TIN VÀ SỐNG ĐỨC TIN CN 24 TN B
Sau khi đã thăm dò dư luận, Đức Giêsu trắc nghiệm các môn đệ: “Còn các con bảo Thầy là ai? Chúng ta đã có câu trả lời của Thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống”. Tôi nghĩ rằng nếu Chúa Giêsu có mặt một hôm nay, Người sẽ đặt thêm một câu hỏi nữa: “Đối với các bạn, người Kitô hữu là ai?”
Lời Chúa của Chúa Nhật này cho chúng ta câu trả lời chính xác về câu hỏi đó.
1. Trước hết người Kitô hữu Tin vào Đức Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ
Đó là niềm xác tín nền tảng đức tin của chúng ta. Đức Kitô không chỉ là một con người bình thường, không chỉ là một tiên tri như mọi tiên tri mà Dân chúng đã quan niệm, nhưng Người là “Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống”, đúng như lời tuyên tín của Thánh Phêrô, nghĩa là Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát của nhân loại. Làm người kitô hữu trước hết là người TIN vào Đức Kitô đúng như Người “LÀ”, không được thêm, không được bớt mặc khải của Thiên Chúa. Và như thánh Phaolô nói: Ai tin thì được cứu độ.
Nhưng tin ở đây không chỉ là tuân giữ một số điều luật của Giáo hội, không có nghĩa là hiểu biết một số chân lý, lý thuyết và giáo lý về Chúa. Trái lại, tin có nghĩa là sống gần gủi, gặp gỡ, gắn bó mật thiết với Đức Kitô mỗi ngày, trong mỗi biến cố cuộc sống, như với một người bạn thân (Jesus is my best friend). Tôi sống là sống “với, vì và cho” Đức Kitô và Đức Kitô sống trong tôi. Đó là một đức tin trưởng thành và mang tính cá vị. Đó là một đức tin mà Chúa chờ đợi mỗi người kitô hữu.
2. Điều kiện để làm người Kitô hữu
“Ai muốn theo Ta, thì hãy từ bỏ chính mình, và vác thập giá mỗi ngày mà theo ta”. Đây là lời khẳng đình từ môi miệng Chúa. Lời này tóm tắt tất cả mọi điều kiện để làm người Kitô hữu. Chúng ta cần dừng lại để phân tích câu nói này: “Ai muốn theo Ta”: Đấy là một lời mời gọi Chúa ngõ với hết mọi người, từ già đến trẻ, từ giáo dân đến giáo hoàng. Điều kiện trước hết của việc “theo” đó là: “hãy bỏ mình”. Tại sao phải bỏ mình?
Bỏ mình ở đây không có nghĩa là bỏ hết những khả năng, tài cán, và nghị lực… của chúng ta. Nhưng là bỏ chính cái TÔI vị kỷ của ta. “Bỏ mình” là không còn quá chú trọng đến mình, không còn tập trung mọi sự về mình, không biến mình là trung tâm của vũ trụ và chú ý của người khác. Nhưng chỉ hướng “mình” về với Chúa, Chúa là trung tâm đời mình, không còn ai khác. Trong chiều hướng đó, Cái Tôi xuất hiện như “hòn đá vấp chân”, cản trở chúng ta. Kinh nghiệm cho thấy, thắng được “THẰNG TÔI” là thắng được kẻ thù lớn nhất. Chính vì thế, Chúa mời gọi là hãy bỏ mình, cũng như Đức Phật mời gọi môn sinh: muốn được giải thoát thì hãy diệt dục.
3. Đức Tin thể hiện bằng việc làm
Thánh Giacôbê ở bài đọc II nói rất hay về tương quan giữ TIN và SỐNG đức tin: “Đức tin không việc làm là Đức tin chết tận gốc rễ”. Rõ ràng là Tin trong lòng và tuyên xưng ngoài miệng thôi chưa đủ: như Đọc kinh, đi lễ, rước lễ, chịu các bí tích.., nhưng phải thể hiện đức tin đó bằng việc làm. Chúng ta phải thể hiện như thế nào? Thánh Giacôbê cho chúng ta một hướng dẫn rất thích hợp: “Nếu có anh chị em nào không cơm ăn áo mặc, mà có kẻ trong anh chị em lại bảo rằng: “chúc anh chị em đi bình an, và ăn no mặc ấm” mà anh chị em lại không cho họ những gì cần dùng cho thân xác, thì nào có ích gi?”. Việc làm đó chính là lòng bác ái, cảm thông, chia sẽ với tha nhân, và nhất là với người đau khổ. Đó là con đường từ nhà thờ về nhà mình, từ nhà mình tới công sở, con đường đó không có “đèn xanh đèn đỏ” để dừng lại, nhưng là liên tục và nối dài.
Như thế, làm người kitô hữu là người tin vào Đức Kitô và có Chúa Kitô trong đời, và cùng với Người hướng tới tha nhân. Đó là một cuộc sống phong phú và hạnh phúc khi được làm người kitô hữu!
Lạy Chúa, xin giúp con luôn ý thức được sự cao quí của người kitô hữu, xin Chúa giúp con Tin Chúa cách vững vàng, và cùng với Chúa vác thập giá mình mỗi ngày, cùng với Chúa con đến với tha nhân bằng một con tim rộng mở, chia sẻ và cảm thông.
Chúa Nhật XXIV Mùa Thường Niên
Ðức tin và những hành động của đức tin ! Gc 2,14-18
« Tôi phải làm thế nào để được hưởng lòng khoan nhân của Thiên Chúa ? » Ðây là một câu hỏi không những đang làm bận tâm nhiều người ngày nay, nhưng nó đã là mối trăn trở vào Thời Kỳ Tân Ðại (New Age) cách đây trên 500 năm rồi. Martin Luther, một Thầy Dòng Augustiner ở Wittenberg (CHLB Ðức), đã luôn luôn bị câu hỏi trên ám ảnh; Nó đã đưa đẩy ông đến chỗ hoài nghi cùng độ, nhất là hoài nghi trước tất cả những cách thực hành lòng đạo đức vào lúc bấy giờ. Ông ta đã quan sát những người đồng thời với ông cố tìm cách làm sao để được Chúa thương xót : từ cách thức làm những việc lành đạo đức cho tới việc mua bán các ân xá để được hưởng sự giảm nhẹ các hình phạt do tội lỗi gây ra. Ðó là nguyên nhân chính khiến ông đi đến chỗ cực đoan : « Con người được nên công chính hóa nhờ đức tin chứ không do các việc lành mình làm ». Với sự khám phá mới đó của mình, Luther đã nghiên cứu Thánh Kinh để tìm hậu thuẩn cho sự cảm nghiệm đó của ông : Ông đã tìm gặp được sự hậu thuẫn đó trước hết nơi các văn bản của thánh Phaolô. Trái lại các Thư của thánh Giacôbê mà chúng ta đã được nghe một đoạn trong Bài Ðọc hôm nay, Luther đã chối bỏ và cho là thuộc « loại văn thư rơm rạ » không có giá trị.
Với cách thức trình bày của mình, Thư Giacôbê bị Luther gạt bỏ. Nói cách khác, Thư Giacôbê đã không đồng quan điểm với sự khám phá đầy xác tín của Luther, là : « con người được công chính hóa nhờ vào đức tin, chứ không do các việc lành con ngưòi đã làm ». Trong khi Thư Giacôbê đòi hỏi đức tin không chỉ thuần túy là một ý niệm suông, nhưng cần phải được cụ thể hoá bằng việc làm : « Nếu ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? » (Gc 2,14). Tác giả của Thư Giacôbê đã suy niệm một cách sâu xa sự liên hệ mật thiết giữa đức tin và việc làm. Một đức tin mà không tự biểu lộ ra, không được linh động, thì sẽ bị mai một đi; Cái hậu quả đó đối với cả chúng ta trong thời đại ngày nay vẫn quá rõ rệt. Vâng, đức tin nếu chỉ là một ý niệm trừu tượng nội tại, là sự chấp thuận hay cảm nhận của trí khôn, là một quan điểm về vũ trụ quan, thì chắc chắn sẽ không có cơ may tồn tại. Ðức tin cần phải có mặt ngoài, cần phải được diễn tả ra, cần phải được trình bày ra bên ngoài. Chính trong việc đức tin được diễn tả hay được trình bày ra bên ngoài như thế, đức tin trở nên một điều đáng tin, đáng chấp nhận. Tác giả Thư Giacôbê đã biết rõ được sự nguy hại của một sự thuần tuý « đạo đức giả » : « Giả như người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ? » Một đức tin mà không được thể hiện qua những công việc từ thiện bác ái, là một đức tin chết; một đức tin mà thiếu sự linh động và sáng tạo trước những thiếu thốn cùng quẫn của kẻ khác thì chỉ là sự tuyên xưng đầu môi chóp lưỡi mà thôi. Tác giả Thư Giacôbê không viết ra đây những suy tưởng phỏng đoán của mình, nhưng đã suy niệm và cân nhắc tìm hiểu ý nghĩa sâu xa nhất của bài tường trình về việc phép lạ Chúa làm bánh hóa nhiều trong Phúc Âm.
Thật vậy, bài tường trình Ðức Giêsu đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều để nuôi dân chúng (Mc 6,35-44) sau khi Người đã suốt cả một buổi dạy dỗ họ. Ðó là vào lúc trời đã chiều tối, và các môn đệ muốn yêu cầu đám dân chúng giải tán trở về nhà. Ðây cũng là một hình thức phản ứng trước sự khó khăn của những người khác, tức một cách đơn giản nhất là cho họ ra về, để họ tự mua sắm hay tự lo giải quyết lấy vấn đề của họ. Còn Giáo Hội chỉ có trách nhiệm về vấn đề tinh thần, vấn đề thiêng liêng, chứ không phải vấn đề vật chất. Ðây cũng là quan điểm mà nhiều người ngày nay vẫn hết sức ủng hộ !
Thế nhưng, Ðức Giêsu lại quan niệm ngược lại : « Các con hãy cho họ ăn ! » Các môn đệ chỉ hiểu lời yêu cầu này của Chúa cách đơn giản một chiều : Họ dự định đi mua bánh để lo cho đám dân ăn. Ðó cũng là quan điểm thường được áp dụng trong Giáo Hội, nghĩa là Giáo Hội cần phải thoa dịu và làm vơi nhẹ tất cả mọi túng quẫn và vất vả của con người về phương diện tài chính và kinh tế. Các tổ chức từ thiện của Giáo Hội, như : Missio, Misereor, Adveniat hay Caritas, v.v… được coi như một sự biện minh hùng hồn cho lý do hiện hữu của Giáo Hội. Nói cách khác, việc nâng đỡ người nghèo đói về vật chất thường được nhìn nhận là trọng trách chính của sứ mệnh Giáo Hội. Giáo Hội trở thành một tổ chức lo đi quyên góp tiền của để giúp đỡ người túng quẫn nghèo đói.
Nhưng Ðức Giêsu lại đưa ra một câu hỏi mang tính cách quyết định : « Các con có gì không ? Các con có bao nhiêu chiếc bánh ? » Người đã cho đám đông ngồi lại thành từng nhóm 100 hay 50 người một. Dĩ nhiên đối với Ðức Giêsu, mỗi từng người trong số đông đảo các nhóm đang nằm ngồi la liệt kia, không chỉ là một con số, một mối quan tâm hay một trường hợp đang cần dược giúp đỡ, nhưng là một chủ thể của những giá trị thiêng liêng độc lập, một nhân vị mang đầy các phẩm chất cao quí, một người giữa bao người khác. Ðàng khác, các cá nhân không hiện hữu lẻ loi, nhưng cùng đồng hữu trong một nhóm, một cộng đoàn. Chính trong hình thức đồng hữu hay cùng hiện hữu với những đồng loại khác như thế, phép lạ ‘Bánh hóa nhiều’ đã xảy ra, nghĩa là hàng ngàn người đã ăn no nê từ năm ổ bánh mì và hai con cá. Nhìn dưới góc độ này, Giáo Hội là một cộng đoàn ban phát lương thực, một cộng đoàn vừa tôn vinh ca ngợi Thiên Chúa vừa chăm sóc đầy đủ cho sự thiếu thốn của từng cá nhân. Ở đây, từng cá nhân không phải là một trường hợp túng thiếu biệt lập, nhưng là chủ thể trong một cộng đồng sống gắn bó với đức tin. Sự tương quan giữa đức tin và hành động, giữa việc cử hành Phụng Vụ và việc thực thi công việc từ thiện, như hai hiện tượng không thể tách rời nhau được, là mục đích của tác già Thư Giacôbê. Thánh Giacôbê đã nhấn mạnh đến giáo lý đó qua lời quả quyết : « Một đức tin mà không có hành động kèm theo làm bằng chứng, thì chỉ là một đức tin chết ! » (2,17).
Vậy, đức tin và hành động quả thực là hai anh em song sinh. Nhưng ở đây một câu hỏi được đặt ra : Tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta cần phải bảo vệ và hiện thực sự tương quan mật thiết giữa đức tin và công việc bác ái trong cuộc sống cụ thể của cộng đoàn chúng ta như thế nào ?
Tôi cầu chúc cho mọi thành viên của cộng đoàn lòng quả cảm sống gắn bó với đức tin một cách đầy xác tín và cụ thể hóa đức tin của mình trong đời sống cụ thể trong xã hội !
Sau khi đã thăm dò dư luận, Đức Giêsu trắc nghiệm các môn đệ: “Còn các con bảo Thầy là ai? Chúng ta đã có câu trả lời của Thánh Phêrô: “Thầy là Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống”. Tôi nghĩ rằng nếu Chúa Giêsu có mặt một hôm nay, Người sẽ đặt thêm một câu hỏi nữa: “Đối với các bạn, người Kitô hữu là ai?”
Lời Chúa của Chúa Nhật này cho chúng ta câu trả lời chính xác về câu hỏi đó.
1. Trước hết người Kitô hữu Tin vào Đức Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ
Đó là niềm xác tín nền tảng đức tin của chúng ta. Đức Kitô không chỉ là một con người bình thường, không chỉ là một tiên tri như mọi tiên tri mà Dân chúng đã quan niệm, nhưng Người là “Đức Kitô con Thiên Chúa hằng sống”, đúng như lời tuyên tín của Thánh Phêrô, nghĩa là Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát của nhân loại. Làm người kitô hữu trước hết là người TIN vào Đức Kitô đúng như Người “LÀ”, không được thêm, không được bớt mặc khải của Thiên Chúa. Và như thánh Phaolô nói: Ai tin thì được cứu độ.
Nhưng tin ở đây không chỉ là tuân giữ một số điều luật của Giáo hội, không có nghĩa là hiểu biết một số chân lý, lý thuyết và giáo lý về Chúa. Trái lại, tin có nghĩa là sống gần gủi, gặp gỡ, gắn bó mật thiết với Đức Kitô mỗi ngày, trong mỗi biến cố cuộc sống, như với một người bạn thân (Jesus is my best friend). Tôi sống là sống “với, vì và cho” Đức Kitô và Đức Kitô sống trong tôi. Đó là một đức tin trưởng thành và mang tính cá vị. Đó là một đức tin mà Chúa chờ đợi mỗi người kitô hữu.
2. Điều kiện để làm người Kitô hữu
“Ai muốn theo Ta, thì hãy từ bỏ chính mình, và vác thập giá mỗi ngày mà theo ta”. Đây là lời khẳng đình từ môi miệng Chúa. Lời này tóm tắt tất cả mọi điều kiện để làm người Kitô hữu. Chúng ta cần dừng lại để phân tích câu nói này: “Ai muốn theo Ta”: Đấy là một lời mời gọi Chúa ngõ với hết mọi người, từ già đến trẻ, từ giáo dân đến giáo hoàng. Điều kiện trước hết của việc “theo” đó là: “hãy bỏ mình”. Tại sao phải bỏ mình?
Bỏ mình ở đây không có nghĩa là bỏ hết những khả năng, tài cán, và nghị lực… của chúng ta. Nhưng là bỏ chính cái TÔI vị kỷ của ta. “Bỏ mình” là không còn quá chú trọng đến mình, không còn tập trung mọi sự về mình, không biến mình là trung tâm của vũ trụ và chú ý của người khác. Nhưng chỉ hướng “mình” về với Chúa, Chúa là trung tâm đời mình, không còn ai khác. Trong chiều hướng đó, Cái Tôi xuất hiện như “hòn đá vấp chân”, cản trở chúng ta. Kinh nghiệm cho thấy, thắng được “THẰNG TÔI” là thắng được kẻ thù lớn nhất. Chính vì thế, Chúa mời gọi là hãy bỏ mình, cũng như Đức Phật mời gọi môn sinh: muốn được giải thoát thì hãy diệt dục.
3. Đức Tin thể hiện bằng việc làm
Thánh Giacôbê ở bài đọc II nói rất hay về tương quan giữ TIN và SỐNG đức tin: “Đức tin không việc làm là Đức tin chết tận gốc rễ”. Rõ ràng là Tin trong lòng và tuyên xưng ngoài miệng thôi chưa đủ: như Đọc kinh, đi lễ, rước lễ, chịu các bí tích.., nhưng phải thể hiện đức tin đó bằng việc làm. Chúng ta phải thể hiện như thế nào? Thánh Giacôbê cho chúng ta một hướng dẫn rất thích hợp: “Nếu có anh chị em nào không cơm ăn áo mặc, mà có kẻ trong anh chị em lại bảo rằng: “chúc anh chị em đi bình an, và ăn no mặc ấm” mà anh chị em lại không cho họ những gì cần dùng cho thân xác, thì nào có ích gi?”. Việc làm đó chính là lòng bác ái, cảm thông, chia sẽ với tha nhân, và nhất là với người đau khổ. Đó là con đường từ nhà thờ về nhà mình, từ nhà mình tới công sở, con đường đó không có “đèn xanh đèn đỏ” để dừng lại, nhưng là liên tục và nối dài.
Như thế, làm người kitô hữu là người tin vào Đức Kitô và có Chúa Kitô trong đời, và cùng với Người hướng tới tha nhân. Đó là một cuộc sống phong phú và hạnh phúc khi được làm người kitô hữu!
Lạy Chúa, xin giúp con luôn ý thức được sự cao quí của người kitô hữu, xin Chúa giúp con Tin Chúa cách vững vàng, và cùng với Chúa vác thập giá mình mỗi ngày, cùng với Chúa con đến với tha nhân bằng một con tim rộng mở, chia sẻ và cảm thông.
Chúa Nhật XXIV Mùa Thường Niên
Ðức tin và những hành động của đức tin ! Gc 2,14-18
« Tôi phải làm thế nào để được hưởng lòng khoan nhân của Thiên Chúa ? » Ðây là một câu hỏi không những đang làm bận tâm nhiều người ngày nay, nhưng nó đã là mối trăn trở vào Thời Kỳ Tân Ðại (New Age) cách đây trên 500 năm rồi. Martin Luther, một Thầy Dòng Augustiner ở Wittenberg (CHLB Ðức), đã luôn luôn bị câu hỏi trên ám ảnh; Nó đã đưa đẩy ông đến chỗ hoài nghi cùng độ, nhất là hoài nghi trước tất cả những cách thực hành lòng đạo đức vào lúc bấy giờ. Ông ta đã quan sát những người đồng thời với ông cố tìm cách làm sao để được Chúa thương xót : từ cách thức làm những việc lành đạo đức cho tới việc mua bán các ân xá để được hưởng sự giảm nhẹ các hình phạt do tội lỗi gây ra. Ðó là nguyên nhân chính khiến ông đi đến chỗ cực đoan : « Con người được nên công chính hóa nhờ đức tin chứ không do các việc lành mình làm ». Với sự khám phá mới đó của mình, Luther đã nghiên cứu Thánh Kinh để tìm hậu thuẩn cho sự cảm nghiệm đó của ông : Ông đã tìm gặp được sự hậu thuẫn đó trước hết nơi các văn bản của thánh Phaolô. Trái lại các Thư của thánh Giacôbê mà chúng ta đã được nghe một đoạn trong Bài Ðọc hôm nay, Luther đã chối bỏ và cho là thuộc « loại văn thư rơm rạ » không có giá trị.
Với cách thức trình bày của mình, Thư Giacôbê bị Luther gạt bỏ. Nói cách khác, Thư Giacôbê đã không đồng quan điểm với sự khám phá đầy xác tín của Luther, là : « con người được công chính hóa nhờ vào đức tin, chứ không do các việc lành con ngưòi đã làm ». Trong khi Thư Giacôbê đòi hỏi đức tin không chỉ thuần túy là một ý niệm suông, nhưng cần phải được cụ thể hoá bằng việc làm : « Nếu ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? » (Gc 2,14). Tác giả của Thư Giacôbê đã suy niệm một cách sâu xa sự liên hệ mật thiết giữa đức tin và việc làm. Một đức tin mà không tự biểu lộ ra, không được linh động, thì sẽ bị mai một đi; Cái hậu quả đó đối với cả chúng ta trong thời đại ngày nay vẫn quá rõ rệt. Vâng, đức tin nếu chỉ là một ý niệm trừu tượng nội tại, là sự chấp thuận hay cảm nhận của trí khôn, là một quan điểm về vũ trụ quan, thì chắc chắn sẽ không có cơ may tồn tại. Ðức tin cần phải có mặt ngoài, cần phải được diễn tả ra, cần phải được trình bày ra bên ngoài. Chính trong việc đức tin được diễn tả hay được trình bày ra bên ngoài như thế, đức tin trở nên một điều đáng tin, đáng chấp nhận. Tác giả Thư Giacôbê đã biết rõ được sự nguy hại của một sự thuần tuý « đạo đức giả » : « Giả như người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ : ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ? » Một đức tin mà không được thể hiện qua những công việc từ thiện bác ái, là một đức tin chết; một đức tin mà thiếu sự linh động và sáng tạo trước những thiếu thốn cùng quẫn của kẻ khác thì chỉ là sự tuyên xưng đầu môi chóp lưỡi mà thôi. Tác giả Thư Giacôbê không viết ra đây những suy tưởng phỏng đoán của mình, nhưng đã suy niệm và cân nhắc tìm hiểu ý nghĩa sâu xa nhất của bài tường trình về việc phép lạ Chúa làm bánh hóa nhiều trong Phúc Âm.
Thật vậy, bài tường trình Ðức Giêsu đã làm phép lạ cho bánh hóa nhiều để nuôi dân chúng (Mc 6,35-44) sau khi Người đã suốt cả một buổi dạy dỗ họ. Ðó là vào lúc trời đã chiều tối, và các môn đệ muốn yêu cầu đám dân chúng giải tán trở về nhà. Ðây cũng là một hình thức phản ứng trước sự khó khăn của những người khác, tức một cách đơn giản nhất là cho họ ra về, để họ tự mua sắm hay tự lo giải quyết lấy vấn đề của họ. Còn Giáo Hội chỉ có trách nhiệm về vấn đề tinh thần, vấn đề thiêng liêng, chứ không phải vấn đề vật chất. Ðây cũng là quan điểm mà nhiều người ngày nay vẫn hết sức ủng hộ !
Thế nhưng, Ðức Giêsu lại quan niệm ngược lại : « Các con hãy cho họ ăn ! » Các môn đệ chỉ hiểu lời yêu cầu này của Chúa cách đơn giản một chiều : Họ dự định đi mua bánh để lo cho đám dân ăn. Ðó cũng là quan điểm thường được áp dụng trong Giáo Hội, nghĩa là Giáo Hội cần phải thoa dịu và làm vơi nhẹ tất cả mọi túng quẫn và vất vả của con người về phương diện tài chính và kinh tế. Các tổ chức từ thiện của Giáo Hội, như : Missio, Misereor, Adveniat hay Caritas, v.v… được coi như một sự biện minh hùng hồn cho lý do hiện hữu của Giáo Hội. Nói cách khác, việc nâng đỡ người nghèo đói về vật chất thường được nhìn nhận là trọng trách chính của sứ mệnh Giáo Hội. Giáo Hội trở thành một tổ chức lo đi quyên góp tiền của để giúp đỡ người túng quẫn nghèo đói.
Nhưng Ðức Giêsu lại đưa ra một câu hỏi mang tính cách quyết định : « Các con có gì không ? Các con có bao nhiêu chiếc bánh ? » Người đã cho đám đông ngồi lại thành từng nhóm 100 hay 50 người một. Dĩ nhiên đối với Ðức Giêsu, mỗi từng người trong số đông đảo các nhóm đang nằm ngồi la liệt kia, không chỉ là một con số, một mối quan tâm hay một trường hợp đang cần dược giúp đỡ, nhưng là một chủ thể của những giá trị thiêng liêng độc lập, một nhân vị mang đầy các phẩm chất cao quí, một người giữa bao người khác. Ðàng khác, các cá nhân không hiện hữu lẻ loi, nhưng cùng đồng hữu trong một nhóm, một cộng đoàn. Chính trong hình thức đồng hữu hay cùng hiện hữu với những đồng loại khác như thế, phép lạ ‘Bánh hóa nhiều’ đã xảy ra, nghĩa là hàng ngàn người đã ăn no nê từ năm ổ bánh mì và hai con cá. Nhìn dưới góc độ này, Giáo Hội là một cộng đoàn ban phát lương thực, một cộng đoàn vừa tôn vinh ca ngợi Thiên Chúa vừa chăm sóc đầy đủ cho sự thiếu thốn của từng cá nhân. Ở đây, từng cá nhân không phải là một trường hợp túng thiếu biệt lập, nhưng là chủ thể trong một cộng đồng sống gắn bó với đức tin. Sự tương quan giữa đức tin và hành động, giữa việc cử hành Phụng Vụ và việc thực thi công việc từ thiện, như hai hiện tượng không thể tách rời nhau được, là mục đích của tác già Thư Giacôbê. Thánh Giacôbê đã nhấn mạnh đến giáo lý đó qua lời quả quyết : « Một đức tin mà không có hành động kèm theo làm bằng chứng, thì chỉ là một đức tin chết ! » (2,17).
Vậy, đức tin và hành động quả thực là hai anh em song sinh. Nhưng ở đây một câu hỏi được đặt ra : Tất cả chúng ta và mỗi người trong chúng ta cần phải bảo vệ và hiện thực sự tương quan mật thiết giữa đức tin và công việc bác ái trong cuộc sống cụ thể của cộng đoàn chúng ta như thế nào ?
Tôi cầu chúc cho mọi thành viên của cộng đoàn lòng quả cảm sống gắn bó với đức tin một cách đầy xác tín và cụ thể hóa đức tin của mình trong đời sống cụ thể trong xã hội !