Dư âm câu chuyện: Bánh bao thịt lớn.

Mỗi ngày một câu chuyện :BÁNH BAO THỊT LỚN

Một đôi kết bái làm anh em rất thích nói dối.

Anh kết nghĩa nói với em kết nghĩa: “Hôm qua, anh ăn một cái bánh hấp, e rằng trên thế giới không có cái bánh nào lớn như thế: dùng một trăm cân bột mì, tám mươi cân thịt và hai mươi cân rau để làm nhân, phải ghép đến tám cái bàn vuông sắp lại mới có thể để nó trên được. Hơn hai mươi người đứng chung quang để ăn, ăn một ngày một đêm mà không hết một nửa. Khi đang vui vẻ ăn thì mất đi hai người, tìm hoài tìm mãi mà không thấy, đột nhên nghe trong cái bánh hấp có tiếng nói, mở lá ra coi, hê hê, thì ra hai người ấy chui vào trong cái bánh để ăn nhân thịt, em coi cái bánh có lớn không ?”

Em kết nghĩa nói: “Hôm qua em ăn bánh bao thịt mới gọi là lớn, mười mấy người ăn ba ngày ba đêm mà cũng chưa thấy nhân thịt, triều đình bắt ăn cho nhanh, không ngờ đang ăn thì một cái bảng đá bày ra, trên bảng viết: “Cách nhân thịt còn ba cây số nữa”.. Anh coi nó có lớn không ?”

Anh kết nghĩa hỏi: “Cái bánh bao thịt của em lớn như thế thì lấy gì mà nấu ?”

Em kết nghĩa đáp: “Thì dùng cái nồi nấu bánh hấp của anh đó để nấu !”

(Hi đàm tục lục)

Suy tư:

Thời xưa dùng một trăm cân bột để làm một cái bánh thì là quá vĩ đại rồi, dù đó là...cái bánh nói khoác, nhưng thời nay người ta còn làm những cái bánh chưng bánh tét vĩ đại gấp trăm lần, họ dùng đến cả ngàn cân gạo nếp, ngàn ký thịt heo, để làm cái bánh thật lớn cho nổi tiếng, để được ghi vào quyển sách kỷ lục thế giới.

Nếu họ đem một ngàn cân gạo nếp và một ngàn ký thịt ấy phân phát cho người nghèo neo đơn, thì trong ba ngày tết có thêm những nụ cười tươi; nếu họ đem chừng ấy thịt và gạo phân phát cho những người vô gia cư, thì mùa xuân hoa sẽ nở trên những nẽo đường phố...

Ham danh, ham nổi tiếng là bệnh của con người, nhưng người Ki-tô hữu thì biết rằng: danh lợi, quyền uy, tiền tài, rồi cũng bay mất theo mây gió, nhưng cái tâm thông cảm, cái tâm yêu thương thì vẫn tồn tại mãi mãi...

Kỷ lục vĩ đại nhất là làm cho tâm hồn yêu thương của mình ngày càng lớn thêm, để có thể đón nhận nhiều mảnh đời bất hạnh trong xã hội hôm nay.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb


Dư Âm Câu Chuyện.

Đọc câu chuyện trên, ai cũng biết là xạo, nhưng những dẫn chứng trong phần ‘Suy tư’ của LM Giuse Maria Nhân Tài là chuyện có thật, mà cái sự thật không mấy đẹp này đang xảy ra ngay trên quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta, cũng như trên hầu hết khắp thế gian này..

Nói đến nói dối, nhẹ hơn nói xạo hay nói láo một chút, thì dân gian Việt thường nghĩ ngay đến chú Cuội. Để so sánh người nói dối, dân gian Việt thường bảo “Nói dối như Cuội”. Huyền thoại về chú Cuội thì nhiều lắm, một trong những huyền thoại là giờ đây Cuội đang ngồi dưới gốc cây to tướng trên mặt trăng, đang nhìn xuống nhân gian mà ‘cười ruồi’..

Hôm nay tôi xin kể lại một câu chuyện nước ngoài mà tôi đọc đã lâu và chỉ nhớ được những nét tổng quát Câu chuyện có thể có thực, cũng có thể là hư cấu, nhưng nó vô hại như cái vô hại của sự ‘nói dối’ của chú Cuội.

Chuyện kể rằng có một cặp vợ chồng mới cưới, làm nghề nông ở một miền quê nước nọ. Gọi là mới cưới nhưng cả hai đã đứng tuổi, vì họ còn phải làm việc để phụ cha mẹ trang trải nợ nần trước khi lập gia đình riêng. Người chồng lo hết việc đồng áng và người vợ ở nhà chăm nuôi gia cầm và lo việc bếp núc.

Mỗi ngày trở về từ công việc ngoài đồng, người chồng luôn có trong tay một bó hoa mà anh hái đâu đó ngoài đồng để tặng vợ. Đặc biệt là anh đọc cho vợ nghe một bài thơ mà khi vợ hỏi thì anh bảo vợ anh là nguồn cảm hứng cho anh sáng tác trong lúc làm công việc đồng áng. Đương nhiên, vợ anh phục anh quá và thương yêu anh hơn vì không ngờ có được người chồng nông dân chất phác mà có tài thơ phú.

Thực ra, anh đã nói dối vợ. Anh không làm được những bài thơ đó. Anh cũng biết nói dối là có tội. Nhưng anh vẫn tiếp tục nói dối, vừa nói dối vừa ăn năn, xin Chúa tha tội cho anh. Nhưng rồi sự nói dối của anh sau cùng cũng đã bị ‘bật mí’.

Cặp vợ chồng này có hai con. Họ lao động cật lực để vừa trả hết nợ mượn ngân hàng mua trang trại, vừa lo cho hai con ăn học để tránh cho con công việc nặng nhọc mà mình đã trải qua. Lớn lên, đứa con trai học kỹ sư và khi đứa con gái ngỏ ý học văn chương, mẹ nó cười và nói rằng nó thích thơ văn giống bố nó.

Rồi Lễ Giáng Sinh năm ấy, hai đứa con về nhà mừng Lễ với bố mẹ. Ngày Lễ qua đi, tối hôm trước khi trở lại trường, đứa con gái kín đáo kéo mẹ nó vào phòng mình. Nó đưa cho mẹ nó coi một cuốn sách và nói: “Bao năm nay, bố đã nói dối mẹ. Con phải học cuốn thơ này. Những bài thơ bố đọc cho mẹ nghe đều in trong đó”.

Mẹ nó nhìn nó, nắm chặt tay nó, và bắt nó hứa: “Con đừng bao giờ cho bố biết. Nếu bố biết, bố sẽ đau khổ lắm. Bố nói dối mẹ chỉ vì bố thương yêu mẹ vô ngần”.

Thế rồi sau bao năm lao nhọc, người vợ bị bạo bệnh. Các bác sĩ đã bó tay. Trong những giây phút sau cùng, người vợ nắm tay chồng, kéo chồng xuống thấp và thều thào: “Anh đọc cho em một bài thơ đi, một bài mới”.

Người chồng cố dấu vẻ hoảng hốt. Mấy trăm bài thơ trong cuốn sách anh đã đọc đi đọc lại cho vợ nghe và chính vợ anh cũng gần như thuộc lòng. Thật khổ cho anh! Anh bèn lâm râm cầu nguyện. Và bỗng anh thấy như có một tia sáng lóe lên từ trên cao, rồi ý thơ tràn ngập hồn anh, rồi miệng anh như có một lực vô hình làm cho mấp máy, và anh chậm rãi đọc cho vợ nghe bài thơ đầu tiên do chính anh sáng tác.

Em nhỉ! Hai ta cực đã nhiều.

Cuộc đời nhìn lại có bao nhiêu.

Bên nhau - ta mải lo cuộc sống.

Chợt bóng hoàng hôn - đã xế chiều.

Em sắp bỏ anh - sắp đi đâu?

Mình anh còn lại chứa chan sầu.

Em sang sông trước - chờ anh nhé.

Anh sẽ sang sau - nối nhịp cầu.

Anh muốn em lên tới mặt trăng.

Sớm hôm bầu bạn với chị Hằng.

Chơi nơi thanh vắng - khi anh nhớ.

Nhìn lên - anh thấy bóng tung tăng.

Ngày một ngày hai anh sẽ lên.

Gặp lại em - anh hết ưu phiền.

Bên nhau - ta ngồi nghe Cuội kể.

Bao chuyện trên trời - chuyện thần tiên.

Người vợ sung sướng quá. Bài thơ thật là đúng lúc. Bà chắc chồng mình đã để dành bài thơ đến lúc này mới đọc cho mình nghe. Bà nắm chặt tay chồng, nở một nụ cười bao dung, tha thứ, và mãn nguyện. Bà có biết đâu bài thơ đó do chính chồng bà sáng tác, do tình thương yêu vợ vô vàn, và do một ơn vô hình.