Lương Tâm và những Chính Trị Gia Công Giáo (Phần 2)
Lược Trích Bài Phỏng Vấn Với Cha Koterski Thuộc Trường Đại Học Fordham
NEW YORK (Zenit.org).- Một “bản tuyên ngôn về các nguyên tắc” vừa mới đây của 55 chính trị gia Công Giáo thuộc Đảng Dân Chủ tại Hạ Viện Hoa Kỳ đã nhóm lại cuộc tranh luận về các vai trò của những chính trị gia Công Giáo. Các bên ký kết vào lá thư tuyên bố rằng: “Trong việc nhận ra vài trò của Giáo Hội qua việc chỉ dẩn cách lãnh đạo theo luân lý, chúng ta công và chấp nhận cẳng thẳng vốn sẽ đến qua việc bất đồng với Giáo Hội về một số lãnh vực.”
Thế nhưng, theo vị linh mục Dòng Tên là Cha Joseph Koterski, giáo sư triết học tại trường Đại Học Fordham, thì có một số vấn đề cho phép có nhiều cách suy xét thận trọng khác nhau, có những vấn đề thì lại có liên quan trực tiệp đến những nguyên tắc về luân lý, và do đó sẽ không còn chổ cho sự phán xét cá nhân.
Cha Koterski chia sẽ với hãng tin Zenit về lý go tại sao việc bất đồng với các vị lãnh đạo trong Giáo Hội về cuộc chiến và việc cải cách di cư thì hoàn toàn khác nhau một cách cơ bản so với sự bất đồng về việc phá thai.
Hỏi (H): Thưa Cha, liệu có một sự khác biệt rõ ràng nào không giữa một sự bất đồng trái ngược với đạo lý (conscientious) với Giáo Hội về việc cải cách di cư và sự bất đồng về việc phá thai không?
Cha Koterski (T): Thưa, đối với tôi trông có vẽ như cả hai câu hỏi này, một mặt thì có liên quan đến việc nhận dạng ra một số vấn đề về nguyên tắc luân lý, còn mặt kia thì về những phán đoán thực tiển về các sự kiện. Không một nhà lập pháp Công Giáo nào lại ủng hộ luật lệ có liên quan đến việc cải cách di cư nào vi phạm đến nguyên tắc luân lý, vốn đòi hỏi phải tôn trọng phẩm giá con người.
Thế nhưng, để quyết định một cách chính xác về các chính sách có liên quan đến việc di cư của chúng ta để có thể tôn trọng phẩm giá con người, thì điều đó có liên quan đến vô số các vấn đề mang tính thực tiển khác nhau, chẳng hạn như có bao nhiêu di dân mà một vùng có thể thực sự đảm nhận trong một thời điểm nhất định nào đó, hay mức độ chăm sóc sức khỏe thích hợp nào hay sự hổ trợ về an sinh nào nên dành ra cho những người di dân mới. Có rất nhiều lời đề nghị cụ thể về những vấn đề này, đến từ Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, và các nhà lập pháp Công Giáo chắc chắn phải nghiên cứu những lời đề nghị đó một cách thật kỹ càng.
Tôi nghĩ có một số lãnh vực để có thể đưa ra những câu trả lời cụ thể cho những câu hỏi này, và dĩ nhiên, không có một chổ trống nào dành cho một nhà lập pháp Công Giáo viện dẩn ra những lý do về lương tâm như việc cho phép ủng hộ các chính sách nào đó vốn đối xử với những người di dân, và thậm chí với cả những người di dân bất hợp pháp một cách vô nhân tính được.
Có liên quan đến việc phá thai, có một sự khác biệt tương tự giữa các nguyên tắc và cách thức áp dụng thực tiển của chúng. Giáo Hội giảng dạy rất rõ ràng rằng chúng ta phải luôn chống đối bất kỳ hình thức phá thai nào tại bất kỳ nơi đâu – thì đây chính là một nguyên tắc luân lý hoàn vũ, và về điểm này không có chổ cho bất kỳ lý do viện dẩn ra nào để bất đồng với Giáo Hội, vốn dựa vào kiểu lý luận cho rằng đó là do lương tâm cá nhân. Thế nhưng, vẫn còn có những câu hỏi khác về cách thức làm thế nào để áp dụng vào những vấn đề mang tính thực tiển, chẳng hạn như những sáng kiến vừa mới đây để cấm việc phá thai bán phần.
Về điểm này, điều quan trọng là cần phải chú ý đến những chỉ thị của Thông Điệp “Evangelium Vitae,” Số 73, về việc một nhà lập pháp Công Giáo nào vốn rõ ràng chống đối lại việc phá thai, là người nổi tiếng chống phá thai, thế nhưng lại bỏ phiếu để giới hạn một vài kiểu phá thai nếu vào lúc đó, không thể cấm phá thai hoàn toàn.
Ngược lại với sự nghiên cứu cẩn thận và đem ra áp dụng các nguyên tắc về luân lý một cách đúng đắn, vẫn còn đó những dấu ấn hối hận mà hầu như tất cả những cá nhân đã ký vào bản tuyên ngôn vừa mới đây, đó chính là các vị Dân Biểu Công Giáo thuộc Đảng Dân Chủ của Hạ Viện. Rất nhiều người trong số họ đã bỏ phiếu ủng hộ cho Liên Đoàn Hành Động Về Quyền Phá Thai Quốc Gia (National Abortion Rights Action League), và hoàn toàn ủng hộ một cách trọn vẹn với những chương trình phò phá thai của Liên Đoàn này đưa ra. Có một sự mâu thuẩn trái ngược mà những vị Dân Biểu này đã ký kết “là để bảo vệ những thành viên hiểm nguy nhất của xã hội chúng ta,” thế nhưng mặc khác chính họ lại ra tay để trực tiếp ủng hộ việc phá thai.
Xem xét về hồ sơ bỏ phiếu ủng hộ phá thai của những vị dân cử Công Giáo này, trông có vẽ như cam kết của họ là để “giảm thiểu con số những vụ mang thai không mong muốn” gồm luôn cả việc giữ cho việc phạ thai được hoàn toàn hợp lệ và cho phép tại Hoa Kỳ, thì đây chính là trường hợp cụ thể trực tiếp phản lại những nguyên tắc luân lý nền tảng của Giáo Hội.
(H): Thưa Cha, bằng/theo cách nào mà những giảng dạy của Giáo Hội về việc phá thai lại ràng buộc từng người có niềm tin một, trong khi đó thì cách mà Đức Thánh Cha nhìn về một vấn đề như cuộc chiến tranh chẳng hạn, lại chẳng có tính ràng buộc gì cả?
(T): Thưa, điều quan trọng cần phải nhìn nhận sự khác biệt giữa (1) các giáo huấn về luân lý hoàn vũ vốn luôn ràng buộc tín hữu tại bất kỳ nơi đâu, và (2) những phán đoán mà một người nào đó đưa ra về những sự kiện của một tình huống cụ thể. Giáo Hội có những giảng dạy rất rõ ràng về việc phá thai, và Giáo Hội vẫn luôn khẳng định và tái khẳng định về nguyên tắc luân lý này
Trong khi đó, những quan điểm của Đức Thánh Cha về vấn đề như: tính đạo đức luân lý của một cuộc chiến cụ thể nào đó không phải được dứt khoát đưa ra ở cấp độ về nguyên tắc, nhưng là ở cấp độ phán đoán về những sự kiện của một tình huống cụ thể, dưới ánh sáng của một số nguyên tắc nhất định, ở đây chính là những nguyên tắc về cuộc chiến chính nghĩa.
Nếu Đức Thánh Cha đưa ra một lời nhận xét nào đó về đâu là những nguyên tắc của một cuộc chiến chánh nghĩa, thì Ngài có thể diễn đạt nó ở cấp độ hoàn vũ như là những giáo huấn chung của Giáo Hội, chẳng hạn một sự giáo huấn rằng tất cả các bên có liên hệ không được khởi chiến trừ khi nào đã cạn kiệt tất cả mọi giải pháp khác để đối diện với sự bất công; hay giáo huấn rằng thậm chí ngay cả trong một cuộc chiến chánh nghĩa, thì người nào đó không được tấn công trực tiếp đến những người vô tội, chẳng hạn.
Thế nhưng cầu hỏi là liệu một cuộc chiến cụ thể đó có chánh nghĩa hay không thì nó không những lệ thuộc vào những gì có liên quan đến các nguyên tắc luân lý vốn trực tiếp liên hệ đến những điều kiện đối với một cuộc chiến chánh nghĩa, mà còn vào những vấn đề giả định khác nhau nữa. Vì có quá nhiều vấn đề thuộc về sự thật trong việc đưa ra một lời phán đoán, do đó phán đoán của bất kỳ ai về vấn đề có thể được xem như là có thể tranh cãi được theo cách mà một tuyên bố về các nguyên tắc luân lý vốn không thể nào được tranh cãi được.
Phán đoán của Đức Thánh Cha về những vấn đề như vậy nên dành được sự kính trọng lớn từ phía những người Công Giáo, thế nhưng nó không được xem như ở cùng cấp độ thẩm quyền như là một tuyên bố mà Ngài có thể đưa ra về các nguyên tắc luân lý hoàn vũ.
Tôi có thể nói rằng chắc chắn là Đức Thánh Cha có và hiểu biết được nhiều sự kiện hơn chúng ta, do đó, sự phán đoán của Ngài về những vấn đề như vậy, bao giờ cũng tốt hơn sự phán đoán của chúng ta cả. Thế nhưng những câu hỏi có liên quan đến sự kiện thật là hoàn toàn quan trọng trong việc đưa ra cách áp dụng đúng đắn nhất về các nguyên tắc luân lý, và những vấn đề về việc áp dụng những nguyên tắc luân lý đối với những sự kiện nào có thể tranh cãi được theo cách mà những nguyên tắc về luân lý tự chúng là không thể nào được.
(H): Thưa Cha, nếu một chính trị gia Công Giáo, vì vấn đề lương tâm, tự tìm thất mình bất đồng với Giáo Hội về một số vấn đề cụ thể nào đó, thì cách mà người đó nên đáp trả là như thế nào?
(T): Thưa, hãy lưu ý rằng tất cả những gì mà chúng ta đã đề cập về những sự khác biệt trong mức độ của Giáo Hội về các vấn đề có liên quan đến luân lý, tôi muốn kêu gọi chính trị gia Công Giáo đó trước tiên là hãy sẳn sàng để cho lương tâm mình được thông báo một cách đúng đắn và mạch lạc hơn bằng việc nghiên cứu và thảo luận thêm về đâu chính là những nguyên tắc về luân lý của Giáo Hội, và đâu chính là những gì mà Giáo Hội đã giảng dạy về cách thức áp dụng chúng.
Khi không có đủ thời gian để nghiên cứu và người đó phải hành động, chẳng hạn, bằng việc bỏ phiếu trong vai trò của mình là một nhà lập pháp, thì người đó cần quan sát đến những nguyên tắc về luật lệ của Thiên Chúa, Đấng chủ tể về tất cả mọi lý thuyết và ý kiến của người đó trong những vấn đề có liên quan đến nguyên tắc về luân lý.
Khi có sự bất đồng về việc đem ra áp dụng những nguyên tắc về luân lý vì sự bất đồng dựa trên các sự kiện, thì những nhà lập pháp đó chắc chắn phải cố gắng để tìm hiểu kỹ càng hơn về sự thật về những câu hỏi này và tuân theo lương tâm của riêng mình, một lương tâm vốn được hình thành nên bởi sự hiểu biết thật sự của các nguyên tắc.
(Hết).