Bắt đầu Thánh Lễ khi không có linh mục thì như thế nào?
Giài đáp của Cha Edward McNamara, giáo sự phụng vụ tại đại học Regina Apostolorum về việc bắt đầu Thánh Lễ không có linh mục như sau:
Tôi muốn làm sáng tỏ một sự hiểu lầm trong cột báo ngày 25.7.2006. Khi tôi nhắc rằng một linh mục không bao giờ nên thử đồng tế từ giữa dân chúng trong những ghế ngồi, tôi qui chiếu về những trường hợp của một linh mục tham dự Thánh Lễ theo cách người tín hữu, và còn cố gắng kết hợp trong sự truyền phép từ những ghế ngồi.
Tôi không nói về trường hợp những sự đồng tế đông, khi những linh mục đồng tế cần thiết tràn xuống những ghế ngồi trước mặt
Nói vậy rồi, nhiều độc giả xin được làm sáng tỏ liên quan những nhiệm vụ có thể được thực hiện do những người giáo dân hướng dẫn những phục vụ Rước Lễ ngày Chúa Nhật, trong các cộng đoàn “đang đợi” một linh mục, tôi sử dụng một từ thường ưa thích.
Cuốn chỉ dẫn 1988 của Tòa Thánh về “những Cử hành ngày Chúa Nhật khi không có linh mục” ban bố những hướng dẫn cơ bản. Dựa trên văn kiện này, một số hội đồng giám mục, hay là các giám mục từng cá nhân, đã soạn thảo những qui tắc rõ ràng hơn để xử lý những tình huống này.
Chương ba văn kiện này (Nos 35-50) đề cập thứ tự việc cử hành.
“35. Thứ tự phải theo trong một cử hành Ngày Chúa Nhật không có Thánh lễ, gòm hai phần, cử hành lời Chúa và cho rước lễ. Không gì thuộc Thánh Lễ, và đặc biệt sự dâng lễ phẩm và kinh thánh thể, phải xen vào trong việc cử hành. Thứ tự cử hành phải được sắp xếp cách nào mà thật sự cho phép cầu nguyện và truyền đạt hình ảnh không phải của một cuộc hợp đơn thuần nhưng của một cộng đoàn phụng vụ chân chính.
“36. Như một qui tắc, những bản văn về kinh và về bài đọc cho mỗi Chúa Nhật hay lễ trọng phải lấy từ Sách lễ Roma (Sacramentary ) và sách bài Đọc cho Thánh Lễ. Như vậy người tín hữu sẽ theo chu kỳ năm phụng vụ và sẽ cầu nguyện và nghe lời Chúa trong sự hiệp thông với những cộng đoàn khác của Giáo Hội.
”37 Trong việc chuẩn bị cử hành, mục tử cùng với những người giáo dân được chỉ định có thể thực hiện những thích ứng hợp với số những kẻ sẽ tham gia trong việc cử hành, với khả năng những người đọc (những kẻ hướng dẫn), và loại dụng cụ có thể sử dụng cho âm nhạc và cho việc hát xướng.
38. Khi một phó tế chủ sự việc cử hành, thầy hành động hợp với thửa tác vụ của thầy về những lời chào, những kinh nguyện, sự đọc tin mừng và bài giảng, cho rước lễ, và sự giải tán và chúc lành. Thầy mặc những áo thích hợp cho thừa tác vụ của thầy, tức là, áo alb với dây stola, và, theo những hoàn cảnh gợi ý, áo dalmatic. Thầy sử dụng ghế chủ toạ.
“39. Một người giáo dân hướng dẫn cộng đoàn hành động như một người giữa những người ngang nhau, trong cách được theo trong phụng vụ các giờ kinh khi không phải một thừa tác viên được phong chủ tọa, và trong trường hợp những chúc lành khi thừa tác viên là một người giáo dân (“Xin Thiên Chúa chúc lành chúng ta…”, “Chúng ta hãy ngợi khen Chúa…”} Người giáo dân không được sử dụng những lời dành cho một linh mục hay phó tế và phải bỏ những nghi thức đã quá dễ dàng kết hợp với Thánh lễ, ví dụ, những lời chào—cách riêng “Chúa ở cùng anh chị em”—và những lời giải tán, bởi vì những lời này có thể cho ấn tượng rằng người giáo dân đó là một thừa tác viên thánh.
“40. Người giáo dân mặc áo thích hợp với phận vụ mình hay là áo do giám mục qui định. Họ không sử dụng ghế chủ tọa, nhưng một ghế khác dọn bên ngoài cung thánh. Vì bàn thờ là bàn tế lễ và bàn tiệc phục sinh, việc sử dụng bàn thờ trong cử hành này chỉ dành cho nghi lễ rước lễ mà thôi, khi bánh truyền phép được đặt trên bàn thờ trước khi cho rước lễ.
“Việc chuẩn bị cử hành phải bao hàm sự chăm chú cẩn thận tới việc phân phát thích hợp các nhiệm vụ, ví dụ, cho các bài đọc, cho việc hát kinh, v.v., và cũng cho việc sắp xếp và trang trí nơi cử hành.
”41. Sau đây là đường nét những yếu tố của việc cử hành
“—1. Những nghi thức dẫn nhập. Mục đich những nghi thức này là hình thành các tín hữu đã tập hợp thành một cộng đoàn, và để cho họ sẵn sàng tham dự việc cử hành
“—2. Phụng vụ lời. Ơ đây Thiên Chúa nói với dân Người, mở ra cho họ mầu nhiệm cứu chuộc và cứu độ; dân chúng đáp trả bằng sự xưng đức tin và những lời nguyện chung.
“—3. Tạ ơn. Ở đây Thiên Chúa đước ca ngợi vì vinh quang cao cả của Người (x. no 45)
“—4. Những nghi thức rước lễ. Những nghi thức này là môt sự diễn tả và là một sự hoàn tất việc hiệp thông với Chúa Kitô và với các thành phần của Người, cách riêng với những kẻ trong cũng ngày này tham gia hy lễ thánh thể.
“—5. Những nghi thức kết thúc. Những nghi thức này chỉ sự liên kết hiện hữu giữa phụng vụ và sự sống Kitô hữu
“Hội đồng giám mục, hay là chính cá nhân giám mục, có thể, theo những điều kiện về chỗ ở và về dân chúng liên hệ, quyết định chính xác hơn những chi tiết việc cử hành, sử dụng những tài liệu do ủy ban phụng vụ quốc gia hay giáo phận soạn thảo, nhưng cấu trúc chung của sự cử hành không nên thay đổi khi không cần
“42. Trong phần dẫn nhập lúc bắt đầu việc cử hành, hay là tại một điểm nào khác, người hướng dẫn phải chú ý tới cộng đồng tín hữu mà vị mục tử đang cử hành thánh thể Chúa Nhật này với họ và thúc giục nhóm của mình liên kết trong tinh thần với cộng đồng đó
”43. Để cho những kẻ tham dự có thể ghi nhớ lời Chúa, nên có sự giải thích các bài đọc hay là dành một lúc thinh lặng để suy tư về những gì đã nghe. Vì chỉ mục tử hay thầy phó tế có thể giảng, vị mục tử nên soạn một bài giảng và giao cho người hướng dẫn cộng đoàn, đọc. Nhưng trong vấn đề này phải theo những quyết định của hội đồng giám mục
“44. Những lời nguyện chung phải theo một loạt những ý chỉ đã được thiết lập. Những ý chỉ cho toàn thể giáo phận mà giám mục có thể đã đề nghị, không nên bỏ qua. Thường cũng có những ý chỉ cho các ơn gọi tới những chức thánh, cho giám mục, và cho vị mục tử.
“45. Việc cám ơn có thể theo một trong những cách thức được diễn tả ở đây.
”—1. Sau những lời nguyện chung hay là sau Rước Lễ, người hướng dẫn mời tất cả làm việc cám ơn, trong đó các tín hữu ngợi khen vinh quang và lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều này có thể thực hiện nhở sử dụng thánh vịnh (vi dụ, những thánh Vịnh 100,113,118,136,147,150), một thánh thi (ví dụ, kinh Vinh Danh), một thánh ca (ví dụ, Thánh ca của Đức Maria), hay là một kinh cầu, cùng nhau đọc kinh tạ ơn.
“—2. Trước kinh Lạy Cha, người hướng dẫn cộng đoàn lên nhà tạm hay một nơi khác cất thánh thể và, sau khi bái kính, đặt bình ciborium có Mình thánh trên bàn thờ. Sau đó, bái quì trước bàn thờ, người hướng dẫn cùng với tất cả tín hữu hát hay đọc một thánh thi, thánh vịnh hay kinh cầu, kinh đó, trong trường hợp này, phải hướng tới Chúa Kitô trong thánh thể.
“Nhưng sự cám ơn này không được, bất cứ cách nào, lấy hình thức kinh nguyện thánh thể, những bản văn kinh tiền tụng hay là những kinh thánh thể từ Sách lễ Roma (Sacramentarium) không được sử dụng, và phải loai trừ tất cả nguy cơ nhằm lẫn
“ 46. Về nghi thức rước lễ phải theo những hướng dẫn nói trong cuốn Roman Ritual cho việc rước lễ ngoài Thánh Lễ. Phải thường nhắc người tín hữu là dầu khi rước lễ ngoài Thánh Lễ, họ vẫn kết hợp với hy tế thánh thể.
“47. Về việc rước lễ, nếu có thể, sử dụng bánh được truyền phép cũng ngày Chúa Nhật đó trong một Thánh Lễ cử hành nơi khác; một phó tế hay là giáo dân mang bánh truyền phép đó trong một bình ciborium hay là pyx và đặc bình đó trong nhà tạm trước lúc cử hành. Bánh được truyền phép trong Thánh Lễ cuối cử hành tại chỗ cộng đoàn cũng có thể được sử dụng. Trước Kinh Lạy Cha người hướng dẫn lên nhà tạm hay chỗ cất thánh thể, lấy bình có mình Chúa, và đặt trên bàn thờ, sau đó dẫn nhập kinh Lạy Cha—trừ khi việc cám ơn nhắc tới trong số 45,2 phải thực hiện trong lúc này.
”48. Kinh Lạy Cha phải được mọi người đọc hay hát luôn, dàu không có việc rước lễ. Có thể trao đổi dấu bằng an. Sau rước lễ, ‘có thể giữ một lúc thinh lặng hay có thể hát một thánh vịnh hay một bài hát ngợi khen.’Một sự cám ơn như diễn tả trong số 45,1 cũng có thể chiếm chỗ ở đây.
“49. Trước lúc cộng đoàn kết thúc, đọc những lời rao báo hay những ghi chú liên hệ với sự sống giáo xứ hay giáo phận
“50. Không bao giờ được gán tầm quan trọng quá nhiều cho cuộc hợp ngày Chúa Nhật, hoặc như là nguồn mạch sự sống Kitô hữu của từng cá nhân và cộng đồng, hay là như một dấu chỉ ý Thiên Chúa qui tụ toàn thể nhân loại chung trong Chúa Kitô.
Tất cả mọi Kitô hữu phải chia sẻ niềm xác tín là họ không thể sống đức tin của mình hay tham gia—một cách thích hợp với họ—trong sứ vụ phổ quát của Giáo Hội trừ khi họ được nuôi dưỡng bởi bánh thánh thể. Họ cũng phải xác tín rằng cuộc hợp Chúa Nhật là một dấu cho thế giới về mầu nhiệm hiệp thông, tức là thánh thể.”
Với điều này có thể thêm ghi chú của văn kiện liên bộ 1997 “ Về Một số Vấn Đề Liên quan sự Cọng tác của những Tín hữu Không-Được Phong trong Thừa tác vụ thánh của Linh Mục.”
Văn bản được gặp trong mục những “Dự Liệu Thực Hành”, Đoạn 7, về “những cử hành Chúa Nhật khi không có Linh Mục”:
$ 1. Trong một số nơi thiếu linh mục hay phó tế, các thành phần tín hữu hướng dẫn những cử hành Chúa Nhật. Trong nhiều trường hợp, nhiều ích lơi bắt nguồn, cho cộng đồng địa phương, từ việc phục vụ hữu ích và tế nhị này khi nó được hoàn thành tất cả theo tinh thần và những qui tắc riêng biệt do thẩm quyền giáo hội chuyên môn đưa ra.
Một sự ủy quyền đặc biệt của Giám mục là cần thiết cho những thành phần tín hữu không được –phong để hướng dẫn những cử hành như thế. Sự ủy quyền này phải chứa đựng những huấn thị riêng biệt liên quan nhiệm kỳ có thể được áp dụng, nơi chốn và những điều kiện trong đó ủy quyền thực hành, cũng như chỉ linh mục có trách nhiệm trông coi những cử hành này.
”$ 2. Phải hiểu rõ rằng những thực hành như thế là những giải pháp tạm thời và bản văn được sử dụng trong những cử hành đó phải được thẩm quyền giáo hội chuyên môn phê cuẩn. Cấm xen vào trong những củ hành đó, những yếu tố riêng biệt của Thánh lễ. Bởi cũng những lý do đó, vì lợi ích của những kẻ tham dự, phải nói rõ rằng những cử hành đó không thể thay thế Hy Lễ Thánh Thể và luật buộc dự thánh lễ ngày chúa Nhật và những ngày Lễ buộc chỉ được thỏa mãn bởi sự tham dự Thánh Lễ mà thôi. Trong những trường hợp đường xa hay những điều kiện thể lý không phải là một ngăn trở, phải làm mọi cố gắng để khích lệ và trợ giúp người tín hữu hoàn thành luật này.”