MỘT THOÁNG MỤC VỤ, GIÁO LÝ TÂY VÀ TA



LỜI MỞ

Tại sao ăn cơm Ta lại nói chuyện Tây? Đạo Tây bê bối quá sức mà sao lại qua đó mà học làm gì? Chúng ta cần phân biệt sống đạo và thần học, tức là khoa học về Chúa. Sống đạo thì đạo Tây có thể xuống cấp, nhưng thần học của họ thì có rất nhiều điều sâu xa chúng ta cần học hỏi. Và để áp dụng được những điều học hỏi đó thì còn cần một quá trình “xào nấu”, hội nhập sao cho phù hợp với môi trường Việt Nam.

Những nghiên cứu của họ không những bổ ích, mà chúng ta còn có thể học kinh nghiệm từ những vấp ngã của họ nữa. Luồng gió Tây Phuơng mang cả những cái tốt lẫn cái xấu. Những xã hội đang phát triển thường mô phỏng và bị ảnh hưởng văn hóa, xã hội, kinh tế của các nước đã phát triển, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hệ thống Internet hiện nay, thế giới ví như một ngôi làng nhỏ. Những gì xảy ra ở bên kia đại dương bên này biết ngay tức khắc.

Trong lãnh vực tôn giáo tại Việt Nam, chúng ta đã thấy những triệu chứng sa sút: đi lễ vẫn rất đông, nhưng nhiều thanh niên vẫn giữ “lễ vọng”, ngồi ngoài nhà thờ dự lễ. Nhiều xứ đạo kỳ cựu, ngày xưa cung cấp dồi dào ơn gọi nay khó kiếm được người dâng mình cho Chúa. Tổ chức nhân sự trong các hội đoàn ở những xứ nhỏ bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Số những cặp ly dị ngày xưa rất hiếm, nay nhan nhản. Và tệ nạn xã hội tấn công sâu rộng vào những xứ đạo lâu đời v.v… Những sa sút này, ngoài những lý do riêng của xã hội, tôn giáo tại Việt Nam, phần nào còn do ảnh hưởng của luồng gió “văn minh” vật chất đến từ Tây Phương. Vì vậy quả là cần thiết để nhìn vào những cơn sóng gió và cách đối phó của Giáo Hội Tây Phương đặc biệt là Giáo Hội Pháp để rút ra những bài học bổ ích cho mình.

Bài nói chuyện hôm nay chỉ mong đem lại một cái nhìn tổng quát về mục vụ và giáo lý của Giáo Hội Pháp, đồng thời nhìn thoáng về Giáo Hội Việt Nam cũng trong hai lãnh vực trên để cung cấp cho người giáo lý viên một chút định hướng cho công việc tông đồ của mình.

I- GIÁO HỘI PHÁP VÀ NHỮNG CON SỐ BI QUAN?

1. Sự thay đổi nhanh chóng trong tương quan giữa con người và tôn giáo

Nói đến tình hình mục vụ, người ta thường nhìn ngay vào những con số thống kê. Những con số tích cực đang xuống dốc mạnh: số người lãnh bí tích giảm nhiều, nhiều em trường công không đi học giáo lý, ơn gọi LM hiếm hoi, có những địa phận nhiều năm không có chủng sinh, trong số ơn gọi ít ỏi đó, nhiều ơn gọi là những chủng sinh gốc Á Châu. Còn những con số tiêu cực lại gia tăng nhiều: vấn đề ly dị càng lúc càng trầm trọng, những giáo phái xuất hiện nhiều và ngay cả những hình thức phù thủy bói toán cũng lan rộng v.v…

Sự thay đổi đó không phải là từ từ, nhưng là một biến chuyển chóng mặt, những người sống những thập niên 60, 70 vẫn còn thấy những giáo xứ sầm uất không khác gì những giáo xứ miền quê ở Việt Nam. Các em rước lễ xưng tội thêm sức đông đúc phải qua tuần tĩnh tâm dài tựa như các tu sĩ. Nhà thờ vẫn đông đúc tín hữu tham dự, chúng ta vẫn thỉnh thoảng nghe các ông bà già tây kể lại quá khứ với niềm luyến tiếc. Biến chuyển này nói lên sự thay đổi sâu xa, chóng mặt trong tương quan giữa con người thời nay và tôn giáo đặc biệt là Kitô giáo. Ngày xưa Giáo Hội có một uy thế rất mạnh mẽ với xã hội, ngày nay, uy thế đó không còn gì. Người ta phân biệt rõ ràng giới hạn của hai lãnh vực đạo đời, thậm chí Giáo Hội còn bị hạ giá, bị coi thường.

2. Phản ứng của Hội Đồng Giám Mục Pháp

Theo phản ứng tự nhiên, người ta thường tỏ ra bi quan về Giáo Hội Pháp nói riêng và về giáo hội Tây Phương nói chung. Nhưng chúng ta rất ngạc nhiên khi thấy Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) Pháp không phản ứng theo cách thường tình đó. Qua lá thư mục vụ nổi tiếng của HĐGM Pháp gửi cho tín hữu Công Giáo trong nước năm 1996, các GM rất bình tĩnh và tin tưởng nhìn về tương lai thay vì ngồi nuối tiếc quá khứ.

a. Hai thử thách phải vượt qua

Bắt tay vào việc, các Giám Mục Pháp nhận thấy hai khó khăn cần vượt qua, như là phương án để hành động, đó là khắc phục phong trào tư riêng hóa niềm tin (privatisation), theo phong trào này, niềm tin thuộc về lãnh vực tư riêng của con người, không được trình bày dưới bất cứ hình thức nào ở nơi công cộng, hay trong những sinh hoạt xã hội. Nhưng theo Phúc Âm, Tin Mừng cần phải công bố cho mọi người, niềm tin cần phải thấm vào các cơ chế xã hội.

Thứ đến, các GM cũng quyết tâm vượt qua thái độ luyến tiếc, mong ước trở về cái quá khứ thần quyền bá chủ thuở xưa, lúc Giáo Hội có một uy quyền rộng lớn trên xã hội. Các ngài thấy việc tách biệt thần quyền và thế quyền là một điều tốt đẹp. Đồng thời các ngài cũng thấy một đức tin truyền thống theo kiểu “cha truyền con nối”, ít ý thức chọn lựa cá nhân không thể thích hợp với thời đại mới với những giá trị và khuôn mẫu mới. Đồng thời, Giáo Hội quyết tâm không chấp nhận thái độ đứng ngoài để kết án xã hội, nhưng ý thức mình cũng là thành phần của xã hội, có trách nhiệm trong những khủng hoảng của xã hội để cùng nhau khắc phục.

Thái độ đó không phải là tô màu, vẽ vời cho những nét tiêu cực của thời đại hiện nay, nhưng là nhìn thẳng vào sự thực với cái nhìn mới, với cái nhìn phân tích mục vụ sâu xa để đưa ra đường hướng tông đồ thích hợp.

b. Cái nhìn phân tích mục vụ

HĐGM Pháp nhận thấy rằng đường hướng Mục vụ Xin – Ban ngày xưa không còn thích hợp nữa. Theo đó, giáo dân khát khao chạy đến xin các LM ban phát các bí tích. Nay người ta không còn đổ đến nhà thờ như xưa nữa, không còn coi LM là người hướng dẫn tâm linh mỗi khi gặp rắc rối tơ lòng nữa, đã có các chuyên viên tâm lý gia đình chuyên nghiệp. Nhà thờ cũng không còn là trung tâm mọi sinh hoạt của cộng đồng, làng xã nữa, đã có nhiều trung tâm văn hóa, thể thao hấp dẫn hơn nhiều. Giáo dân không đến nữa, thì thừa tác viên phải tỏ ra sẵn sàng hơn, ân cần hơn. Vì vậy Giáo Hội chuyển mình sang một hình thái mục vụ mới là Mục vụ Đón Tiếp.

Theo hình thức Mục vụ Đón Tiếp này, ở mọi giáo xứ, trong giờ làm việc, đều phải có LM trực để bất cứ giờ phút nào giáo dân cần đến bí tích, cần sự giúp đỡ tâm linh, thì có sẵn LM. Các nhà thờ phải ghi rõ giờ trực, và lịch sinh hoạt phụng vụ trong năm trong tháng, trên tờ bướm, trên tấm bảng trước cửa nhà thờ hay những lễ đặc biệt được thông báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng nữa. Tòa giải tội được thiết kế lại theo hình thức một cuộc nói chuyện tâm tình, đó là một nhà kính có một cái bàn và hai ghế. Thái độ của LM phải tỏ ra thực sự ân cần đón tiếp.

Nhưng đón tiếp ân cần như thế mà cũng chẳng có người đến. Có LM than phiền ngồi cả ngày chẳng có ai, đến cuối tuần mới có một cụ bà đến nói là bà chẳng có tội gì thấy LM ngồi buồn quá đến để tâm sự giúp vui! Các cha sinh viên được mời đi trực thường hay mang bài ngồi học. Phải nghĩ đến một đường lối mục vụ khác, Mục vụ Đề nghị.

3. Mục Vụ Đề Nghị

a. Cắt nghĩa thực tế xã hội

Giáo Hội đặt mình trong không gian, thời gian, và mở ra với trào lưu đa nguyên, sẵn sàng để đối thoại, nên Giáo Hội không còn coi mình là hoàn hảo, có thể tự túc về mọi mặt, nhưng đặt mình trong tương quan với thế giới bên ngoài, sẵn sàng lắng nghe. Trong chiều hướng đó Giáo Hội cần thay đổi cái nhìn từ trên cao trong quá khứ của mình.

Chúng ta thường nhìn phong trào thế tục hóa như là một phong trào xã hội nhằm giải phóng cơ chế của mình khỏi ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo. Nhưng chúng ta cũng cần nhìn nhận phong trào này cũng nằm chính trong lòng Giáo Hội, nhằm khai triển lại những ý nghĩa xưa cũ về tôn giáo của mình trong một hệ thống xã hội mới đang ảnh hưởng chủ thuyết đa nguyên, khuynh hướng bài trừ các định chế, thuyết chủ quan, nhưng không ngả theo những thuyết này quá đáng đến độ làm sai lệch những ý nghĩa nền tảng của tôn giáo về con người.

Con người hôm nay không chấp nhận bất cứ lời nói nào tự cho mình là duy nhất hoàn hảo, duy nhất đúng. Chủ trương đa nguyên là một yếu tố xây dựng của xã hội tân thời. Nhờ chủ trương đó, không những chúng ta có thể liên kết được với nhiều cộng đồng, thu tích được nhiều ý nghĩa, mà tự nó chủ trương này còn rất giá trị và đáng mơ ước. Thư Mục Vụ của HĐGM Pháp không những nhìn nhận thực tế này mà còn nhận thấy giá trị của chủ trương đa nguyên đó.

b. Đưa ra Mục vụ Đề Nghị

Nghiên cứu bối cảnh văn hóa mới, HĐGM Pháp đưa ra đường lối Mục Vụ Đề Nghị. Giáo Hội trình bày và đề nghị cho con người thời đại này những giá trị của Tin Mừng và mời gọi họ bước theo. Việc đề nghị bao hàm một mối tương quan và lời mời gọi giữa người nói và người nghe. Đề nghị có nghĩa là ta không nắm giữ kết luận, phán quyết sau cùng, nhưng xin người khác câu trả lời, một sự xác nhận. Đề nghị có nghĩa là ta không chỉ có một mình, mà còn liên đới với người khác, tùy thuộc vào sự quan tâm và câu trả lời của họ. Dùng đường lối đề nghị là tôn trọng tự do của người đối thoại.

HĐGM Pháp qua thư mục vụ 1996 đã loại bỏ thái độ bất khoan nhượng xưa nay và chấp nhận một cái nhìn toàn diện. Thái độ bất khoan nhượng từ xưa đã làm Giáo Hội từ chối những giá trị đến từ bên ngoài, bỏ qua những nguyên tắc tư duy hiện đại, không chấp nhận để người đương thời chất vấn và không quan tâm đến những xác tín hay niềm hy vọng của con người hiện đại. Thái độ bất khoan nhượng truyền thống cho rằng Giáo Hội là một cộng đồng hoàn hảo, có phẩm trật, và coi suy tư của Giáo Hội đã bị nhiễm độc khi đặt lý trí độc lập với đức tin và phân chia hai lãnh vực đạo đời.

Trái lại, cái nhìn toàn diện xác tín rằng điều cốt lõi của đức tin có liên quan đến toàn thể cuộc đời con người, bao gồm tất cả mọi chiều kích của cuộc sống, chứ không chỉ việc thực hành các nghi thức đạo trong nhà thờ hay niềm tin trong lòng. Cái nhìn toàn diện cũng dễ dàng chấp nhận chân lý đến từ bên ngoài Giáo Hội.

c. Vài áp dụng trong Giáo Lý

- Tôn trọng tự do người học giáo lý. Việc tôn trọng này áp dụng hoàn toàn cho người lớn, nhưng đối với trẻ em tuy không triệt để nhưng cũng luôn nhằm khơi lên những quyết định cá nhân chứ không dựa theo những quyết định của người khác, của tập thể lớp học.

- Ưu tiên phương pháp chủ động. Luôn đặt câu hỏi để các em tự tìm đến chân lý chứ không nói trước chân lý đó. Có nhiều trường hợp các em không chấp nhận hoặc không tìm được điều mình muốn dạy, giáo lý viên bao giờ cũng tìm hiểu nguyên do cá nhân, gia đình và kiên nhẫn đi những bước chậm hơn để hướng dẫn em tới điều muốn dạy.

- Dùng rất nhiều phương pháp toàn diện, linh động và thiên nhiên. Giờ giảng rất đúng mực không kéo dài và kết hợp với vẽ tranh, làm sưu tập, xem phim, khảo sát thiên nhiên. Các em có nhiều thời gian ra khỏi khung cảnh lớp học để học với thiên nhiên, chấp nhận mất giờ nhưng dễ dàng in sâu vào tâm trí hơn.

- Đa số các lớp giáo lý đều xếp theo lớp học kiến thức ở trường tư, số còn lại cũng học theo chương trình dài hạn. Họ ý thức rất nhiều giáo lý phục vụ cuộc sống, giáo lý theo tuổi chứ không phải chỉ giúp lãnh nhận bí tích qua khóa học ngắn hạn vài tháng.

II- GIÁO HỘI VIỆT NAM VẪN CÒN VỮNG MẠNH?

Đây chỉ là vài dữ kiện tiêu biểu về cả mục vụ lẫn giáo lý.

Giáo Hội Việt Nam chúng ta vẫn còn ở trong hình thức Mục Vụ Xin – Ban. Người tín hữu vẫn còn chạy đến nhà thờ đông đảo lãnh các bí tích và các mục tử vẫn còn hăng say nhiệt tâm lo cho các linh hồn. Thiết nghĩ hình thức Mục Vụ Đề Nghị vẫn chưa cần thiết ngoại trừ nó giúp ta xây dựng những dự phóng cho tương lai.

Tuy nhiên trong cái thế mạnh đó cũng ngầm chứa không ít nguy cơ, chúng ta cùng nhìn thoáng những nét chính.

a. Những ưu điểm

Người Việt Nam nói riêng, người Á Châu nói chung có thể vui mừng vì được thừa hưởng một nền tảng tâm linh tôn giáo rất sâu xa. Có thể nói cái tâm của người Việt là hướng về tôn giáo. Không biết bao nhiêu niềm tin địa phương hay được du nhập từ bên ngoài nhưng đều được chấp nhận. Từ cái nền tôn giáo đó chuyển sang Công Giáo tuy có những khó khăn như thấy trong lịch sử, nhưng cũng có không ít những thuận lợi, để trước những sóng gió từ nền văn minh vật chất Tây Phương, người dân Công Giáo Việt Nam vẫn còn trụ được khá vững vàng. Người Tây Phương đến Việt Nam đều bị đánh động vì số giáo dân tham dự bí tích còn rất đông, ơn gọi nói chung vẫn còn tương đối, nền tảng gia đình vẫn tạm vững mạnh. Những người Việt Nam ở hải ngoại tuy xa khung cảnh làng xã quê nhà, cũng được tiếng là sốt sắng đạo đức. Chúng ta có thể tin rằng sự khủng hoảng tôn giáo do làn sóng văn minh Tây Phương nếu có cũng ít bị chao đảo hơn nhờ cái tâm linh tôn giáo đó.

Vả lại, trong những ngày tháng đen tối của lịch sử Giáo Hội Pháp, hàng ngũ giáo sĩ bị liệt kê vào lớp địa chủ đối kháng với dân đen nghèo nàn. Nên những dư âm ngày xưa vẫn còn vang vọng trong thái độ đối với giáo sĩ hôm nay. Còn trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, hàng giáo sĩ bị liệt kê vào những người bị bắt bớ, bị tử đạo vì đoàn chiên. Trước đây, có nhiều linh mục dẫn đoàn chiên đói khổ của mình đi khai thương lập ấp và cùng chia vui, sẻ buồn với họ. Những hình ảnh đó vẫn còn đọng lại trong tâm trí bao người hôm nay. Những điều đó cho ta vững tin hơn trước những làn gió từ bên ngoài.

Về mặt giáo lý, các lớp vẫn còn đông, việc quy tụ các em còn dễ dàng, tuy đã có những biểu hiện về sự bận rộn khi xã hội bắt đầu những bước phát triển mới. Các giáo lý viên vẫn còn đông và trình độ văn hóa tương đối, lại thuộc nhiều lớp tuổi khác nhau.

b. Những nguy cơ

Người Việt Nam dễ bắt chước cái mới và dễ hội nhập với môi trường mới, ví dụ nhiều lớp trẻ lớn lên ở nước ngoài đã mau mắn biến đổi cung cách y hệt như người địa phương, từ ngôn ngữ đến cách sống, trong khi một số sắc dân khác như Trung Hoa, Nhật Bản, Do Thái vẫn giữ được văn hóa truyền thống qua bao thế hệ sinh sống ở nước ngoài. Vả lại chúng ta thường đề cao những buổi lễ long trọng, nghi thức rước sách linh đình mà ít quan tâm học hỏi và nghiên cứu sâu xa về thần học, mục vụ, nên dễ lung lay, chao đảo khi gặp những thử thách về niềm tin.

Mặt giáo lý vẫn chưa được quan tâm đúng mức: việc dạy giáo lý theo tuổi, giáo lý phục vụ đời sống, phương pháp giáo lý mới chưa phổ biến nhiều. Cơ sở vật chất cũng chưa đầy đủ và các giáo lý viên tuy đông nhưng chất lượng nghiệp vụ chưa cao, chưa đủ, và nhất là nhiệt tâm tông đồ thực sự vẫn còn hiếm thấy. Đồng thời những người tình nguyện này lại tham gia không đều đặn và thường không lâu dài gây nhiều khó khăn cho việc đào tạo và tổ chức nhân sự, sắp đặt chương trình các lớp giáo lý. Có lẽ đó là một trong nhiều lý do, một số khá đông các cha sở vẫn chưa dùng giáo lý viên trong việc dạy giáo lý.

Lời kết

Giáo Hội Việt Nam thừa hưởng tâm linh tôn giáo của nền văn hóa Á Đông, nhưng chúng ta vẫn còn chú trọng nhiều đến lễ nghi hơn là giáo dục. Một lời, một chữ trong nghi thức có thể được bàn cãi rất sâu rộng, căng thẳng, trong khi những phương pháp giáo lý mới, việc giáo dục đức tin cho thanh thiếu niên, thiếu nhi dường như không kéo được sự chú ý đáng kể. Trong nhiều mặt, chúng ta cũng còn chú trọng hình thức hơn là đi sâu vào nội dung, nghiên cứu. Nhà thờ Việt Nam vẫn đông đúc, nhưng nhìn kỹ lợi thế lớn đó là do di sản văn hóa, hoặc do những thế hệ trước hơn là do chúng ta vun trồng hôm nay, đồng thời đã thấy xuất hiện những triệu chứng sa sút và những nguy cơ. Vì vậy có thể nói sự “vững mạnh” của Giáo Hội Việt Nam hôm nay không thể lâu dài nếu chúng ta, nhất là những vị hữu trách không quan tâm tới việc giáo dục đức tin, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu, ngăn chặn những nguy cơ.