó hội Công giáo. Điểm khác biệt chính yếu qui chiếu về sự nhận thức các thánh như là những Đấng trung gian và lời cầu xin sự bầu cử của các ngài. “Lời cầu xin các Thánh” trên cùng lãnh vực được xem giống như lời khẩn cầu, van xin cùng Thiên Chúa và như thế đưa đến sự hiểu lầm. Vì thế người ta nhìn thấy bóng mờ bao phủ lên tác quyền cứu độ duy nhất của Thiên Chúa, hay nói cách khác “việc kêu cầu các Thánh” đã làm giảm nhẹ thẩm quyền cứu độ của Thiên Chúa. Trong khi đó việc mong đợi ơn cứu độ duy nhất chỉ có thể trông cậy vào Thiên Chúa và trông chờ sự giao hoà bởi Người mà thôi. Ơn cứu độ chỉ phát xuất từ lòng nhân hậu của Thiên Chúa, chứ không bởi lời cầu xin và bởi công nghiệp của các Thánh, những Đấng phải nại đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Theo Lutherô, người ta đã biến Đức Maria thành “Ngẫu tượng” (1), do đó người ta coi Đức Giêsu Kitô như là một vị thẩm phán nghiêm khắc và chạy đến với Đức Maria Mẹ diụ hiền như là nơi ẩn trú của họ (2)
Việc tôn kính và kêu cầu các Thánh chỉ có thể hiểu một cách đúng đắn, nếu luận cứ thần học và việc thực hành của việc tôn kính đó được trình bày trong phạm vi Giáo hội học chứ không trong Cứu chuộc học.
Epiphanius thành Salamis nhắc đến hai chiều hướng làm sai lạc về vai trò và lòng tôn kính đối Đức Maria: Những người phủ nhận sự đồng trinh của Đức Maria (Antidicomarianites) chống lại biểu thức tuyên tín về Đức Maria và việc tôn kính Đức Maria, trong khi những người ủng hộ sự đồng trinh của Đức Maria (Philomarianites) thì tôn kính Đức Maria một cách công khai như là “Bà Chúa” và do đó đã phá bỏ sự khác biệt bản thể giữa Thiên Chúa và con người, giữa hành vi cứu chuộc của Thiên Chúa trong Đức Kitô và sự cộng tác theo khả năng của thụ tạo nhờ bởi ân sủng nhằm diễn đạt chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa (3)
Dựa vào công đồng Nicea II 787 (DH 601) và Công đồng Tridentinô 1563 (DH 1821), Công đồng Vat. II đã phân biệt hành vi thờ phượng, chỉ dành riêng cho Thiên Chúa, và hành vi tôn kính, dành riêng cho các Thánh nhân, những Đấng biểu lộ ân sủng của Thiên Chúa.
Đức tin Công giáo chứng thực rằng: Các Thánh trên trời được kêu cầu, các ngài cũng cầu xin cho chúng ta, việc tôn kính nầy không phải là tôn thờ ngẫu tưông và hoàn toàn cũng không mâu thuẫn với vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô:
“Các Thánh, những Đấng hiển thắng với Đức Kitô, trình bày lời cầu xin của các ngài lên trước thanh nhan Thiên Chúa; điều tốt và có ích khi chạy đến kêu cầu với các ngài, cầu nguyện với các ngài, van xin sự bầu cử và bảo trợ của các ngài, để Thiên Chúa trao ban hồng ân nhờ Con của Người, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng cứu chuộc và cứu độ duy nhất của chúng ta” (DH 1821).
Công đồng Vat. II cũng khuyến cáo các tín hữu coi chừng làm sai lạc gía trị của việc tôn kính Đức Maria, như phóng đại việc tôn sùng Đức Maria. Việc tôn kính nầy phải tuân thủ những quyết định của hàng Giáo phẩm, sự hướng dẫn của Giáo hội về việc tôn kính Đức Maria trong Phụng vụ, cũng như trong lãnh vực thuộc lòng đạo đức bình dân (x. LG số 67):
“ Nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria được tôn vinh, sau Con mình, vượt trên hết các thiên thần và loài người, vì Ngài là Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, và đã tham dự vào các mầu nhiệm của Đức Kitô, do đó Ngài đáng được Giáo hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính …..
Nhất là từ Công đồng Ephêsô, Dân Thiên Chúa đã gia tăng lòng tôn kính Đức Maria cách lạ lùng: họ sùng kính mến yêu, cầu khẩn và noi gương đúng như lời Ngài đã tiên báo: ‘muôn đời sẽ khen tôi có phúc, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc trọng đại’ (Lc 1, 48 – 49). Sự tôn kính ấy như luôn có trong Giáo hội, tuy hoàn toàn đặc biệt, nhưng tự bản chất vẫn khác biệt với sự thờ phượng dâng lên Ngôi Lời Nhập thể và lên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, việc tôn kính Đức Maria còn khuyến kích thêm việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo hội đã chấp nhận nhiều hình thức tôn sùng Mẹ Thiên Chúa trong giới hạn của giáo lý lành mạnh và chính thống, tùy theo hoàn cảnh, thời gian và nơi chốn, hợp với tính khí cùng tinh thần của tín hữu; những hình thức ấy, qua việc tôn vinh Mẹ, cũng làm cho tín hữu nhận biết yêu mến, làm vinh danh, và tuân giữ giới răn Chúa Con, vì Người muôn vật được tạo thành (x. Col 1, 15 – 16) và theo ý muốn của Chúa Cha hằng hữu tất cả sự viên mãn ngự ở trong Người (Col 1, 19).” (LG, số 66).
1) M. Luther: Werke. Kritische Gesamtausgabe, 30 / II, Weimar 1883, 348
(2) X. M. Luther, WA 30 / III 312.
(3) Epiphanius Salamis, Adversus haereses 78; 79.
Sau những cuộc tranh luận sôi nổi và kéo dài các nghị phụ Công đồng chung Vat. II đã quyết định rằng, giáo huấn của Công đồng về Đức Maria được biên soạn như là phần kết thúc hiến chế về Giáo hội (x. LG số 8).
Với cách trình bày nầy Công đồng đã ủng hộ và khẳng định về tư tưởng điển hình học (Typologie), có nghĩa là các nghị phụ đã đồng ý quan điểm: Đức Maria là hình ảnh hay biểu hiện Giáo hội cũng được gọi là Mẹ và là Trinh nữ, một hình ảnh thường được trình bày trong Kinh thánh. Công đồng trình bày rõ ràng: “Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo hội trên bình diện Đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô. Thực vậy, trong mầu nhiệm Giáo hội, chính Giáo hội cũng được gọi cách hợp pháp là Mẹ và Trinh Nữ “ (LG 63) “Khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện kỳ diệu và noi gương bác ái của Đức Maria cũng như trung thành chu toàn thánh ý của Chúa Cha, Giáo hội vì trung thành nhận lãnh Lời Thiên Chúa, nên cũng được làm mẹ. Giáo hội cũng là trinh nữ đã giữ gìn vẹn toàn và tinh tuyền lòng trung nghĩa đã hiến cho phu quân” (LG số 64). Như Đưc Maria Giáo hội cũng nhận lãnh Lời Chúa trong Chúa Thánh Thần, cũng như Đức Maria Giáo hội tiếp tục trao ban An sủng vô giá nầy và trở thành “Mẹ” của những kẻ tin.
a) Giáo hội như cộng đoàn hiệp thông cứu độ
Giáo hội không bao giờ được hiểu chỉ như là một sự qui tụ bởi những cá nhân đạo đức, nhưng như là một cộng đoàn hiệp thông cứu độ được cấu thành trong Chúa Giêsu Kitô. Giáo hội như là thân thể Chúa Kitô hiệp thông (Koinonia) các chi thể của thân thể lại với nhau và với Chúa Kitô là đầu. Việc sống “với nhau” và “cho nhau” được hiện thực trong hành động liên đới kết đoàn và trong sự bầu cử, chuyển cầu. Sự phục vụ lẫn nhau với hồng ân đặc biệt (1 Pr 4, 10; Rom 12, 3 tt; 1 Cor 12, 26) nhằm đến việc phục vụ “xây dựng công đoàn” chính là thân thể Đức Kitô (Eph 4,12). Trong việc chia sẻ, và liên đới với nhau về nỗi khổ đau và hy vọng cũng như trong lời cầu xin của từng chi thể nhiệm thể Chúa Giêsu, đầu của Giáo hội, làm cho từng người tín hữu đạt tới sự toàn thiện và hợp nhất thân thể trong từng chi thể của Người với Người, là Đầu (Eph 4, 13 – 16). Qua cái chết của các vị Thánh tử đạo thời bình minh Kitô giáo đã chứng minh rằng, sự chết không hủy hoại mối tương quan đời sống linh thiêng của các chi thể thuộc thân thể Chúa Kitô. Hơn nữa có một sự hợp nhất giữa Giáo hội lữ hành (sancti in via) với Giáo hội trọn hảo trên trời (sancti in patria) (x. Kh 6, 9; Dt 12, 22 – 24).
Trong chương tám của Hiến chế “Lumen gentium” Công đồng đã củng cố suy tư của Giáo hội thời ban đầu và nhấn mạnh đến ý nghĩa về Đức Maria trong nhiệm cục cứu độ, đã dựa vào Kitô học và mở ra trong chiều kích Giáo hội học. Bổn phận của Đức Maria trong nhiệm cục cứu độ được phát sinh trong vai trò lịch sử cứu độ của Mẹ. Nếu vai trò của Mẹ có thể được miêu tả với những tước hiệu thời giáo hội cổ “Trạng sư, Đấng Bảo trợ, Đấng Hộ phù và Đấng trung gian” (LG, số 62), thì cũng không làm lu mờ đi sự khác biệt tự bản chất của “vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô” (LG 60). Nhờ Đức Giêsu Kitô ủy quyền, Mẹ có thể thực hiện “ảnh hưởng cứu độ” (LG 60) trên nhân loại, tuy nhiên Mẹ hoàn toàn lệ thuộc vào sự trung gian duy nhất không thể so sánh được của Đức Kitô và bởi từ nơi Người Mẹ nhận lấy năng lực của việc cộng tác vào hành vi cứu độ. Đức Maria cũng là mẫu mực (Typus) của Giáo hội trên bình diện của đức tin, đức mến và sự hợp nhất trọn hảo với Đức Kitô” (LG, số 63). Như là mẫu mực của Giáo hội, Đức Maria được diễn tả là Trinh nữ trong sự vâng phục và tin tưởng vào Thiên Chúa cũng như là Mẹ Chúa Giêsu Kitô, Mẹ “cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục các tín hữu” (LG số 63).
b) Việc tôn kính Đức Maria và việc kêu cầu sự bầu chữa của Mẹ
Với sự tôn kính các Thánh, thần học công giáo hiểu thấu việc tưởng nhớ lịch sử đời sống của các ngài đã được biến đổi nhờ bởi ân sủng, lời tạ ơn Chúa đối với việc tran ban đặc sủng cho các ngài, để từ đó khuyến khích việc noi theo cuộc sống gương mẫu của các ngài và nhận thức việc thực hành hiệp thông cá nhân với tất cả từng chi thể một của cộng đoàn cứu độ trong lời khẩn cầu lên Thiên Chúa.
Nói chung Giáo hội Cải cách thống nhất với sự nhận thức của Giaó hội Công giáo. Điểm khác biệt chính yếu qui chiếu về sự nhận thức các thánh như là những Đấng trung gian và lời cầu xin sự bầu cử của các ngài. “Lời cầu xin các Thánh” trên cùng lãnh vực được xem giống như lời khẩn cầu, van xin cùng Thiên Chúa và như thế đưa đến sự hiểu lầm. Vì thế người ta nhìn thấy bóng mờ bao phủ lên tác quyền cứu độ duy nhất của Thiên Chúa, hay nói cách khác “việc kêu cầu các Thánh” đã làm giảm nhẹ thẩm quyền cứu độ của Thiên Chúa. Trong khi đó việc mong đợi ơn cứu độ duy nhất chỉ có thể trông cậy vào Thiên Chúa và trông chờ sự giao hoà bởi Người mà thôi. Ơn cứu độ chỉ phát xuất từ lòng nhân hậu của Thiên Chúa, chứ không bởi lời cầu xin và bởi công nghiệp của các Thánh, những Đấng phải nại đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Theo Lutherô, người ta đã biến Đức Maria thành “Ngẫu tượng” (1), do đó người ta coi Đức Giêsu Kitô như là một vị thẩm phán nghiêm khắc và chạy đến với Đức Maria Mẹ diụ hiền như là nơi ẩn trú của họ (2)
Việc tôn kính và kêu cầu các Thánh chỉ có thể hiểu một cách đúng đắn, nếu luận cứ thần học và việc thực hành của việc tôn kính đó được trình bày trong phạm vi Giáo hội học chứ không trong Cứu chuộc học.
Epiphanius thành Salamis nhắc đến hai chiều hướng làm sai lạc về vai trò và lòng tôn kính đối Đức Maria: Những người phủ nhận sự đồng trinh của Đức Maria (Antidicomarianites) chống lại biểu thức tuyên tín về Đức Maria và việc tôn kính Đức Maria, trong khi những người ủng hộ sự đồng trinh của Đức Maria (Philomarianites) thì tôn kính Đức Maria một cách công khai như là “Bà Chúa” và do đó đã phá bỏ sự khác biệt bản thể giữa Thiên Chúa và con người, giữa hành vi cứu chuộc của Thiên Chúa trong Đức Kitô và sự cộng tác theo khả năng của thụ tạo nhờ bởi ân sủng nhằm diễn đạt chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa (3)
Dựa vào công đồng Nicea II 787 (DH 601) và Công đồng Tridentinô 1563 (DH 1821), Công đồng Vat. II đã phân biệt hành vi thờ phượng, chỉ dành riêng cho Thiên Chúa, và hành vi tôn kính, dành riêng cho các Thánh nhân, những Đấng biểu lộ ân sủng của Thiên Chúa.
Đức tin Công giáo chứng thực rằng: Các Thánh trên trời được kêu cầu, các ngài cũng cầu xin cho chúng ta, việc tôn kính nầy không phải là tôn thờ ngẫu tưông và hoàn toàn cũng không mâu thuẫn với vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô:
“Các Thánh, những Đấng hiển thắng với Đức Kitô, trình bày lời cầu xin của các ngài lên trước thanh nhan Thiên Chúa; điều tốt và có ích khi chạy đến kêu cầu với các ngài, cầu nguyện với các ngài, van xin sự bầu cử và bảo trợ của các ngài, để Thiên Chúa trao ban hồng ân nhờ Con của Người, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng cứu chuộc và cứu độ duy nhất của chúng ta” (DH 1821).
Công đồng Vat. II cũng khuyến cáo các tín hữu coi chừng làm sai lạc gía trị của việc tôn kính Đức Maria, như phóng đại việc tôn sùng Đức Maria. Việc tôn kính nầy phải tuân thủ những quyết định của hàng Giáo phẩm, sự hướng dẫn của Giáo hội về việc tôn kính Đức Maria trong Phụng vụ, cũng như trong lãnh vực thuộc lòng đạo đức bình dân (x. LG số 67):
“ Nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria được tôn vinh, sau Con mình, vượt trên hết các thiên thần và loài người, vì Ngài là Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, và đã tham dự vào các mầu nhiệm của Đức Kitô, do đó Ngài đáng được Giáo hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính …..
Nhất là từ Công đồng Ephêsô, Dân Thiên Chúa đã gia tăng lòng tôn kính Đức Maria cách lạ lùng: họ sùng kính mến yêu, cầu khẩn và noi gương đúng như lời Ngài đã tiên báo: ‘muôn đời sẽ khen tôi có phúc, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc trọng đại’ (Lc 1, 48 – 49). Sự tôn kính ấy như luôn có trong Giáo hội, tuy hoàn toàn đặc biệt, nhưng tự bản chất vẫn khác biệt với sự thờ phượng dâng lên Ngôi Lời Nhập thể và lên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, việc tôn kính Đức Maria còn khuyến kích thêm việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo hội đã chấp nhận nhiều hình thức tôn sùng Mẹ Thiên Chúa trong giới hạn của giáo lý lành mạnh và chính thống, tùy theo hoàn cảnh, thời gian và nơi chốn, hợp với tính khí cùng tinh thần của tín hữu; những hình thức ấy, qua việc tôn vinh Mẹ, cũng làm cho tín hữu nhận biết yêu mến, làm vinh danh, và tuân giữ giới răn Chúa Con, vì Người muôn vật được tạo thành (x. Col 1, 15 – 16) và theo ý muốn của Chúa Cha hằng hữu tất cả sự viên mãn ngự ở trong Người (Col 1, 19).” (LG, số 66).
1) M. Luther: Werke. Kritische Gesamtausgabe, 30 / II, Weimar 1883, 348
(2) X. M. Luther, WA 30 / III 312.
(3) Epiphanius Salamis, Adversus haereses 78; 79.