Trích từ Ngọn Nến Số 1

Người nói được hay bị ngồi ở đây để chia sẻ về một đề tài mà chắc chắn người nghe nắm vững và am tường vấn đề hơn người nói.1 Chính vì vậy, những gì được trình bày ở chỉ là vài gợi ý tổng quát để đưa vào thảo luận. Trọng tâm của buổi Sinh hoạt này là phần trao đổi ý kiến giữa chúng ta chung quanh vai trò của Nhà Giáo trong đất nước hôm nay. Và mong ước thâm sâu của đức Tổng Giám mục cũng như của Ban Tổ chức là sau khi đã nhận diện vấn đề, các Nhà giáo Công giáo có thể cùng nhau đóng góp gì hơn nữa cho nền giáo dục của đất nước thân yêu.


1. Tương quan giữa kiến thức và phát triển



Nhân loại đang tiến từ thời công nghiệp sang giai đoạn hậu công nghiệp, mà có người gọi nền văn minh trí tuệ hay xã hội chất xám. Hàm lượng về vật chất như năng lượng, nguyên liệu thiên nhiên, thiết bị máy móc, vốn và lao động cơ bắp trong mỗi sản phẩm sẽ giảm thiểu, nhưng ngược lại thông tin và hàm lượng về trí tuệ sẽ gia tăng. Sự thành công trong xã hội tương lai phụ thuộc rất nhiều ở nguồn nhân lực sáng tạo, khả năng nắm bắt cái mới, quyết định lựa chọn đúng đắn, khả năng triển khai cụ thể cho từng lãnh vực phát triển. Những người có tri thức mới sẽ có nhiều cơ hội trong thế giới tương lai, ngược lại những người không có tri thức mới sẽ phải đối diện với tình trạng thất nghiệp hay bằng lòng với số lương thấp trong những ngành công nghệ cổ điển.

Ngân hàng Thế giới cũng công nhận “kiến thức là nhân tố cương yếu trong công cuộc phát triển cũng như trong mọi lãnh vực: thiếu nó chúng ta sẽ không thể làm được gì. Nói một cách giản dị, để sinh sống chúng ta phải biến đổi tài nguyên sẵn có thành những đồ vật mà chúng ta cần, và để thực hiện điều đó đòi hỏi phải có kiến thức. Nếu chúng ta muốn cuộc sống ngày mai hơn ngày hôm nay, nếu chúng ta muốn nâng cao mức sống của riêng mình, cũng như của gia đình hay quốc gia - tình trạng sức khỏe khả quan hơn, con cái có một nền giáo dục tốt hơn và môi sinh được bảo vệ tốt hơn - chúng ta không thể chỉ bằng lòng với việc biến đổi nhiều tài nguyên hơn nữa, bởi vì tài nguyên thiên nhiên luôn thiếu hụt. Chúng ta phải sử dụng chúng làm sao để lao động và đầu tư của chúng ta mỗi ngày tăng năng xuất. Để đạt tới điều đó luôn cần thiết kiến thức và tỉ lệ kiến thức này ngày càng lớn so với tài nguyên” 2.

Trong bản Báo cáo đệ trình UNESCO, Uỷ ban quốc tế về giáo dục của thế kỷ XXI đặt nổi vai trò của giáo dục trong phát triển. Việc tuyển mộ và việc đào tạo các giáo chức nghành khoa học và kỹ thuật để đảm nhận việc truyền đạt kiến thức khoa học có vai trò quyết định để vượt qua tình trạng nghèo đói và chậm tiến 3. Sử gia H.G. Wells còn quả quyết mạnh mẽ hơn: “Tương lai của nhân loại ngày càng mang dạng thức tình huống của một cuộc chạy đua giữa giáo dục thảm họa”.



Chính trong viễn tượng đó mà Ngân hàng Thế giới đã nhận định: “điều làm cho người nghèo - xét như cá nhân hay quốc gia - phân biệt với người giàu nằm ở chỗ người nghèo không những có ít vốn mà đồng thời cũng ít kiến thức nữa. Thông thường, việc tạo ra kiến thức phải trả bằng giá rất đắt, do đó kiến thức thường được sản xuất trong những nước kỹ nghệ. Tuy nhiên, những nước đang phát triển có thể thủ đắc kiến thức nơi những nước khác và cũng có thể tự mình tạo ra nó” 4. Lợi thế của các nước đi sau trong quá trình phát triển kinh tế và kỹ thuật là có thể tiếp thu nhanh và ít tốn kém kinh nghiệm phát triển đã tích lũy hàng chục năm của các nước công nghiệp.

Việc đầu tư vào vốn con người để nâng cao trình độ và khả năng sử dụng kỹ thuật được coi là một trong những nhân tố quyết định của việc phát triển. Tại Mỹ, chẳng hạn, một nghiên cứu mới đây cho thấy việc kéo dài thêm thời gian giáo dục ở học đường đã làm tăng trưởng khoảng 25% lợi tức bình quân trên đầu người trong khoảng thời gian từ 1929 - 1982. “Bốn mươi năm về trước, Nam Hàn và Ghana có thu nhập trên đầu người hầu như bằng nhau. Sự So sánh giữa Nam hàn và Ghana càng cho thấy rõ vấn đề hơn. Vào đầu thập niên 90, thu nhập của Nam Hàn gấp sáu lần thu nhập của Ghana. Một số chuyên viên cho rằng một nửa sự cách biệt này là do Nam Hàn đã thành công trong việc tiếp thu và sử dụng kiến thức” 5.

Trên phương diện lý thuyết, người ta thường so sánh kiến thức với tính phổ quát của ánh sáng: nó được nhiều người sử dụng đồng thời, có thể tới đến một cách dễ dàng tận hang cùng ngõ hẻm, chiếu sáng cuộc đời của mọi người và làm rõ nét những giao dịch kinh tế. Thomas Jefferson đã diễn tả mối tương quan này qua câu nói ví von: “Khi một người lãnh hội một ý tưởng của tôi, dĩ nhiên họ có thêm kiến thức, nhưng không vì thế mà tôi u mê hơn, tương tự như khi một người nào đó châm lửa từ ngọn nến của tôi: họ đón nhận ánh sáng, mà vẫn không làm cho tôi rơi vào bóng tối”.

Với cuộc cách mạng tin học, nhiều kiến thức đã trở thành gia sản chung của nhân loại và mọi người có thể sử dụng dễ dàng và hầu như không phải trả một đồng xu nào. Đây cũng là vận may cho các nước đang phát triển. Thay vì vất vả đi lại từ đầu để tái phám phá những gì đã trở thành tri thức chung của nhân loại, các nước nghèo có thể tiếp thu và sử dụng những kiến thức sẵn có tại các nước tiên tiến.

Trên thực tế, việc tiếp thu kiến thức không luôn luôn dễ dàng và lạc quan như vậy. Khả năng kỹ thuật và kiến thức của một cá nhân hay một tập thể, được thủ đắc qua giáo dục, kinh nghiệm và nghiên cứu, chỉ có thể chuyển thông sang môi trường khác một phần thôi. Dĩ nhiên, ngày nay các nước đang phát triển có thể mua một cách khá dễ dàng và trong một thời gian ngắn sản phẩm kỹ nghệ tối tân. Tuy nhiên, chúng ta không nên quên rằng việc chuyển giao kiến thức và kỹ thuật không đồng nghĩa với việc mua hay sử dụng những sản phẩm kỹ nghệ. Tiến bộ kỹ thuật cũng không luôn đi đôi với khả năng kinh tế của những người tiêu thụ sản phẩm kỹ thuật. Việc chuyển thông đích thực về kiến thức và kỹ thuật phải được thực hiện trong đầu của các cá nhân hơn là trong các sản phẩm mà người ta có thể mua trên thị trường.

Ngoài ra, tạo ra kiến thức đòi hỏi phải đầu tư lâu dài và rất tốn kém. Các nước giàu và các xí nghiệp đa quốc gia đang nắm độc quyền kiến thức mới và kỹ thuật tân tiến. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hiện tượng phân cực giàu - nghèo hiện nay ngày càng sâu thẳm. Để rút ngắn hố phân cách này đòi hỏi rất nhiều cố gắng để đầu tư vào vốn con người, mở cửa cho công nghệ nước ngoài, phát triển công nghệ thông tin, cộng với chính sách hữu hiệu của Nhà nước để rút ngắn hố cách biệt về kiến thức và sự hỗ trợ đắc lực của các tổ chức quốc tế6.


2. Sứ vụ của giáo dục



Từ thủa xa xưa Quản Trọng đã nói: “nếu lên kế hoạch một năm thì trồng lúa, mười năm thì trồng cây và trăm năm thì trồng người”. Với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, vai trò của giáo dục càng quan trọng hơn, vì phát triển kinh tế và khả năng cạnh tranh trong tương lai đòi hỏi một kế hoạch qui mô để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài7. Louis Gerstner, tổng quản trị công ty điện toán lừng danh IBM, đặt nổi “mối liên quan trực tiếp giữa giáo dục và thu nhập. Người có học vấn cao hơn sẽ có việc làm tốt hơn và thu nhập cũng cao hơn. Những nước có hệ thống giáo dục tốt hơn sẽ có nền kinh tế mạnh hơn và đồng thời là những đối thủ cạnh tranh đáng gờm hơn trên thị trường thế giới”.

Chất xám được coi là tấm hộ chiếu của thế kỷ 21 và đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư quan trọng nhất cho phát triển8. Thật vậy, tài nguyên tương lai của một quốc gia hoàn toàn tùy thuộc óc sáng tạo, khả năng nhận diện xu hướng của thế giới, kỹ năng khai thác tiềm năng của bộ não, tốc độ và tài sử dụng thông tin để tạo thêm giá trị gia tăng. Từ đó nhu cầu khẩn thiết là phải cải tổ hệ thống giáo dục ngõ hầu trả lời cho những thách đố của một xã hội biến đổi không ngừng.

Trước đây, nhà trường thường có xu hướng truyền đạt những kiến thức của thế hệ đi trước cho các thế hệ đi sau, làm như hành trang lâu bền cho người thụ huấn. Mục đích của việc học là nhằm tái tạo kiến thức và thành quả của quá khứ, nên hầu như đặt nhẹ công tác khám phá và dự phóng tương lai. Hiện nay, với tốc độ biến đổi nhanh và sâu rộng của khoa học kỹ thuật, một số kiến thức cũ trở nên lỗi thời và nhiều quan niệm mới xuất hiện. Nhà trường không thể bằng lòng với việc chỉ truyền đạt kiến thức cũ, cái đã biết và đã vượt qua, mà phải khám phá và dự phóng tương lai. Nói cách khác, cần phải học, nhưng nếu học theo kiểu cổ điển, nhất thiết sẽ không đáp ứng những nhu cầu của tương lai.

Giáo sư Hoàng Tuỵ có lý khi nhận định: “Phương châm giáo dục ngày nay không còn là cung cấp bửu bối, trang bị kiến thức chỉ để có kiến thức, mà là rèn luyện khả năng tư duy, khả năng thích ứng mau lẹ, rèn luyện đầu óc và nhân cách, để có những con người ném vào hoàn cảnh nào cũng xoay xở và vươn lên được tối đa, tự khẳng định mình đồng thời thúc đẩy cộng đoàn tiến lên” 9.

Giáo dục trong tương lai phải khuyến khích người thụ huấn biết tham khảo, đọc sách, suy nghĩ độc lập, có tinh thần phê phán, óc sáng tạo, nắm bắt nhanh những cái mới và can đảm nhìn nhận tính tương đối nơi số vốn kiến thức của mình, ngõ hầu cải tiến không ngừng và thích nghi tốt với tốc độ biến đổi của thế giới.



Chủ đích của giáo dục cũng không chú trọng đến việc khai thác trí nhớ của người thụ huấn và thái độ tiếp thu một cách thụ động mớ kiến thức cứng nhắc và bất biến, mà làm sao phát huy trí tưởng tượng, khuyến khích suy tư cá nhân và rèn luyện thái độ “học để học” trong suốt cuộc đời. Tính cá nhân hóa của giáo dục trong tương lai càng làm cho quan niệm “học để học” trở thành chủ đạo. Nền giáo dục tốt là chương trình giáo dục biết dự phóng, tạo điều kiện và cung cấp phương tiện để người thụ huấn phát triển tư duy sáng tạo.

Người ta kể lại rằng: “Một buổi tối, Ernest Rutherford, nhà vật lý nổi tiếng người Anh, ghé vào phòng thí nghiệm. Mặc dù đêm khã khuya, một sinh viên của ông vẫn miệt mài làm thí nghiệm. Ông hỏi anh ta: “Anh làm gì muộn vậy?”. Người học trò trả lời: “Thưa thầy, con làm thí nghiệm”. Ông hỏi tiếp: “Thế ban ngày anh làm gì?”. Anh ta hồ hởi trả lời: “Con làm thí nghiệm”. Ông thầy băn khoăn hỏi: “Và sáng sớm hôm nay anh cũng làm thí nghiệm ư?”. Người học trò gật đầu và chờ đợi lời khen thưởng của thầy. Nhưng ông thầy sa sầm nét mặt và bực bội hỏi: “Này anh, bao giờ anh mới suy nghĩ?”

Thế kỷ 21 cũng là thế kỷ của toàn cầu hoá và tự do mậu dịch. Chất lượng của hàng hóa sẽ là một trong những thước đo giá trị và chất lượng của giáo dục. Giáo dục, nhất là giáo dục ở Đại học, ngày càng gắn liền với doanh nghiệp, thị trường và xã hội. Nhờ mối tương quan hiện sinh này người ta có thể xác định tốt hơn nhu cầu, số lượng và nội dung của giáo dục. Từ đó, chúng ta sẽ ý thức rõ rệt hơn việc cần thiết cập nhật hóa kiến thức chuyên môn hấp thụ ở nhà trường.

Chính những thay đổi của khoa học kỹ thuật và yêu sách của thời đại đã đặt nổi tư duy sáng tạo. Người sinh viên học sinh cần bước đi trên đôi chân của mình, suy tư độc lập với chính bộ não của riêng mình, có tinh thần phê phán, luôn thắc mắc tra cứu và can đảm đặt lại ngay cả những câu trả lời đã được chấp nhận. Biết nhìn vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau và đặt những “câu hỏi hay” để khai mở những chân trời mới, để đưa ra lời giải quyết độc đáo và mới mẻ nhất.

Nếu xưa kia người ta thường dựa trên những tri thức và phương tiện đã có sẵn trong tay, để rồi từ đó đưa ra mục đích muốn đạt tới, xu hướng của tương lai, ngược lại, trước tiên xác định mục đích muốn đạt tới, rồi sau đó mới vận dụng tất cả mọi phương tiện đã có cũng như chưa hề có để thực hiện mục đích đó.


Phương pháp giáo dục cổ truyền thường dạy hàng triệu học sinh cần mẫn ghi bài, hết hàng này sang hàng khác và từ cột này đến cột kia. Ngày nay một số chuyên viên đề nghị nên cất giữ thông tin theo kiểu phân loại và liên hệ tương quan của bộ não. Đây là một lối tư duy mang tính phát tán tỏa lan: Cây ký ước có gốc lớn, rồi từ gốc này tỏa lan sum suê nhiều cành và mỗi cành có nhiều nhánh. Mỗi tế bào chốt cứ trên một cành và chịu trách nhiệm lưu tồn một thông tin liên quan. Cây ký ước này luôn được bổ sung bằng những cành mới. Thỉnh thoảng cũng có nhiệm vụ chặt tỉa những cành không cần thiết.

Việc cải tổ chương trình giáo dục vì vậy là một thách đố hàng đầu cho tất cả các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển nhất. Từ mấy thập niên nay, các nước lớn như Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Nga...đều lấy mốc năm 2000 làm đích của cuộc canh tân giáo dục để thích ứng với thiên niên kỷ mới. Theo dự báo của Hiệp hội Điện tử Hoa-kỳ, trong thế kỷ tới mỗi năm nước Mỹ cần tới 140.000 chuyên viên các ngành kỹ thuật cao, nhưng con số sinh viên kỹ thuật tốt nghiệp hàng năm không đủ để đáp ứng nhu cầu này. Các công ty tại Mỹ đang vất vả truy tầm chuyên viên kỹ thuật lành nghề và phải mở cửa đón nhận những chuyên viên nước ngoài. Hiện nay khoảng 45% chuyên viên kỹ thuật có học vị tiến sĩ ở Mỹ là người nước ngoài. Chính vì vậy, hơn 3000 công ty thuộc ngành kỹ thuật thông tin và điện tử đã yêu cầu chính phủ nghiên cứu lại vấn đề đào tạo.

Ngoài ra, nếu tỷ lệ mù chữ của các nước công nghiệp phát triển đã giảm từ 3,4% vào năm 1980 xuống 1,3% vào năm 1995, cách mạng khoa học kỹ thuật đã sản xuất một lớp người “mù chữ mới ”. Họ là những người không có khả năng thích ứng với những thay đổi, nhất là những thay đổi về mặt công nghệ. Chẳng hạn một số người ít học hoặc lớn tuổi tại các nước phát triển không có khả năng xoay xở và đối thoại với máy tự động trong khoảng thời gian ấn định, hoặc không sử dụng được máy vi tính, không biết mở và gởi E mail, hoặc không biết lấy thông tin trên mạng. Họ là những người “mù chữ” trước kỹ thuật tân tiến, cho dù một đôi khi có học vị cao.

Giáo dục còn có chiều kích thứ hai chú trọng đến việc tu thân, luyện tính, phát triển con người toàn diện. Đào tạo không phải chỉ truyền đạt một mớ kiến thức hay kỹ năng, mà còn là một phương pháp trị liệu những khuyết điểm và thói hư tật xấu. Quá trình giáo dục sẽ giúp con người biến đổi chính bản thân, giảm thiểu tham, sân, si và kiểm soát được những xung lực tư nhiên. Học thức có thể cho ta một số vốn, nhưng chưa làm cho ta trở thành trí giả, biết phán đoán và đánh giá sự đời người thế một cách đúng đắn.

Đây là một tiến trình bồi dưỡng và phát triển tâm linh. Đây cũng là giai đoạn xám hối, hoán cải, hồi tâm... để nhìn rõ chính con người thật của mình. Những giây phút thinh lặng, suy niệm, tâm nguyện, tập trung tư tưởng, tọa thiền... giúp con người phản tỉnh và đối diện với chính mình.

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, kinh tế thị trường... càng làm cho con người dễ bị lôi cuốn, kích thích, ham muốn nhiều hơn. Nhiều người lo sợ con người hôm nay có thể biến thành một thứ “robot”, chỉ còn những phản xạ được điều kiện hóa, chứ không thực sự tự quyết, tự chọn, tự chủ chính mình. Càng hoạt động và chạy theo thời đại, con người càng có nguy cơ tha hóa và đánh mất niềm vui nội tâm.

Nói chung nền giáo dục của các nước tiên tiến thành công trong việc chuyển đạt tri thức, nhưng đang gặp nhiều khó khăn trong trách vụ đào tạo và phát triển con người toàn diện. Có thể ví con người hôm nay như một “bệnh nhân ”: lý trí và cơ thể phát triển rất nhanh, nhưng tinh thần và tâm linh thì èo ọt, thậm chí thoái hóa. Sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật là yếu tố tích cực trong lịch sử nhân loại. Nhưng nó như con tuấn mã bất kham, cần được thuần hóa và hướng dẫn. Rất tiếc là người kỵ sĩ hiện tại quá yếu, không đủ khả năng để thuần hóa một con ngựa chứng quá mạnh. Có lẽ đó là một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng về giáo dục hiện nay.


3. Thách đố đối với giáo chức Công giáo Việt Nam



Đối với các nước nghèo việc cải tổ giáo dục càng trở nên một nhu cầu khẩn thiết hơn, bởi vì nếu muốn đất nước chóng phát triển tất nhiên phải có đội ngũ công nhân viên trình độ chuyên môn cao ngõ hầu áp dụng tốt kỹ thuật tân tiến vào sản xuất, chứ không thể tiếp tục sử dụng lao động rẻ tiền như hiện nay. Nếu phát triển ở thế kỷ XXI này là phát triển con người, công tác xây dựng một hệ thống giáo dục tiên tiến, theo tiêu chuẩn quốc tế phải là yếu tố cơ bản của công cuộc phát triển đất nước. Chính vì vậy, tình trạng tụ hậu thê thảm về chất lượng của nền giáo dục Việt Nam là một trong những vấn đề lớn và đáng lo âu nhất10.

Dù rằng quan điểm và phương pháp giáo dục của mỗi người có thể rất khác nhau, nhưng có lẽ mọi người đều có chung mối lo về tình hình giáo dục hiện nay. Thật vậy, sự xuống dốc về y tế và giáo dục là nguy cơ trầm trọng nhất cho tương lai của đất nước11. Các nhà giáo dục và nhà khoa học tham dự hội thảo khoa học về giáo dục Việt Nam do Đại học quốc gia Hà Nội tổ chức (tháng 11 năm 1999) công nhận một số thành tựu như chất lượng giáo dục đã được cải thiện, mạng lưới trường lớp mở rộng, tại một vài nơi hầu như đã xóa được nạn mù chữ ... Tuy nhiên so sánh với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như trình độ giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới, thì tình trạng tụt hậu về giáo dục của ta rất đáng lo ngại.

Yêu cầu tiên quyết là phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo. Cần đưa ra một chiến lược giáo dục cho tương lai theo yêu cầu của đất nước và biến đổi của xã hội hậu công nghiệp. Chính ở điểm này hầu hết các nhà giáo đề cập đến vai trò và trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo sư Nguyễn Văn Chiến thẳng thắn nêu vấn đề: “Có thể nói trong nhiều năm, những người đứng đầu ngành giáo dục đã không đủ năng lực, không đủ tầm nhìn chiến lược để xây dựng ngành” 12.

Trong bản kiến nghị gởi Thủ tướng Chính phủ vào tháng 8 năm 1999, giáo sư Hoàng Tụy nêu rõ vấn đề: “Nhìn vào thực trạng giáo dục hiện nay, có thể thấy một số khó khăn phức tạp thật ra không đáng có, đã nẩy sinh và trở nên trầm trọng chủ yếu do cách quản lý và điều hành chưa tốt:

1)- Thi cử nặng nề quá mức cần thiết, gây nên một áp lực tâm lý và tốn phí vật chất không thể chấp nhận được cho xã hội, cho mọi gia đình.

2)- Dạy thêm, luyện thi tràn lan, ảnh hưởng tệ hại đến uy tín nghề giáo và chất lượng giáo dục.

3)- Chi phí cho sách giáo khoa quá cao so với với hiệu quả sử dụng, mỗi năm đều in mới, rất tốn kém mà không có điều kiện cải tiến cả nội dung lẫn hình thức” 13.

Khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố lần đầu tiên những con số liên quan đến cuộc thi Đại học và Cao đẳng vào năm 2002, cả nước đều hoảng hốt. Nhiều người đã đau đớn kêu lên: “Những con số nhức nhối”, “khủng khiếp”, “nguy kịch”, “bi thảm”, “một sự thật đáng phải rùng mình” 14.

Những từ ngữ nặng nề ở trên không phải là ý kiến hàm hồ, vô căn cứ, mà là những nhận định có nền tảng, dựa trên dữ kiện khách quan. Thật vậy, theo số liệu do chính Bộ Giáo dục công bố, trong số 823.854 thí sinh dự thi chỉ vỏn vẹn 3 thí sinh đậu thủ khoa với số điểm 29,5/30, nhưng lại có tới 713.352 thí sinh (tức 86,6%) với số điểm dưới mức trung bình (14,5/30), trong khi đó số thí sinh có điểm từ 0 - 10 lên tới 556.533 thí sinh (chiếm 67,5%).

Nhiều người đã băn khoăn tự hỏi: tại sao trong một kỳ thi mà đề thi được đánh giá là “bám sát nội dung sách giáo khoa và nói chung là dễ” thế mà số thí sinh bị loại lại khủng khiếp như vậy? Tại sao chỉ khoảng trên 10% thí sinh đạt điểm từ trung bình trở lên với một đề thi được đánh giá “bám sát sách giáo khoa lớp 12”, thế mà chỉ một tháng trước đó, cả nước thi tốt nghiệp Trung học phổ thông đậu trên 90%, thậm chí có nơi đến 99%? Không biết giới trẻ hôm nay qúa dốt hay cách dạy của ta đã làm cho các em ra u mê?

Những con số “khủng khiếp” trên đây phản ánh quá rõ ràng tình trạng giáo dục thiếu định hướng, với căn bệnh trầm kha thi đua “đạt chỉ tiêu”, được hỗ trợ bởi phương pháp dạy nhồi nhét, học vẹt, học tủ, quay cóp... Phải chăng từ mấy chục năm qua chúng ta đã bị ru ngủ với lối học dỏm, thi cử dỏm và bằng cấp dỏm? Người xưa thường nói: “dạy chữ để dạy người”. Nhưng cách dạy “nhồi nhét” và “đọc - chép” dạy chữ đã dở, mong gì đạt được mục đích dạy người!

Quý bạn nghĩ gì về thảm trạng của giáo dục hiện nay? Chúng ta có trách nhiệm nào đối với tình trạng xuống dốc thảm hại về chất lượng giáo dục hiện nay ? Chúng ta có thể và phải đóng góp gì cho đất nước, với tư cách cá nhân cũng như tập thể? Phải chăng thà đốt lên một ngọn nến, còn hơn là ngồi nguyền rủa đêm đen?

Nguyễn Thái Hợp, O.P.


1 Bài nói chuyện với 200 nhà giáo Công giáo, nhân ngày Nhà Giáo, tại toà TGM Giáo phận Sàigòn, dưới sự chủ toạ của Đc Phạm Minh Mẫn.

2 Ngân hàng Thế giới, Knowlegde for Development , Oxford University Press, New York, 1998/1999, tr. 16.

3 Xin coi Jacques Declos, Rapport à L’UNESCO de la Commision Internationale pour l’éducation du 21è sìecle.


4 Ngân hàng Thế giới, sđd, tr. 1.

5 Ngân hàng Quốc tế, op.cit., tr. 20.

6 Xem Ngân hàng Thế giới, Knowledge for Devvelopment , op. cit., tr. 130 - 156; UNDP, Global public Goods , Oxford Press, New York,1999.

7 Xin xem World Commission on Culture and Development, Our Creative Diversity , Paris, 1995; UNESCO, World Education Report 1998 , Paris, 1998; OECD, Education Policy Analysis , Paris, 1997; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục học đại cương , NXB Giáo dục, Hà Nội, 1995; V.K. Xen-tra-cốp, Một số vấn đề về giáo dục , NXB. Sự thật, Hà Nội, 1997; Hội chuyên gia Việt Nam, Đặc san Giáo dục , (California), tháng 6 năm 1992.

8 Xem chẳng hạn loạt bài “Tấm hộ chiếu vào thế kỷ 21”, đăng trên Tuổi trẻ Chủ nhật, từ số 29 đến 36, năm 1999.

9 Hoàng Tụy, Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa nền giáo dục , Diễn Đàn, số 97, tháng 6.2000, tr. 15.

10 Xem Hoàng Tuy, “Suy nghĩ về tình hình giáo gục hiện nay ” báo Khoa học và Đời sống, số 41, 7.10.1996; “Mấy giải pháp cấp bách về giáo dục ”, Diễn Đàn, số 89, tháng 10.2000, tr. 12-14; “Chấn hưng, cải cách, hiện đại hóa nền giáo dục”, Diễn Đàn, số 97, tháng 6.2000, tr. 14-16; Loạt bài của Mai Lan về “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa năm 2000 ”, báo SGGP, từ ngày 29.11 đến 1.12.1999.

11 Theo báo cáo của Bộ Tài chánh, ngân sách dự chi cho giáo dục năm 2000 tăng 10,7% so với năm 1999, nhưng ngân sách đó đã không tăng kịp với số học sinh, thậm chí còn thụt lùi. Nếu chia bình quân theo đầu người thì đã giảm từ 30% xuống còn 18%. Có nơi chỉ còn vỏn vẹn 10%. Theo Viện Chiến lược phát triển của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chi phí thực tế cho một sinh viên vào năm học 2002 là 1,83 triệu đồng, chỉ đạt 30% so với định mức chuẩn đầu tư ngân sách.

Bộ trưởng Bộ Y tế Đỗ Nguyên Phương cho biết: Ngân sách dành cho y tế hàng năm chưa đến 4% trong tổng chi ngân sách và bằng 0,78% so với GDP. Tính bình quân, mỗi người dân chỉ được hưởng 3,5 đôla mỗi năm cho y tế. Như vậy tỉ lệ ngân sách dành cho giáo dục và y tế ở Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với các nước láng giềng .

12 Trích dẫn theo Mai Lan, “Cần một chiến lược giáo dục cho tương lai ”, báo SGGP, thứ tư 1-12-1999, tr. 2.

13 Hoàng Tụy, Mấy giải pháp cấp bách về giáo dục , Diễn Đàn,(Pháp), số 89, tháng 10.1999, tr. 12.

14 Xem “Một sự thất đáng phải rùng mình”, Tuổi Trẻ, 8-10-2002, tr. 10; Gs Tương lai, Một hồi chuông cảnh báo dù hơi muộn nhưng thật cần thiết, Tuổi Trẻ Chủ nhật, 13-10-02, tr. 4 & 42; Hương Giang, Một kỳ thi tú tài trung thực hay một kỳ thi tú tài dỏm + một kỳ thi tuyển thật, Ibidem, tr. 9; Trần Mạnh Hảo, Bộ Giáo dục và Đào tạo còn tiếp tục nói dối đến bao giờ ?, Văn Nghệ Trẻ, số 43, 20-10-2002, tr. 7 & 15; Nguyễn Gia Phong, Tại sao chỉ 30% học sinh trung bình nhưng phải cho 90% tốt nghiệp?, Tuổi Trẻ, 26-10-2002, tr.10