VIỆC THỜ PHƯỢNG TRONG KITÔ GIÁO

Trước hết chữ thờ phượng ở đây chỉ tất cả các nhân đức thờ phượng của con người dâng lên Thiên Chúa để tỏ lòng mến yêu thần phục, và vì thế là một cơ cấu tổ chức các lễ nghi tôn thờ do con người cử hành, để công nhận và chứng tỏ chủ quyền tuyệt đối của Thiên Chúa đối với mọi loài thụ tạo. Đó là nét đặc trưng của nhân đức thờ phượng, cách thế phát động và biểu dương những tâm tình và thái độ thờ phượng trong tôn giáo. Bởi vậy, việc thờ phượng và tôn giáo có liên hệ với nhau : khi thờ phượng là lúc con người đem tôn giáo ra áp dụng.

Địa vị của đức thờ phượng:

Vậy đâu là địa vị của đức thờ phượng trong Kitô giáo?

Một số nhà thần học thuộc trường phái Pháp, vì đặt nặng tầm quan trọng và đề cao vai trò của nhân đức thờ phượng, đã muốn coi nhân đức này như một nhân đức đối thần ngang hàng với đức tin, đức cậy và đức mến, thậm chí còn coi đó là nhân đức tổng hợp ba nhân đức đối thần.

Nhưng thánh Tô-ma không nghĩ như vậy. Thánh nhân định nghĩa thờ phượng là nhân đức khiến con người tôn vinh Thiên Chúa cho xứng với địa vị Đấng Tạo Hóa. Chữ cho xứng ở đây có ý hiểu về phía Thiên Chúa, nghĩa là vì là Đấng Tạo Hóa nên Thiên Chúa phải được tôn thờ cho cân xứng với địa vị là Thiên Chúa. Vì thế, thành Tô-ma xếp nhân đức thờ phượng vào loại các nhân đức thuộc đức công bình (lla Ilae, 80,1), theo nghĩa là con người mắc “nợ” với Thiên Chúa, và phải đền đáp món nợ đó mới được sòng phẳng. Nợ ở đây là nợ của thọ tạo đối với Đấng Tạo Hóa đã dựng nên mình, cũng như món nợ hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.

Nhưng vì đối với Thiên Chúa, con người không thể trả nợ cho cân xứng được, nên nhân đức thờ phượng không thể nói là thuộc đức công bình. Nói như vậy, không có ý giảm giá, coi nhẹ hay cho đức thờ phượng chỉ là một điều tùy thuộc, ít quan trọng, mà chỉ có ý cho thấy nhân đức thờ phượng chưa thực hiện đầy đủ hết ý nghĩa của đức công bình mà thôi.

Chúng ta biết vai trò của nhân đức thờ phượng là điều chỉnh các mối tương quan của chúng ta đối với Thiên Chúa, nhưng nó không phải là một nhân đức đối thần như đức tin, đức cậy, đức mến, vì đối tượng của nó không phải là Thiên Chúa, nghĩa là nó không làm cho chúng ta nhận biết, ước ao và yêu mến Thiên Chúa vì Người và trong Người như ba nhân đức trên ám chỉ và làm những hành vi để bày tò lòng ngưỡng mộ, tôn thờ.

Khác với nhân đức đối thần, nhân đức thờ phượng là một nhân đức luân lý cũng như các nhân đức luân lý khác, nhằm điều chỉnh cách ăn nết ở của con người đối với Thiên Chúa, nhưng xét về tầm quan trọng và giá trị thì nó lại đứng đầu trong bậc thang luân lý (lla llae q.81 a.6), vì các nhân đức luân lý khác thì điều chỉnh kỷ luật trong đời sống cá nhân, hòa hợp các mối tương quan với người khác và hướng dẫn các hoạt động của lý trí trong phạm vi luân lý; còn riêng nhân đức thờ phượng thì điều chỉnh các mối tương quan của con người đối với Thiên Chúa, nên trổi vượt hơn cả trong phạm vi luân lý.

Tư thế trổi vượt này giúp chúng ta hiểu được tầm ảnh hưởng của nhân đức thờ phượng đối với toàn thể các hành vi luân lý. Ngoài các hành vi riêng biệt, nhân đức thờ phượng còn có thể đảm nhận hành vi của các nhân đức khác, khiến cho những hành vi này có thêm ý hướng và giá trị thờ phượng. Do đấy, việc ăn chay tuy là một hành vi thuộc nhân đức tiết độ, nhưng nhờ đức thờ phượng lại thêm giá trị tôn thờ dâng lên Thiên Chúa.

Cũng như tất cả những gì thuộc con người đều do Chúa mà đến và bởi vậy phải tùy thuộc Thiên Chúa thì tất cả những việc thuộc phạm vi luân lý cũng đều có thể quy về đức thờ phượng, do đức thờ phượng đảm nhận để dâng lên Thiên Chúa. Như vậy, đức thờ phượng là một nhân đức chung (dù xếp theo các hành vi riêng biệt, nó vẫn là một nhân đức riêng) (lla Ilae q.81 a.1 ad 1um; a.4 ad 11um).

Tư thế trổi vượt này còn làm cho đức thờ phượng rất gần với các nhân đức đối thần. Thánh Tô- ma dạy rằng trong phạm vi siêu nhiên, các nhân đức đối thần đảm nhận các hành vi của đức thờ phượng, làm cho chúng ăn sâu mọc rễ và tạo cho chúng một quy chế đích thực (lla lae q.81 a.5 ad 1um). Như thế, các việc thuộc đức thờ phượng và các nhân đức đối thần cụ thể không thể tách biệt nhau, thí dụ không thể cầu nguyện thật mà không có đức tin, đức mến (In Boetio, De Trinitate q.3 a.2). Vì vậy, thánh Âu tinh viết: “Thiên Chúa được tôn thờ bằng đức tin, đức cậy và đức mến” (Deus colitur fide, spe et caritate.) Nhưng dù vậy, các việc thuộc đức thờ phượng và ba nhân đức đối thần vẫn khác biệt nhau, tuy trong thực tế trùng hợp với nhau.

Vì đức thờ phượng phải quy hướng tất cả về Thiên Chúa để làm lễ vật dâng lên Đấng Tạo Hóa, nên bao gồm:

* Những hành vi bên trong : tức là dâng ý mình làm của lễ dâng kính Thiên Chúa mà thánh Tô-ma gọi là lòng sùng kính, hiểu theo nghĩa mạnh là hiến dâng, hiến thánh.

* Những hành vi bên ngoài là dâng thân xác, của cải diễn ra bằng những cử chỉ tôn thờ hay những lễ vật dâng kính.

Tuy vậy, những việc bên trong mới là chính và tự chúng mới là những việc thuộc đức thờ phượng. Chính những việc bên trong mới làm cho những việc bên ngoài có giá trị và những việc bên ngoài chỉ là những cách thế biểu dương, thúc đẩy và phát động lòng sùng kính ở bên trong (lla Ilae q.81 a.7).

Nhưng những việc bên ngoài đích thực cũng là những việc thờ phượng, và lễ tế là điểm cao nhất trong sinh hoạt tôn giáo.

Đức thờ phượng và các tôn giáo

Cần phân biệt nhân đức thờ phượng với các tôn giáo

Trong các tôn giáo tự nhiên, thái độ tôn giáo và thờ phượng phát triển theo hướng bên ngoài. Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác biệt, ở bên ngoài con người và thế giới. Vì thế, mọi nỗ lực tôn giáo ngay từ căn bản là một cuộc tìm kiếm để gặp gỡ, giao cảm với thần linh.

Bởi vậy, xét theo lịch sử, thái độ tôn giáo gắn liền với quan niệm về thiêng thánh. Đối lập với thiêng thánh là phàm tục, thông thường, thuộc thế thái nhân tình, còn thiêng thánh là cái được đặt riêng ra, là một phần của cái thế giới thông thường phàm tục, là cái đã được trút ra khỏi thế giới này, trở thành biểu tượng cho tính ngoại tại của thần linh và dùng làm điểm thông cảm với thần linh.

Tất cả mọi việc thờ phượng đều phát triển theo quan niệm thiêng thánh này. Cho nên mới có những nơi dành riêng, những khoảng thời gian vượt ra ngoài khuôn khổ sinh hoạt thông thường, và những con người hiến thánh, được đặt riêng ra, nhất là những nghi thức đặc biệt, nghĩa là những hoạt động riêng đi từ phạm vi phàm tục sang phạm vi thiêng thánh. Vì thế, thường khi làm lễ tế, người ta để riêng một sự vật ra ngoài, tránh không cho sự vật ấy trở về chỗ phàm tục nữa, thậm chí có khi còn thiêu hủy ngay cả vật được dâng hiến.

Nghĩ về đạo cũ trong Cựu ước

Nếu xét như một tôn giáo thì Cựu ước căn bản cũng chẳng khác gì các tôn giáo khác.

Đạo cũ dựa theo luật Mô-sê được tổ chức cặn kẽ tỉ mỉ với các lễ nghi liên quan đến sự thiêng thánh (như phải tẩy uế, giữ ngày sa bát rất chặt chẽ, tôn trọng Đền thờ, chấp hành các nghi thức tế tự v.v...)

Nhưng đạo cũ trong Cựu Ước khác với các đạo khác ở chỗ không dừng lại ở bên ngoài mà thôi, mà còn đi xa hơn, tiến tới chỗ nội tâm và thiêng liêng hóa việc thờ phượng, như một số đoạn văn của các ngôn sứ và các thánh vịnh cho thấy, khi kết án các lề lối hành đạo vụ hình thức và đòi phải biến đổi tâm hồn, chú trọng đến việc giữ luật yêu thương, công bình.

Đáng kể hơn cả là luồng gió tin tưởng cậy trông đã thổi qua lịch sử Do thái. Do thái trông chờ một Đấng Cứu tinh sẽ đến giải thoát họ và thiết lập một chế độ mới, một hệ thống luật pháp không tạc trên bia hay ghi trong sách mà ăn sâu trong lòng người (Gr 31,33).

Việc thờ phượng từ khi Đức Ki-tô ra đời

Tình trạng này hoàn toàn thay đổi khi Đức Ki-tô ra đời. Lúc xuống thế làm người, Thiên Chúa thôi không còn ở ngoài con người nữa. Chúng ta cũng không phải ra ngoài thế giới để bắt gặp Thiên Chúa, vì chính Người đến cư ngụ giữa chúng ta.

Biến cố này đã gây nên một cuộc đảo lộn hoàn toàn. Quan niệm về sự thiêng thánh là xếp riêng ra ngoài không còn ý nghĩa nữa, hay đúng ra những cử chỉ thông thường trong đời sống hằng ngày đã trở thành những cử chỉ của Thiên Chúa, tất cả cái phàm tục trở thành cái thiêng thánh hay ít ra đang dần dần trở thành như thế.

Đó là ý nghĩa Đức Ki-tô mặc cho những thứ đó, do thái độ và những lời Người nói trong Tin Mừng khiến nhóm Pha-ri-sêu phải lấy làm khó chịu. Người chủ ý lỗi ngày sa-bát ; Người và các Tông đồ đã coi thường luật buộc rửa tay trước khi ăn uống v.v...

Nếu chỉ nhìn thấy trong những bản văn này lời kết án cách hành đạo của người Do thái, hay xem đó như một đòi hỏi phải sống đạo tại tâm, hoặc lấy tinh thần bên trong mà linh hoạt hóa những cử chỉ bên ngoài thì e rằng chúng ta sẽ làm giảm bớt tầm quan trọng của những bản văn này. Thiết tưởng thái độ của Đức Giê-su không nguyên chỉ có tác dụng sửa đổi mà còn có giá trị mạc khải nữa.

Việc thờ phượng hiểu theo nghĩa các tôn giáo tự nhiên kể cả Do thái giáo đã bị bãi bỏ. Phải hiểu những lời Chúa Giê-su nói với người thiếu phụ Sa-ma-ri: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ người ta thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem” (Ga 4,21) và những lời quyết liệt của thánh Phao-lô: “Vậy, đừng ai xét đoán anh em về chuyện đồ ăn thức uống hay về mục ngày lễ, ngày đầu tháng, ngày sa-bát. Tất cả những cái đó chỉ là hình bóng những điều sắp tới, nhưng thực tại là thân thể Đức Ki-tô”. (Col 2,16-17).

Hiểu theo nghĩa này, thì Ki-tô giáo không phải là một thứ đạo. Khi thánh Phao-lô coi nhẹ cách thế thờ phượng và những lễ nghi như thế thì xem ra chúng ta có thể hiểu được rằng, đó là một cách người từ chối tất cả những việc thờ phượng chỉ có hình thức bên ngoài, để chú trọng đến cách thế thờ phượng bên trong với tất cả tinh thần và tâm hồn mà thánh Tô-ma gọi là “devotio”. Chữ này quen được dịch là sùng kính, nhưng sùng kính chưa lột tả được hết ý nghĩa của chữ vovere: dâng hiến, thánh hiến.

Và cũng vì thế, dường như Đức Ki-tô từ chối lời kinh phụng vụ mà chỉ nhận lời cầu nguyện riêng tư khi nói. “Khi cầu nguyện anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng đứng cầu nguyện trong các hội đường cho người ta thấy. Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6,5-6).

Và xem ra đó cũng là ý nghĩa tự nhiên của những lời Đức Giê-su nói với thiếu phụ xứ Sa-ma-ri: “Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này đây những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,23)

Việc thờ phượng đích thực, là lấy đức tin, đức mến mà thờ phượng Chúa và phục vụ anh em; đó là điều răn duy nhất thay thế cho mọi điều luật cũ.

Vì thế, không phải vì làm việc này, giữ luật kia mà chúng ta tôn vinh Thiên Chúa mà là do tất cả những việc chúng ta làm hàng ngày như thánh Phao-lô nói: “Dù ăn, dù uống, hay bất cứ làm việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10,31).

Nhưng ngoài việc thiêng liêng hóa hành vi thờ phượng, còn phải đi xa hơn nữa. Có hai sự kiện khiến ta phải suy nghĩ thêm:

Việc thờ phượng bên ngoài của Do thái giáo xem ra như bị Đức Ki-tô kết án và loại trừ, nhưng lại được duy trì trong Hội thánh sau này, mà cả trong Tân ước nữa. Đó là một trong những mâu thuẫn hay xảy ra trong Tin mừng: cái bị phế bỏ sau lại được lấy lại và sử dụng. Trong Công vụ Tông đồ, chúng ta thấy các tín hữu đầu tiên siêng năng bẻ bánh, cầu nguyện chung và năng lui tới Đền thờ. Thánh Phao-lô cũng nhiều lần nói đến các cộng đoàn hội họp nhau để cử hành phụng vụ và thánh lễ.

Chính Đức Ki-tô đã thiết lập các nghi thức tượng trưng cho bí tích Rửa tội và bí tích Thánh thể, không phải chỉ để làm cho sáng tỏ tương quan thiêng liêng với Thiên Chúa mà còn coi đó là những cử chỉ thật sự cần thiết như Người nói: “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và thần khí” (Ga 3,5); “Nếu không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53).

Nhưng như vậy không phải là phủ nhận những điều đã quả quyết về việc xóa bỏ cung cách thờ phượng xưa. Nếu có một nền thờ phượng và thờ phượng bằng các lễ nghi bên ngoài thì đó là một nền thờ phượng mới không còn ý nghĩa và thuộc cùng một phạm vi như xưa.

Việc thờ phượng mới là việc thờ phượng của Đức Ki-tô do chính Người cử hành, như thánh Phao-lô đã nói ở trên: “Tất cả những nghi thức đó chỉ là hình bóng báo trước những sự việc sẽ xảy ra sau này, nhưng thực tế là Mình Đức Ki-tô” và như Đức Ki-tô nói về bản thân trong Tin mừng: “Các ông cứ phá hủy Đền thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2,19).

Nơi thờ phượng, nghi thức thiêng thánh, linh mục được đặt riêng ra khỏi dân thường, tất cả đều được Mình Chúa Ki-tô thay thế.

Nếu có một nền thờ phượng bên ngoài thì không phải chỉ là để diễn tả và thúc đẩy nền thờ phượng bên trong, mà trước hết chính vì Ngôi Lời đã nhập thể, Đức Ki-tô có xác và linh hồn như chúng ta.

Vì là việc thờ phượng của Đức Ki-tô nên việc thờ phượng trong Ki-tô giáo không giống như việc thờ phượng trong các tôn giáo khác. Đó không còn phải là hành động của con người đi ra ngoài thế gian để gặp Thiên Chúa nữa, mà chính Thiên Chúa đến trần gian để cử hành việc thờ phượng của con người.

Theo tinh thần thờ phượng mới thì phải thờ Chúa trong thần khí và sự thật. Thần khí ở đây phải hiểu là Chúa Thánh Thần nghĩa là do Chúa Thánh Thần cử hành, thôi thúc, phát động.

Trong nền thờ phượng này, cái thiêng thánh không phải là cái tách biệt, đặt riêng ra nữa mà là điểm phát xuất, hiến thánh toàn bộ cái phàm tục. Vì thế, việc thờ phượng trong Ki-tô giáo là hiến thánh trần gian và trước hết là hiến thánh những cái thông thường trong đời sống hàng ngày.

Hiến thánh không còn nghĩa tiêu cực nữa, không phải là rút ra, tách biệt mà có ý nghĩa tích cực : cái gì được hiến thánh thì phải đóng vai trò là men, chìm ngập trong thế gian, nội tại trong thế gian. Hiến thánh bấy giờ có nghĩa là chuyển hiện từ thế giới cũ sang thế giới mới, một thế giới không phải chỉ là một thực tại hoàn toàn thiêng liêng mà là những nỗ lực kéo dài, nối tiếp thân mình Đức Ki-tô phục sinh. Thế giới mới đã được thực hiện nơi thân mình Đức Ki-tô. Tất cả mọi sự được hiến thánh đều là mầm mống khai mở một thế giới mới, để dần dà xâm chiếm và thay chỗ cho thế giới cũ.

Tôn thờ trong sự thật là thế đó ; sự thật là thế giới mới như thánh Phao-lô nói : sự thật là thân mình Đức Ki-tô.

Thờ phượng trong thần khí và sự thật là thờ phượng trong Chúa Thánh Thần và trong thế giới mới thực sự.

Các sự vật được hiến thánh, các nghi thức thờ phượng, đặc biệt các bí tích, chỉ là điểm phát xuất của thế giới mới này mà thôi. Nhưng tất cả đều quy về việc xây dựng thế giới mới này bằng đức ái, nhờ ân sủng Thiên Chúa ban cho. Tất cả những cái đó đều là công việc của Chúa Thánh Thần.

Phải nắm vững bậc thang giá trị này và nhìn nhận rằng tất cả những cái đó đều hoàn toàn tùy thuộc vào công việc của Chúa Thánh Thần và ơn Chúa hoạt động nơi mỗi người và trong thế gian, thì mới thấy được tầm quan trọng của bí tích và phụng vụ trong nền phụng tự Ki-tô giáo.