CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HOÁ
Đức Giáo hoàng Gioan-Phalô II thường sử dụng kiểu nói "Tân Phúc Âm hóa", để thôi thúc toàn thể Giáo Hội dồn hết nỗ lực cho Công cuộc loan báo Tin Mừng trên thế giới, giữa một thời đại đầy biến động, phức tạp, đa dạng.
Phúc Âm hay Tin Mừng là chính con người của Đức Giêsu và giáo huấn của Ngài. Đó là Quà tặng, là Ân ban quý giá mà Chúa Cha gửi trao cho nhân loại. Bản chất Giáo Hội là Truyền giáo. Vì thế, Giáo hội không ngừng thể hiện sứ mạng : loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Tuy nhiên, để Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài dễ được người đời đón nhận, Giáo hội cần phải loan báo Tin Mừng với một tư duy và phong cách mới. Đức Gioan-Phaolô II đã nhấn mạnh tới ba nét mới : mới trong phương pháp, mới trong cách diễn tả, nhất là mới trong nhiệt tình.
Công cuộc "Tân Phúc Âm hoá" do Đức Gioan-Phaolô II khởi xướng, đã được các Giáo hội địa phương nghiên cứu và thực hiện trong hoàn cảnh của mình. Nhìn chung, ta thấy công cuộc "Tân Phúc Âm hoá" mang những nét đặc trưng về cấu trúc, phương pháp và nội dung cốt yếu sau đây :
I. VỀ CẤU TRÚC VÀ PHƯƠNG PHÁP
Cấu trúc và phương pháp là hình thức tổ chức sinh hoạt trong Công cuộc Tân Phúc Âm hoá. Thực ra, Giáo hội vẫn có những hình thức loan báo Tin mừng trong quá trình lịch sử của mình, nhưng ở đây cần phải kiếm tìm những đường hướng mới phù hợp với sứ mạng loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu cho mọi người thuộc thời đại hôm nay.
1. Về Cấu Trúc :
1.1. Tân Phúc Âm hoá là trách nhiệm của toàn thể Dân Chúa.
- Trong quá vãng, nhiều người thường hiểu rằng, việc loan báo Tin Mừng hay truyền giáo là trách nhiệm của một nhóm người chuyên biệt trong Hội thánh, như những người có ơn gọi đặc biệt, các vị thừa sai, các linh mục... nhưng trong Công cuộc Tân Phúc Âm hoá, lời mời gọi truyền giáo dành cho toàn thể Dân Chúa : Hoạt động truyền giáo là vấn đề của mọi kitô hữu, mọi giáo phận, giáo xứ, mọi tổ chức và hiệp hội trong Giáo hội (x.RM, số 71).
- Theo đường hướng đó, cần khơi dậy ý thức trách nhiệm và nhiệt tình truyền giáo nơi mọi kitô hữu. Cần phối kết các hoạt động truyền giáo và tổ chức hướng dẫn để sứ điệp Tin Mừng được mọi người lắng nghe, hiểu biết, yêu mến, sống và chia sẻ cho kẻ khác.
1.2. Công cuộc Tân Phúc Âm hoá
được thực hiện trong mọi môi trường.
- Xưa kia, khi nói đến truyền giáo, người ta thường nghĩ đến những miền truyền giáo, những xứ xa xôi hẻo lánh, hiểm nguy... Ngày nay, môi trường truyền giáo được giới thiệu là chính môi trường chúng ta đang sống và hoạt động : xí nghiệp, trường sở, chợ búa, đồng ruộng, khu xóm, đường phố... và ngay trong giáo xứ mình; bởi vì đối tượng của công cuộc loan báo Tin Mừng là những con người chưa nghe biết Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
- Ngay trong phạm vi Giáo xứ, Đức Gioan-Phaolô II đề xuất ba việc làm của Tân Phúc Âm hoá : - Một là : đối với những người đang sống đức tin trưởng thành, cần phải chăm sóc mục vụ và gây cho họ sự cảm thông và liên đới với sứ vụ truyền giáo chung của Giáo hội, - Hai là : đối với những người đã chịu Phép Rửa mà không còn ý thức về đức tin của mình hay không còn hiệp thông với Giáo hội trong sinh hoạt tôn giáo, cần phải tái rao giảng Tin Mừng cho họ bằng cách trình bày cốt yếu nội dung Tin Mừng và huấn luyện lại đức tin, - Ba là : đối với những người chưa nhận biết Tin Mừng, Tân Phúc Âm hoá là trách nhiệm truyền giáo "Ad gentes", là trách nhiệm loan báo Tin Mừng đầu tiên cho người chưa tin, mà mọi người dân xứ phải thể hiện.
- Để thực hiện việc truyền giáo trong môi trường sống hằng ngày, người tín hữu cần được huấn luyện và thường xuyên nhắc nhở về vai trò truyền giáo quan trọng và cần thiết của mình.
1.3. Công cuộc Tân Phúc Âm hoá
trực tiếp nhắm đến cá nhân và toàn bộ các nền văn hoá.
Đức Gioan-Phaolô II khẳng định : không chỉ có cá nhân mà toàn bộ các nền văn hoá cần được ảnh hưởng Tin Mừng biến đổi. Vì thế, trong hoạt động truyền giáo của mình, Giáo hội đã tiếp cận với những nền văn hoá khác nhau và đã thể hiện việc hội nhập văn hoá. Việc Hội nhập văn hoá là thái độ trân trọng và tiếp nhận những giá trị quý giá trong các nền văn hoá, đồng thời nỗ lực đưa sứ điệp Tin Mừng và các giá trị Kitô giáo vào các nền văn hoá của con người. Theo Đức Gioan-Phaolô II, Tân Phúc Âm hoá theo chiều hướng đó, sẽ dẫn đến một "Nền Văn Minh Tình Thương" (x.RM, số 51).
1.4. Công cuộc Tân Phúc Âm hoá không chỉ giới hạn
trong việc giới thiệu Sứ điệp Tin Mừng,
mà còn là tiến trình gia nhập vào sinh hoạt Hội Thánh.
Loan báo Tin Mừng, chủ yếu mới là bước đầu. Đó là nền tảng cho một tiến trình dài lâu. Theo đó, loan báo Tin Mừng còn kèm theo việc huấn giáo, hướng dẫn về luân lý và học thuyết Giáo hội. Những ai đã tháp nhập vào Chúa Kitô, cũng tháp nhập vào Giáo hội, là thân thể Ngài. Họ liênkết với Thiên Chúa nhờ các bí tích và qua cộng đoàn Hội Thánh.
1.5. Trong việc tổ chức Công cuộc Tân Phúc Âm hoá,
Đức Bênêđíchtô XVI lưu ý chúng ta về một cám dỗ:
đó là thái độ nóng vội, muốn tìm ngay kết quả,
muốn nhận được liền số đông người trở lại.
Theo ngài, đó không phải là đường lối của Thiên Chúa. Ngài dùng dụ ngôn hạt cải (x. Mc 4,31-32) và men trong bột (x.Mt 13,3) để nói về Nước Thiên Chúa vẫn diễn tiến cách khiêm hạ, âm thầm và năng động như thế. Do đó, Tân Phúc Âm hoá không có nghĩa là một hình thức truyền giáo mới, có khả năng mang lại những kết quả kỳ diệu ngay trước mắt. Nhưng đó chỉ nói lên một nỗ lực đổi mới trong công cuộc loan báo Tin Mừng: khiêm ha, trung thành và kiên trì làm thân phận hạt cải, còn tiến trình trở thành thân cây lớn mà chim trời có thể đến làm tổ ở đó, là thuộc quyền năng của Thiên Chúa. Trên thực tế, chúng ta luôn chấp nhận mầu nhiệm: Giáo hội vừa là cây lớn, vừa là hạt cải nhỏ bé. Trong lịch sử cứu độ, luôn có tình trạng: Thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục sinh.
2. Về Phương Pháp:
Trong quá trình lịch sử truyền giáo, Giáo hội thường dùng mọi cách thế hợp lý và những phương tiện thích hợp để loan báo Tin Mừng. Do đó, giữa một thế giới văn minh tiến bộ về kỹ thuật và khoa học với những phương tiện truyền thông hiện đại, Công cuộc Tân Phúc Âm hoá có thể tận dụng mọi sáng kiến mới mẻ để thông truyền Tin mừng. Cần khám phá những cách thức diễn tả cho phù hợp với tâm hồn, não trạng và thực tế cuộc sống của con người thời đại. Tuy nhiên, mọi phương pháp hợp lý và về phương diện luân lý có thể chấp nhận, cũng phải được nghiên cứu và cân nhắc: đó là bổn phận khi sử dụng những khả năng này.
2.1. Cầu nguyện và hy sinh.
Khi bàn về Công cuộc Tân Phúc Âm hoá, Đức Bênêđíchtô XVI đã đề cao hai phương pháp : cầu nguyện và hy sinh.
- Về cầu nguyện, ngài nhắc lại gương mẫu của Chúa Giêsu : "Chúa Giêsu ban ngày rao giảng, ban đêm cầu nguyện" và quả quyết : "Mọi phương pháp đều trở nên trống rỗng, nếu không lấy việc cầu nguyện làm nền tảng".
- Về hy sinh, ngài dùng dụ ngôn "hạt lúa miến mục rữa trong lòng đất", lấy hình ảnh tiên tri Giona mà Chúa Kitô đã ám chỉ về cái chết mang ơn cứu độ của Ngài, hay lặp lại lời nói của Téc-tu-liêng "Máu của các vị tử đạo là hạt giống đức tin" để khẳng định : kết qủa trong truyền giáo tuỳ thuộc vào những hy sinh của nhà truyền giáo. Qủa thực, Đức Giêsu cứu chuộc tội lỗi con người không bằng những lời nói hoa mỹ, nhưng nhờ đau khổ và cái chết của Ngài. Cũng vậy, thành quả của Phaolô trên bước đường truyền giáo không do tài hùng biện và khôn khéo mục vụ, nhưng do những đau khổ ông chịu trong sự hiệp thông với đau khổ của Chúa Kitô (x.1Cr 2,1-5; 2Cr 5,7; Cl 1,24). (1).
2.2. Chứng nhân và vị thánh.
Còn Đức Gioan-Phaolô II đã lưu ý đến hai khía cạnh : chứng tá đời sống và sự thánh thiện cá nhân.
- Ngài lặp lại lời nói của Đức Phaolô VI: Con người thời nay tin chứng nhân hơn thầy dạy, và có tin thầy dạy, là bởi vì thầy dạy là chứng nhân. Từ đó, ngài mời gọi các tín hữu luôn nêu gương sáng trong đời sống hằng ngày. Vì thế, âm thầm sống gương mẫu đạo đức, cũng là cách thức truyền giáo hữu hiệu.
- Đức Gioan-Phaolô II còn quả quyết : Nhà truyền giáo phải là Vị Thánh. Từ đó, ngài kêu gọi mọi sứ giả Tin mừng phải sống thánh thiện, vì việc nên thánh và sứ vụ truyền giáo không thể tách rời nhau (RM,90).
2.3. Công cuộc Tân Phúc Âm
hoá đòi hỏi một linh đạo truyền giáo.
Linh đạo truyền giáo của Công cuộc Tân Phúc Âm hoá cần thể hiện những nét chính sau đây:
- Sống liên kết mật thiết với Chúa Kitô, vâng theo sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, để thực hiện chương trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha.
- Từ bỏ mình để trở nên mọi sự cho mọi người.
- Chiêm ngắm Chúa Giêsu và tập sống giống Ngài. Đọc và suy niệm Thánh kinh, đặc biệt là Tin mừng. Đức Gioan-Phaolô II đã xác quyết : "Nếu không chiêm niệm, nhà truyền giáo không thể loan báo Chúa Kitô cách đáng tin được" (x.RM, số 91).
- Thực hành đức ái tông đồ : nhà truyền giáo phải nghiệm được tình yêu nóng cháy của Chúa Giêsu đối với các linh hồn và yêu mến Hội thánh như Chúa Giêsu vốn yêu thương.
- Nhà truyền giáo cần trở nên con người của các Mối Phúc : nghèo khó, hiền lành, chấp nhận đau khổ và bách hại, khao khát công lý, hoà bình, bác ái.
- Nhà truyền giáo cần biểu lộ niềm vui của đức tin, niềm hy vọng của đức cậy trước mặt người đời, nhờ luôn kết hiệp với Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (x.Ga 14,1-7).
II. NỘI DUNG CỐT YẾU CỦA TÂN PHÚC ÂM HOÁ.
Bốn nội dung chính cần loan truyền : hoán cải, Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô và sự sống đời đời.
1. Hoán Cải
Đối với nội dung của việc Tân Phúc Âm hoá, trước hết cần ghi nhận : Cựu ước và Tân ước không tách rời nhau. Nội dung cốt yếu của Cựu ước được tóm tắt trong sứ điệp của Gioan Tẩy giả : Hãy hoán cải ! Nhưng Gioan tẩy giả chỉ là người mở đường cho Chúa Kitô. Vì thế, khi công khai rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đã lặp lại lời của Gioan : "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng" (Mc 1,15).
- Hoán cải : là suy nghĩ lại, là đặt lại vấn đề về nếp sống và lối sống của mình, là để Thiên Chúa bước vào cuộc sống cá nhân để Người điều khiển mọi tâm tình, tư tưởng, hành động của ta. Hoán cải là bắt đầu nhìn vào đời mình với cái nhìn của Chúa, nhằm kiếm tìm một kiểu sống mới. Như thế, hoán cải là thoát ra khỏi tính tự mãn, là biết khám phá và chấp nhận sự yếu kém của mình, là khiêm hạ tín thác vào Tình yêu của Chúa, một tình yêu sẽ trở thành thước đo và chuẩn mực cho đời sống chúng ta.
- Hoán cải là bước đầu tiên đến với Đức Giêsu, là điều kiện cần thiết để vào Nước Thiên Chúa. Kêu gọi hoán cải là ngầm giới thiệu ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang đến, là nêu lên thực trạng tội lỗi chung của con người và nhu cầu đón nhận ơn giải thoát từ trời cao.
2. Nước Thiên Chúa
Nội dung thứ hai cần được loan báo, là Nước Thiên Chúa đã đến trần gian. Khi Chúa Giêsu xuất hiện trước công chúng, Ngài đã công bố : Nước Thiên Chúa đã đến gần, Nước Thiên Chúa đang ở giữa những người gặp gỡ Chúa Giêsu.
- Nước Thiên Chúa không phải là một sự kiện, một cấu trúc xã hội hay chính trị, một không tưởng. Nhưng Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa có nghĩa là : Thiên Chúa hiện hữu. Thiên Chúa sống động. Thiên Chúa đang hiện diện và hành động trong thế giới, trong đời sống chúng ta, trong đời sống của tôi. Vì thế, loan báo Tin Mừng, trước hết phải nói về Thiên Chúa, phải loan báo một Thiên Chúa duy nhất đích thực : Đấng Tạo thành, Đấng thánh hoá, Vị thẩm phán.
- Loan báo Thiên Chúa, có nghĩa là dẫn người ta bước vào mối tương quan với Chúa: Dạy người ta cầu nguyện, vì cầu nguyện là đức tin đang hoạt động. Vì thế, chính sứ giả loan báo Tin Mừng, cũng cần nêu gương sáng về tinh thần cầu nguyện. Họ phải trở thành những người như thấy được Đấng vô hình, như sờ chạm Đấng vô hình, như đang sinh hoạt sống động với Chúa Giêsu.
3. Chúa Giêsu Kitô
Nội dung thứ ba của Tân Phúc Âm hoá, là Chúa Giêsu Kitô. Đề tài về Thiên Chúa và Chúa Giêsu liên hệ mật thiết với nhau, bởi vì chính nhờ Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, ta mới hiểu được Thiên Chúa.
- Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai, là Con Thiên Chúa, là Em-ma-nu-en : nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là Đấng cứu độ trần gian... Sứ vụ của Ngài là đến trần gian để cứu độ nhân loại.
- Nhưng ngày nay, một số người muốn giản lược Chúa Giêsu Kitô, như một Đức Giêsu lịch sử, một con người không hơn không kém. Đứng trước quan điểm đó, nhà truyền giáo cần minh chứng Đức Giêsu : vừa là con người, nhưng đặc biệt cũng là Thiên Chúa, trong một công thức vắn gọn "Thiên Chúa làm người". Và để minh chứng sự thực đó, nhà truyền giáo cần thực hiện hai điểm cốt yếu sau đây :
· Theo Chúa Giêsu : Chúa Giêsu đã tận hiến mình trở thành con đường sống cho chúng ta. Theo Chúa Giêsu không chỉ có nghĩa là : bắt chước con người Giêsu, nhưng là trở nên một với Chúa Kitô, và nhờ đó kết hợp với Thiên Chúa. Và con đường duy nhất để hiệp thông với Chúa Kitô cách mật thiết là sống các Bí tích.
· Sống Mầu Nhiệm Vượt Qua : Chúa Giêsu đã dùng thập giá để cứu độ trần gian. Theo Chúa Kitô là tham dự vào thập giá Ngài, là kết hợp với tình yêu Ngài, là biến đổi đời sống ta thành một con người mới, được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa
(x. Ep 4,24).
4. Sự Sống Đời Đời
Nội dung cốt yếu cuối cùng của Tân Phúc Âm hoá, đó là Sự sống đời đời. Nội dung này đáp ứng được nhu cầu muốn sống hoài của con người và khai sáng cho con người hiểu rõ định mệnh mình, nhờ tin vào Chúa Kitô.
- Chúa Kitô đã quả quyết: Ngài là sự sống và sự sống lại. Ai tin vào Ngài sẽ không phải chết nhưng được sống đời đời (Ga 11,25; 6,47). Quả thực, Chúa Kitô là Ánh sáng soi chiếu trần gian, là Sự thật giải thoát tất cả. Ngài đến để giúp chúng ta hiểu rõ đời này và khai sáng cho chúng ta lối đường bước vào đời sau.
- Chúa Giêsu đã loan báo về Nước Thiên Chúa : loan báo Nước Thiên Chúa là loan báo về một Thiên Chúa đang hiện diện, một Thiên Chúa luôn hiểu rõ và lắng nghe ta, một Thiên Chúa bước vào dòng lịch sử nhân loại để thực thi công lý. Giảng truyền như thế, cũng là loan báo về cuộc thẩm phán, loan báo về trách nhiệm của chúng ta về đời mình. Con người không thể muốn làm gì thì làm. Con người sẽ bị xét xử và phải tính sổ đời mình. Nhưng nếu con người biết thành tâm hoán cải, biết tin vào lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, biết cậy trông vào công nghiệp cứu độ của Chúa Kitô trên thập giá, họ sẽ được sống và sống muôn đời.
Lm Pham Quang Tòng
Đức Giáo hoàng Gioan-Phalô II thường sử dụng kiểu nói "Tân Phúc Âm hóa", để thôi thúc toàn thể Giáo Hội dồn hết nỗ lực cho Công cuộc loan báo Tin Mừng trên thế giới, giữa một thời đại đầy biến động, phức tạp, đa dạng.
Phúc Âm hay Tin Mừng là chính con người của Đức Giêsu và giáo huấn của Ngài. Đó là Quà tặng, là Ân ban quý giá mà Chúa Cha gửi trao cho nhân loại. Bản chất Giáo Hội là Truyền giáo. Vì thế, Giáo hội không ngừng thể hiện sứ mạng : loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Tuy nhiên, để Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài dễ được người đời đón nhận, Giáo hội cần phải loan báo Tin Mừng với một tư duy và phong cách mới. Đức Gioan-Phaolô II đã nhấn mạnh tới ba nét mới : mới trong phương pháp, mới trong cách diễn tả, nhất là mới trong nhiệt tình.
Công cuộc "Tân Phúc Âm hoá" do Đức Gioan-Phaolô II khởi xướng, đã được các Giáo hội địa phương nghiên cứu và thực hiện trong hoàn cảnh của mình. Nhìn chung, ta thấy công cuộc "Tân Phúc Âm hoá" mang những nét đặc trưng về cấu trúc, phương pháp và nội dung cốt yếu sau đây :
I. VỀ CẤU TRÚC VÀ PHƯƠNG PHÁP
Cấu trúc và phương pháp là hình thức tổ chức sinh hoạt trong Công cuộc Tân Phúc Âm hoá. Thực ra, Giáo hội vẫn có những hình thức loan báo Tin mừng trong quá trình lịch sử của mình, nhưng ở đây cần phải kiếm tìm những đường hướng mới phù hợp với sứ mạng loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu cho mọi người thuộc thời đại hôm nay.
1. Về Cấu Trúc :
1.1. Tân Phúc Âm hoá là trách nhiệm của toàn thể Dân Chúa.
- Trong quá vãng, nhiều người thường hiểu rằng, việc loan báo Tin Mừng hay truyền giáo là trách nhiệm của một nhóm người chuyên biệt trong Hội thánh, như những người có ơn gọi đặc biệt, các vị thừa sai, các linh mục... nhưng trong Công cuộc Tân Phúc Âm hoá, lời mời gọi truyền giáo dành cho toàn thể Dân Chúa : Hoạt động truyền giáo là vấn đề của mọi kitô hữu, mọi giáo phận, giáo xứ, mọi tổ chức và hiệp hội trong Giáo hội (x.RM, số 71).
- Theo đường hướng đó, cần khơi dậy ý thức trách nhiệm và nhiệt tình truyền giáo nơi mọi kitô hữu. Cần phối kết các hoạt động truyền giáo và tổ chức hướng dẫn để sứ điệp Tin Mừng được mọi người lắng nghe, hiểu biết, yêu mến, sống và chia sẻ cho kẻ khác.
1.2. Công cuộc Tân Phúc Âm hoá
được thực hiện trong mọi môi trường.
- Xưa kia, khi nói đến truyền giáo, người ta thường nghĩ đến những miền truyền giáo, những xứ xa xôi hẻo lánh, hiểm nguy... Ngày nay, môi trường truyền giáo được giới thiệu là chính môi trường chúng ta đang sống và hoạt động : xí nghiệp, trường sở, chợ búa, đồng ruộng, khu xóm, đường phố... và ngay trong giáo xứ mình; bởi vì đối tượng của công cuộc loan báo Tin Mừng là những con người chưa nghe biết Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
- Ngay trong phạm vi Giáo xứ, Đức Gioan-Phaolô II đề xuất ba việc làm của Tân Phúc Âm hoá : - Một là : đối với những người đang sống đức tin trưởng thành, cần phải chăm sóc mục vụ và gây cho họ sự cảm thông và liên đới với sứ vụ truyền giáo chung của Giáo hội, - Hai là : đối với những người đã chịu Phép Rửa mà không còn ý thức về đức tin của mình hay không còn hiệp thông với Giáo hội trong sinh hoạt tôn giáo, cần phải tái rao giảng Tin Mừng cho họ bằng cách trình bày cốt yếu nội dung Tin Mừng và huấn luyện lại đức tin, - Ba là : đối với những người chưa nhận biết Tin Mừng, Tân Phúc Âm hoá là trách nhiệm truyền giáo "Ad gentes", là trách nhiệm loan báo Tin Mừng đầu tiên cho người chưa tin, mà mọi người dân xứ phải thể hiện.
- Để thực hiện việc truyền giáo trong môi trường sống hằng ngày, người tín hữu cần được huấn luyện và thường xuyên nhắc nhở về vai trò truyền giáo quan trọng và cần thiết của mình.
1.3. Công cuộc Tân Phúc Âm hoá
trực tiếp nhắm đến cá nhân và toàn bộ các nền văn hoá.
Đức Gioan-Phaolô II khẳng định : không chỉ có cá nhân mà toàn bộ các nền văn hoá cần được ảnh hưởng Tin Mừng biến đổi. Vì thế, trong hoạt động truyền giáo của mình, Giáo hội đã tiếp cận với những nền văn hoá khác nhau và đã thể hiện việc hội nhập văn hoá. Việc Hội nhập văn hoá là thái độ trân trọng và tiếp nhận những giá trị quý giá trong các nền văn hoá, đồng thời nỗ lực đưa sứ điệp Tin Mừng và các giá trị Kitô giáo vào các nền văn hoá của con người. Theo Đức Gioan-Phaolô II, Tân Phúc Âm hoá theo chiều hướng đó, sẽ dẫn đến một "Nền Văn Minh Tình Thương" (x.RM, số 51).
1.4. Công cuộc Tân Phúc Âm hoá không chỉ giới hạn
trong việc giới thiệu Sứ điệp Tin Mừng,
mà còn là tiến trình gia nhập vào sinh hoạt Hội Thánh.
Loan báo Tin Mừng, chủ yếu mới là bước đầu. Đó là nền tảng cho một tiến trình dài lâu. Theo đó, loan báo Tin Mừng còn kèm theo việc huấn giáo, hướng dẫn về luân lý và học thuyết Giáo hội. Những ai đã tháp nhập vào Chúa Kitô, cũng tháp nhập vào Giáo hội, là thân thể Ngài. Họ liênkết với Thiên Chúa nhờ các bí tích và qua cộng đoàn Hội Thánh.
1.5. Trong việc tổ chức Công cuộc Tân Phúc Âm hoá,
Đức Bênêđíchtô XVI lưu ý chúng ta về một cám dỗ:
đó là thái độ nóng vội, muốn tìm ngay kết quả,
muốn nhận được liền số đông người trở lại.
Theo ngài, đó không phải là đường lối của Thiên Chúa. Ngài dùng dụ ngôn hạt cải (x. Mc 4,31-32) và men trong bột (x.Mt 13,3) để nói về Nước Thiên Chúa vẫn diễn tiến cách khiêm hạ, âm thầm và năng động như thế. Do đó, Tân Phúc Âm hoá không có nghĩa là một hình thức truyền giáo mới, có khả năng mang lại những kết quả kỳ diệu ngay trước mắt. Nhưng đó chỉ nói lên một nỗ lực đổi mới trong công cuộc loan báo Tin Mừng: khiêm ha, trung thành và kiên trì làm thân phận hạt cải, còn tiến trình trở thành thân cây lớn mà chim trời có thể đến làm tổ ở đó, là thuộc quyền năng của Thiên Chúa. Trên thực tế, chúng ta luôn chấp nhận mầu nhiệm: Giáo hội vừa là cây lớn, vừa là hạt cải nhỏ bé. Trong lịch sử cứu độ, luôn có tình trạng: Thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục sinh.
2. Về Phương Pháp:
Trong quá trình lịch sử truyền giáo, Giáo hội thường dùng mọi cách thế hợp lý và những phương tiện thích hợp để loan báo Tin Mừng. Do đó, giữa một thế giới văn minh tiến bộ về kỹ thuật và khoa học với những phương tiện truyền thông hiện đại, Công cuộc Tân Phúc Âm hoá có thể tận dụng mọi sáng kiến mới mẻ để thông truyền Tin mừng. Cần khám phá những cách thức diễn tả cho phù hợp với tâm hồn, não trạng và thực tế cuộc sống của con người thời đại. Tuy nhiên, mọi phương pháp hợp lý và về phương diện luân lý có thể chấp nhận, cũng phải được nghiên cứu và cân nhắc: đó là bổn phận khi sử dụng những khả năng này.
2.1. Cầu nguyện và hy sinh.
Khi bàn về Công cuộc Tân Phúc Âm hoá, Đức Bênêđíchtô XVI đã đề cao hai phương pháp : cầu nguyện và hy sinh.
- Về cầu nguyện, ngài nhắc lại gương mẫu của Chúa Giêsu : "Chúa Giêsu ban ngày rao giảng, ban đêm cầu nguyện" và quả quyết : "Mọi phương pháp đều trở nên trống rỗng, nếu không lấy việc cầu nguyện làm nền tảng".
- Về hy sinh, ngài dùng dụ ngôn "hạt lúa miến mục rữa trong lòng đất", lấy hình ảnh tiên tri Giona mà Chúa Kitô đã ám chỉ về cái chết mang ơn cứu độ của Ngài, hay lặp lại lời nói của Téc-tu-liêng "Máu của các vị tử đạo là hạt giống đức tin" để khẳng định : kết qủa trong truyền giáo tuỳ thuộc vào những hy sinh của nhà truyền giáo. Qủa thực, Đức Giêsu cứu chuộc tội lỗi con người không bằng những lời nói hoa mỹ, nhưng nhờ đau khổ và cái chết của Ngài. Cũng vậy, thành quả của Phaolô trên bước đường truyền giáo không do tài hùng biện và khôn khéo mục vụ, nhưng do những đau khổ ông chịu trong sự hiệp thông với đau khổ của Chúa Kitô (x.1Cr 2,1-5; 2Cr 5,7; Cl 1,24). (1).
2.2. Chứng nhân và vị thánh.
Còn Đức Gioan-Phaolô II đã lưu ý đến hai khía cạnh : chứng tá đời sống và sự thánh thiện cá nhân.
- Ngài lặp lại lời nói của Đức Phaolô VI: Con người thời nay tin chứng nhân hơn thầy dạy, và có tin thầy dạy, là bởi vì thầy dạy là chứng nhân. Từ đó, ngài mời gọi các tín hữu luôn nêu gương sáng trong đời sống hằng ngày. Vì thế, âm thầm sống gương mẫu đạo đức, cũng là cách thức truyền giáo hữu hiệu.
- Đức Gioan-Phaolô II còn quả quyết : Nhà truyền giáo phải là Vị Thánh. Từ đó, ngài kêu gọi mọi sứ giả Tin mừng phải sống thánh thiện, vì việc nên thánh và sứ vụ truyền giáo không thể tách rời nhau (RM,90).
2.3. Công cuộc Tân Phúc Âm
hoá đòi hỏi một linh đạo truyền giáo.
Linh đạo truyền giáo của Công cuộc Tân Phúc Âm hoá cần thể hiện những nét chính sau đây:
- Sống liên kết mật thiết với Chúa Kitô, vâng theo sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần, để thực hiện chương trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha.
- Từ bỏ mình để trở nên mọi sự cho mọi người.
- Chiêm ngắm Chúa Giêsu và tập sống giống Ngài. Đọc và suy niệm Thánh kinh, đặc biệt là Tin mừng. Đức Gioan-Phaolô II đã xác quyết : "Nếu không chiêm niệm, nhà truyền giáo không thể loan báo Chúa Kitô cách đáng tin được" (x.RM, số 91).
- Thực hành đức ái tông đồ : nhà truyền giáo phải nghiệm được tình yêu nóng cháy của Chúa Giêsu đối với các linh hồn và yêu mến Hội thánh như Chúa Giêsu vốn yêu thương.
- Nhà truyền giáo cần trở nên con người của các Mối Phúc : nghèo khó, hiền lành, chấp nhận đau khổ và bách hại, khao khát công lý, hoà bình, bác ái.
- Nhà truyền giáo cần biểu lộ niềm vui của đức tin, niềm hy vọng của đức cậy trước mặt người đời, nhờ luôn kết hiệp với Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (x.Ga 14,1-7).
II. NỘI DUNG CỐT YẾU CỦA TÂN PHÚC ÂM HOÁ.
Bốn nội dung chính cần loan truyền : hoán cải, Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô và sự sống đời đời.
1. Hoán Cải
Đối với nội dung của việc Tân Phúc Âm hoá, trước hết cần ghi nhận : Cựu ước và Tân ước không tách rời nhau. Nội dung cốt yếu của Cựu ước được tóm tắt trong sứ điệp của Gioan Tẩy giả : Hãy hoán cải ! Nhưng Gioan tẩy giả chỉ là người mở đường cho Chúa Kitô. Vì thế, khi công khai rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đã lặp lại lời của Gioan : "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng" (Mc 1,15).
- Hoán cải : là suy nghĩ lại, là đặt lại vấn đề về nếp sống và lối sống của mình, là để Thiên Chúa bước vào cuộc sống cá nhân để Người điều khiển mọi tâm tình, tư tưởng, hành động của ta. Hoán cải là bắt đầu nhìn vào đời mình với cái nhìn của Chúa, nhằm kiếm tìm một kiểu sống mới. Như thế, hoán cải là thoát ra khỏi tính tự mãn, là biết khám phá và chấp nhận sự yếu kém của mình, là khiêm hạ tín thác vào Tình yêu của Chúa, một tình yêu sẽ trở thành thước đo và chuẩn mực cho đời sống chúng ta.
- Hoán cải là bước đầu tiên đến với Đức Giêsu, là điều kiện cần thiết để vào Nước Thiên Chúa. Kêu gọi hoán cải là ngầm giới thiệu ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang đến, là nêu lên thực trạng tội lỗi chung của con người và nhu cầu đón nhận ơn giải thoát từ trời cao.
2. Nước Thiên Chúa
Nội dung thứ hai cần được loan báo, là Nước Thiên Chúa đã đến trần gian. Khi Chúa Giêsu xuất hiện trước công chúng, Ngài đã công bố : Nước Thiên Chúa đã đến gần, Nước Thiên Chúa đang ở giữa những người gặp gỡ Chúa Giêsu.
- Nước Thiên Chúa không phải là một sự kiện, một cấu trúc xã hội hay chính trị, một không tưởng. Nhưng Nước Thiên Chúa là chính Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa có nghĩa là : Thiên Chúa hiện hữu. Thiên Chúa sống động. Thiên Chúa đang hiện diện và hành động trong thế giới, trong đời sống chúng ta, trong đời sống của tôi. Vì thế, loan báo Tin Mừng, trước hết phải nói về Thiên Chúa, phải loan báo một Thiên Chúa duy nhất đích thực : Đấng Tạo thành, Đấng thánh hoá, Vị thẩm phán.
- Loan báo Thiên Chúa, có nghĩa là dẫn người ta bước vào mối tương quan với Chúa: Dạy người ta cầu nguyện, vì cầu nguyện là đức tin đang hoạt động. Vì thế, chính sứ giả loan báo Tin Mừng, cũng cần nêu gương sáng về tinh thần cầu nguyện. Họ phải trở thành những người như thấy được Đấng vô hình, như sờ chạm Đấng vô hình, như đang sinh hoạt sống động với Chúa Giêsu.
3. Chúa Giêsu Kitô
Nội dung thứ ba của Tân Phúc Âm hoá, là Chúa Giêsu Kitô. Đề tài về Thiên Chúa và Chúa Giêsu liên hệ mật thiết với nhau, bởi vì chính nhờ Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, ta mới hiểu được Thiên Chúa.
- Chúa Giêsu là Đấng Thiên sai, là Con Thiên Chúa, là Em-ma-nu-en : nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, là Đấng cứu độ trần gian... Sứ vụ của Ngài là đến trần gian để cứu độ nhân loại.
- Nhưng ngày nay, một số người muốn giản lược Chúa Giêsu Kitô, như một Đức Giêsu lịch sử, một con người không hơn không kém. Đứng trước quan điểm đó, nhà truyền giáo cần minh chứng Đức Giêsu : vừa là con người, nhưng đặc biệt cũng là Thiên Chúa, trong một công thức vắn gọn "Thiên Chúa làm người". Và để minh chứng sự thực đó, nhà truyền giáo cần thực hiện hai điểm cốt yếu sau đây :
· Theo Chúa Giêsu : Chúa Giêsu đã tận hiến mình trở thành con đường sống cho chúng ta. Theo Chúa Giêsu không chỉ có nghĩa là : bắt chước con người Giêsu, nhưng là trở nên một với Chúa Kitô, và nhờ đó kết hợp với Thiên Chúa. Và con đường duy nhất để hiệp thông với Chúa Kitô cách mật thiết là sống các Bí tích.
· Sống Mầu Nhiệm Vượt Qua : Chúa Giêsu đã dùng thập giá để cứu độ trần gian. Theo Chúa Kitô là tham dự vào thập giá Ngài, là kết hợp với tình yêu Ngài, là biến đổi đời sống ta thành một con người mới, được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa
(x. Ep 4,24).
4. Sự Sống Đời Đời
Nội dung cốt yếu cuối cùng của Tân Phúc Âm hoá, đó là Sự sống đời đời. Nội dung này đáp ứng được nhu cầu muốn sống hoài của con người và khai sáng cho con người hiểu rõ định mệnh mình, nhờ tin vào Chúa Kitô.
- Chúa Kitô đã quả quyết: Ngài là sự sống và sự sống lại. Ai tin vào Ngài sẽ không phải chết nhưng được sống đời đời (Ga 11,25; 6,47). Quả thực, Chúa Kitô là Ánh sáng soi chiếu trần gian, là Sự thật giải thoát tất cả. Ngài đến để giúp chúng ta hiểu rõ đời này và khai sáng cho chúng ta lối đường bước vào đời sau.
- Chúa Giêsu đã loan báo về Nước Thiên Chúa : loan báo Nước Thiên Chúa là loan báo về một Thiên Chúa đang hiện diện, một Thiên Chúa luôn hiểu rõ và lắng nghe ta, một Thiên Chúa bước vào dòng lịch sử nhân loại để thực thi công lý. Giảng truyền như thế, cũng là loan báo về cuộc thẩm phán, loan báo về trách nhiệm của chúng ta về đời mình. Con người không thể muốn làm gì thì làm. Con người sẽ bị xét xử và phải tính sổ đời mình. Nhưng nếu con người biết thành tâm hoán cải, biết tin vào lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, biết cậy trông vào công nghiệp cứu độ của Chúa Kitô trên thập giá, họ sẽ được sống và sống muôn đời.
Lm Pham Quang Tòng