Sự thánh thiện của đời thánh hiến sẽ biến đổi thế giới hôm nay
Nhân loại đang tìm nơi người tu sĩ một chỗ dựa, một chỉ dẫn cho trước những thách đố của xã hội hôm nay. Ngừơi tu sĩ cần phải thắp sáng ngọn nến của sự thánh thiện, phải “khơi lên trong lòng các tín hữu một khát vọng chân thành đạt tới sự thánh thiện, một uớc muốn mạnh mẽ hoán cải và canh tân bản thân, trong một bầu khí cầu nguyện ngày càng sâu đậm hơn, và trong tình liên đới tiếp đón tha nhân, đặc biệt những kẻ túng cực nhất” (Gioan Phaolô II, tông thư Tertio Millennio Adveniente, số 42.)
Đời sống thánh thiện là đích đến của đời thánh hiến. Thật vậy đời thánh hiến biểu lộ sự thánh thiện của Giáo hội qua việc tuân giữa ba lời khuyên Phúc âm, vì đó chính là biểu lộ chính đời sống của Đức Kitô. Công đồng Vat. II cũng khẳng định: Sự thánh thiện của Giáo hội được đặc biệt khích lệ bởi những ngừơi tận hiến tuyên giữ những lời khuyên phúc âm (x. LG số 42). “Chính vì thế, đời thánh hiến biểu lộ phong phú những giá trị của Tin Mừng và làm sáng tỏ trọn vẹn hơn mục tiêu của Giáo Hội là thánh hoá nhân loại. Đời thánh hiến loan báo và ra như sống trước thời mai hậu, thời mà Nước Trời đang hiện diện ở dạng mầm mống và trong mầu nhiệm, sẽ đạt mức viên mãn; thời mà các con cái của sự phục sinh sẽ không cưới vợ lấy chồng nữa, nhưng sẽ nên như các thiên thần của Thiên Chúa (x. Mt 22,30)” (Vita consecrata số 32).
Qủa thật trong một xã hội duy vật, chủ trương thực dụng, một xã hội đề cao tự do cá nhân qúa mức, và coi lạc thú xác thịt như là cùng đích thì chính đời thánh hiến đã chỉ cho con người nhận ra cùng đích và ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Các tu sĩ sẽ chỉ cho thế con người thời đại hôm nay hiểu rõ việc tuân giữ ba lời khuyên phúc âm không làm ngăn trở việc phát triển đích thực nhân vị, trái lại thực chất còn có lợi cho con ngừơi. Thật vậy, chính đời thánh hiến đã góp phấn rất lớn trong việc thanh luyện tâm hồn, phát huy tự do thiêng liêng, và không ngừng sống bác ái nhiệt thành (x. LG 46).
Hãy cho các bạn trẻ và ngừơi đương thời một đời sống thánh thiện. Các bạn không đòi hỏi người tu sĩ cho họ kiến thức, không đòi hỏi cho họ những lời khuyên làm giàu, họ cần một mẫu gương thánh thiện, một chỉ dẫn đích thật về mục đích của cuộc sống. Một bạn trẻ đã bỏ hết mọi sự vào tu trong một nhà dòng, nhưng rồi anh ta đã thất vọng rời bỏ dòng với lời tâm sự: tôi đã thất vọng với cuộc sống ngoài đời, tôi muốn vào dòng để mong tìm được một cuộc sống than thản hơn, thóat tục hơn, nhưng rồi tôi thấy cuộc sống trong dòng cũng chất chứa bôn chen như ở đời, chẳng có gì là khác với đời, cho nên tôi thấy không còn lý do để sống cuộc đời tu trì. Vâng, các bạn trẻ đang mong đợi chúng ta, những tu sĩ cho họ một ly nước trong lành không bị vẫn đục bởi những lo toan, những toan tính bôn chen, một ly nứơc thánh thiện của đời thánh hiến.
Sự thánh thiện đựơc thể hiện trứơc tiên qua đời sống cầu nguyện, để “không ngừng đào sâu ân huệ các lời khuyên Phúc Âm nhờ một tình yêu ngày càng chân thành hơn và mạnh mẽ hơn trong chiều kích Ba Ngôi : tình yêu của Chúa Thánh Thần, Đấng mở rộng tâm hồn đón nhận những linh ứng của Người; tình yêu của Chúa Cha, là nguồn mạch đầu tiên và mục tiêu tối hậu của đời sống thánh hiến Như thế đời thánh hiến tuyên xưng và biểu lộ Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm được tỏ bày cho Giáo Hội làm mẫu mực và nguồn mạch cho hết mọi hình thức sống Ki-tô hữu.” (Vita consecrata 21).
Đời sống cầu nguyện là họat động ưu tiên hàng đầu của đời sống thánh hiến, vì chính qua việc cầu nguyện ngừơi tu sĩ khám phá tình yêu lạ lùng của Thiên Chúa, để từ đó nhận ra sự thức đẩy của Chúa Thánh Thần. “Dưới tác động của Người, những con người ấy lại trải qua kinh nghiệm của ngôn sứ Giê-rê-mi-a : ‘Lạy Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ’ (20,7). Chính Thánh Thần gợi lên nguyện ước đáp trả trọn vẹn; chính Người tháp tùng cuộc tăng trưởng của nguyện ước này, giúp người ta thuận theo đến cùng, và nâng đỡ người ta trung thành thực hiện lời đáp trả; chính Người đào tạo và củng cố tinh thần của những người được kêu gọi, bằng cách làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, và bằng cách thúc đẩy họ nhận lấy sứ mạng của Người làm của mình. Khi để cho Thánh Thần hướng dẫn hầu tiến đi không ngừng trên hành trình thanh luyện, ngày qua ngày, họ trở thành những con người mang danh Đức Ki-tô, nối dài trong lịch sử sự hiện diện đặc biệt của Chúa Phục Sinh.” (Vita consecrata số 19).
Khi cầu nguyện với kinh Lạy Cha, kinh mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ, người tu sĩ khám phá trọn vẹn căn tính của mình. Qủa thật, Kinh Lạy Cha gói gọn trọn vẹn cả cuộc đời Thánh hiến với ba lời khuyên Phúc âm. Đức vâng phục đã được Chúa Giêsu nói đến trong lời khẩn cầu “cho danh Cha được hiển vinh, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. “Danh Cha” được hiển vinh chính trong sự vâng phục của con: nầy con xin đến để làm theo ý Cha. Người tu sĩ khi cầu xin cho “danh Cha được hiển trị” cũng chính là khẳng định lời tuyên khấn vâng phục. Đời thánh hiến không tìm hư danh cho chính mình nhưng là mưu cầu cho Danh Chúa. Việc mưu cầu đó loại bỏ ý riêng, tuân phục ý Chúa qua các bề trên. “Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” cũng là nhắc nhớ người tu sĩ đến đức khó nghèo đã tuyên khấn. Tận hiến đời mình cho Chúa, ngừơi tu sĩ hòan tòan tín thác vào Chúa của mình, loại bỏ mọi lo toan của cuộc sống, không để cho những của cải trần thế làm vẫn đục. Chúa là gia nghiệp, người tu sĩ không còn băn khoan đến những vật dụng thế trần, không còn lo tích trữ của chóng qua, và xử dụng của cải như là phương thế để phục vụ cho vinh quang Nước Chúa. “Xin chớ để chúng con sa chứơc cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi mọi sữ dữ” là lời nhắc nhớ người tu sĩ nhớ đến đức khiết tịnh của đời thánh hiến. Cám dỗ lớn lao ngừơi tu sị thường gặp chính là đời sống khiết tịnh, nhất là trong thời đại hôm nay. Khi cất tiếng khẩn cầu nài xin sự “giữ gìn khỏi sa chước cám dỗ” người tu sĩ luôn ý thức đến thân phận yếu đuối mỏng dòn của mình, để luôn cố gắng khước từ những cơ hội, những hòan cảnh làm cho mình sa ngã.Như vậy sự cầu nguyện là phương thế tối cần để thắp ngọn lửa lửa thánh thiện nơi người tu sĩ. Có người đã nói: bạn hãy cho tôi biết bạn thường nghĩ đến ai, tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai. Nếu ngừơi tu sĩ thường xuyên cầu nguyện, thường xuyên gặp gỡ Thiên Chúa, ngừơi tu sĩ sẽ tỏ cho ngừơi ta biết khuôn mặt của Thiên Chúa trên khuôn mặt của mình.
Bởi vậy Công đồng Vat. II nhấn mạnh: “các tu sĩ nhất thiết phải cần mẫn luyện tập tinh thần cầu nguyện và việc cầu nguyện, múc ở nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Kitô giáo. Trứơc hết, hằng ngày, phải có quyển Kinh Thánh trong tay để học đựơc những ‘kiến thức siêu việt về Chúa Kitô’ (Pl 3, 8) nhờ đọc và suy gẫm” (PC 6). Đời sống cầu nguyện đưa ngừơi tu sĩ đi vào một cuộc sống thân mật với Thiên Chúa, nhờ đó họ nhận ra Thánh ý đối với mình, và can đảm dấn thân vào sự lựa chọn mà đức tin đòi hỏi. (Vita consecrata số 39)
Cầu nguyện không phải chỉ là đọc kinh, nhưng còn là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong một không gian tĩnh lặng. Lời gọi nên thánh chỉ có thể nghe được và nuôi dưỡng trong thái độ thinh lặng thờ phượng trước Thiên Chúa siêu việt vô biên : "Chúng ta phải thú nhận rằng tất cả chúng ta đều cần đến thứ thinh lặng chất chứa sự hiện diện của Đấng mời ta tôn thờ : thinh lặng cần cho thần học để đề cao cái hồn khôn ngoan và tâm linh của nó; thinh lặng cần cho kinh nguyện, để không bao giờ quên rằng nhìn thấy Thiên Chúa có nghĩa là xuống núi với một gương mặt chói lọi đến nỗi phải che mặt bằng một tấm khăn (x. Xh 34,33) [...]; thinh lặng cần cho kẻ dấn thân, để từ chối không để cho mình bị giam hãm trong một cuộc đấu tranh không có tình yêu cũng không có tha thứ [...]. Tất cả mọi người, dù có tín ngưỡng hay không, đều phải học biết giá trị của thinh lặng để cho Vị Kia lên tiếng vào lúc nào và như thế nào tuỳ Người; cũng như để cho chúng ta hiểu nổi lời Người" (Gioan Phaolô II, Tông thư Orientale Lumen (2.5.1995), số 16). Trong thực tế, điều này giả thiết phải hết sức trung thành với việc cầu nguyện phụng vụ và cầu nguyện cá nhân, trung thành với thời gian dành cho tâm nguyện và chiêm niệm, thờ phượng Thánh Thể, tĩnh tâm hàng tháng và linh thao (x. Vita consecrata số 38). Chính trong cuộc gặp gỡ nầy ngừơi tu sĩ sẽ tìm thấy những câu trả lời cho những vấn nạn của thời đại. Cầu nguyện đưa ngừơi tu sĩ đi vào trong nội tại của đời sống Ba ngôi Thiên Chúa, đời sống được diễn tả trong một tình yêu sâu thẳm. Trong tình yêu của Thiên Chúa, ngừơi tu sĩ sẽ học biết cách đáp trả cho những khát vọng của thế giới hôm nay.
Thật vậy, dù không muốn nói ra, nhưng tận thâm sâu con ngừơi vẫn mang nặng nhiều khắc khỏai về cuộc sống. Những cuộc ăn chơi trác táng thâu đêm, nhưng cơn nghiện ma túy, hay nhu mới đây xuất hiện hiện tượng tự tử tập thể cụ thể là 5 nữ sinh thuộc xã Phương Hòang, Thành Hà, Hải Dương, đã cùng nhau nhảy xúông sông để cùng chết (Bản tin: “vì sao 5 nữ sinh ở Hải Dương tự tử”, Tuổi trẻ, ngày 29.05.2006). Các bạn trẻ đã kết liễu cuộc sống bằng cách tự tử tập thể, vì tất cả đều không thỏa mãn với cuộc sống hiện tại, họ đang khao khát một ý nghĩa cuộc sống đích thật. Do đó ngừơi tu sĩ có trách nhiệm làm thỏa mãn cơn khát của họ. Họ đang khát tình yêu, một tình yêu mang lại hạnh phúc thật. Tình yêu đó chỉ có thể kín múc nơi Tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi. Một tình yêu híến dâng trọn vẹn, đáp trả trọn vẹn Như Richard đã trình bày: tình yêu Thiên Chúa là một tình yêu tương hỗ: trong tình yêu tương hỗ có một sự thúc đẩy mãnh liệt … không gì hiếm hơn và cũng không có gì qúi hơn lòng Ước muốn. Đó chính là nguồn mạch của tình yêu, nó thúc đẩy tình yêu của người yêu dành cho người được yêu cực kỳ mãnh liệt, và tình yêu của người được yêu dành cho người yêu cũng cực kỳ mãnh liệt hướng tới một người khác cũng bằng chính tình yêu cực kỳ mãnh liệt. Trong tình yêu tương hỗ không chỉ dừng lại ở hai vế, nhưng niềm vui và sự hoan lạc của tình yêu trọn hảo giữa ngươì yêu và người được yêu tiếp tục trao ban cho nhân vật thứ ba, người cùng được yêu (condilectus). Tình yêu được hiện thực trong một sự liên đới tình yêu giữa hai, cả hai chia sẻ niềm vui và hoan lạc cho nhau. Tuy nhiên một tình yêu hoàn hảo không chỉ dừng lại ở mối dây liên kết của hai, nhưng tình yêu đó hướng tới một nhân vật thứ ba cùng bản tính với hai trong mối dây liên kết tình yêu. (Richard St Victor, De Trin. III 7).
Giới trẻ đang khao khát một tình yêu như vậy, bởi xã hội hôm nay chất chứa quá nhiều tham vọng ích kỷ, người ta có nói đến tình yêu đấy, nhưng cuối cùng tình yêu trở thành phương tiện để tuyên truyền hầu đạt tới mục đích tư riêng ích kỷ. Ngay trong tình yêu hôn nhân và gia đình cũng đang bị vẩn đục bởi cuộc sống thực dụng và hưởng thụ cho riêng bản thân mình. Chẳng lạ gì các bạn trẻ bỏ nhà ra đi mặc dầu trong gia đình không thiếu một thứ gì, chỉ thiếu một tình yêu chân thật. Gieo rắc Tình Yêu Thiên Chúa vào xã hội hôm nay là ơn gọi của người thánh hiến. Nhưng ngừơi ta sẽ không thể cho điều ngừơi ta không có. Để gieo rắc tình yêu, ngừơi thánh hiến hãy sắm cho mình một kho tàng yêu thương được kín múc từ những giờ cầu nguyện, những cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Tình yêu ngừơi tu sĩ gieo rắc luôn long lánh sự thánh thiện như hạt ngọc sáng ngời. Nhờ đó tình yêu trao ban không bị vẫn đục bởi một lý do phàm tục nào, nhưng thanh thóat của một tình yêu hiến dâng, phục vụ vị tha, Nhờ đó ngừơi tu sĩ sẽ thực sự phản chiếu ánh sáng huy hòang thánh thiện của Thiên Chúa. Chỉ có thể yêu đích thật khi con tim ngập tràn vẻ thánh thiện.
Lm Hà văn Minh
Nhân loại đang tìm nơi người tu sĩ một chỗ dựa, một chỉ dẫn cho trước những thách đố của xã hội hôm nay. Ngừơi tu sĩ cần phải thắp sáng ngọn nến của sự thánh thiện, phải “khơi lên trong lòng các tín hữu một khát vọng chân thành đạt tới sự thánh thiện, một uớc muốn mạnh mẽ hoán cải và canh tân bản thân, trong một bầu khí cầu nguyện ngày càng sâu đậm hơn, và trong tình liên đới tiếp đón tha nhân, đặc biệt những kẻ túng cực nhất” (Gioan Phaolô II, tông thư Tertio Millennio Adveniente, số 42.)
Đời sống thánh thiện là đích đến của đời thánh hiến. Thật vậy đời thánh hiến biểu lộ sự thánh thiện của Giáo hội qua việc tuân giữa ba lời khuyên Phúc âm, vì đó chính là biểu lộ chính đời sống của Đức Kitô. Công đồng Vat. II cũng khẳng định: Sự thánh thiện của Giáo hội được đặc biệt khích lệ bởi những ngừơi tận hiến tuyên giữ những lời khuyên phúc âm (x. LG số 42). “Chính vì thế, đời thánh hiến biểu lộ phong phú những giá trị của Tin Mừng và làm sáng tỏ trọn vẹn hơn mục tiêu của Giáo Hội là thánh hoá nhân loại. Đời thánh hiến loan báo và ra như sống trước thời mai hậu, thời mà Nước Trời đang hiện diện ở dạng mầm mống và trong mầu nhiệm, sẽ đạt mức viên mãn; thời mà các con cái của sự phục sinh sẽ không cưới vợ lấy chồng nữa, nhưng sẽ nên như các thiên thần của Thiên Chúa (x. Mt 22,30)” (Vita consecrata số 32).
Qủa thật trong một xã hội duy vật, chủ trương thực dụng, một xã hội đề cao tự do cá nhân qúa mức, và coi lạc thú xác thịt như là cùng đích thì chính đời thánh hiến đã chỉ cho con người nhận ra cùng đích và ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Các tu sĩ sẽ chỉ cho thế con người thời đại hôm nay hiểu rõ việc tuân giữ ba lời khuyên phúc âm không làm ngăn trở việc phát triển đích thực nhân vị, trái lại thực chất còn có lợi cho con ngừơi. Thật vậy, chính đời thánh hiến đã góp phấn rất lớn trong việc thanh luyện tâm hồn, phát huy tự do thiêng liêng, và không ngừng sống bác ái nhiệt thành (x. LG 46).
Hãy cho các bạn trẻ và ngừơi đương thời một đời sống thánh thiện. Các bạn không đòi hỏi người tu sĩ cho họ kiến thức, không đòi hỏi cho họ những lời khuyên làm giàu, họ cần một mẫu gương thánh thiện, một chỉ dẫn đích thật về mục đích của cuộc sống. Một bạn trẻ đã bỏ hết mọi sự vào tu trong một nhà dòng, nhưng rồi anh ta đã thất vọng rời bỏ dòng với lời tâm sự: tôi đã thất vọng với cuộc sống ngoài đời, tôi muốn vào dòng để mong tìm được một cuộc sống than thản hơn, thóat tục hơn, nhưng rồi tôi thấy cuộc sống trong dòng cũng chất chứa bôn chen như ở đời, chẳng có gì là khác với đời, cho nên tôi thấy không còn lý do để sống cuộc đời tu trì. Vâng, các bạn trẻ đang mong đợi chúng ta, những tu sĩ cho họ một ly nước trong lành không bị vẫn đục bởi những lo toan, những toan tính bôn chen, một ly nứơc thánh thiện của đời thánh hiến.
Sự thánh thiện đựơc thể hiện trứơc tiên qua đời sống cầu nguyện, để “không ngừng đào sâu ân huệ các lời khuyên Phúc Âm nhờ một tình yêu ngày càng chân thành hơn và mạnh mẽ hơn trong chiều kích Ba Ngôi : tình yêu của Chúa Thánh Thần, Đấng mở rộng tâm hồn đón nhận những linh ứng của Người; tình yêu của Chúa Cha, là nguồn mạch đầu tiên và mục tiêu tối hậu của đời sống thánh hiến Như thế đời thánh hiến tuyên xưng và biểu lộ Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm được tỏ bày cho Giáo Hội làm mẫu mực và nguồn mạch cho hết mọi hình thức sống Ki-tô hữu.” (Vita consecrata 21).
Đời sống cầu nguyện là họat động ưu tiên hàng đầu của đời sống thánh hiến, vì chính qua việc cầu nguyện ngừơi tu sĩ khám phá tình yêu lạ lùng của Thiên Chúa, để từ đó nhận ra sự thức đẩy của Chúa Thánh Thần. “Dưới tác động của Người, những con người ấy lại trải qua kinh nghiệm của ngôn sứ Giê-rê-mi-a : ‘Lạy Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ’ (20,7). Chính Thánh Thần gợi lên nguyện ước đáp trả trọn vẹn; chính Người tháp tùng cuộc tăng trưởng của nguyện ước này, giúp người ta thuận theo đến cùng, và nâng đỡ người ta trung thành thực hiện lời đáp trả; chính Người đào tạo và củng cố tinh thần của những người được kêu gọi, bằng cách làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục, và bằng cách thúc đẩy họ nhận lấy sứ mạng của Người làm của mình. Khi để cho Thánh Thần hướng dẫn hầu tiến đi không ngừng trên hành trình thanh luyện, ngày qua ngày, họ trở thành những con người mang danh Đức Ki-tô, nối dài trong lịch sử sự hiện diện đặc biệt của Chúa Phục Sinh.” (Vita consecrata số 19).
Khi cầu nguyện với kinh Lạy Cha, kinh mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ, người tu sĩ khám phá trọn vẹn căn tính của mình. Qủa thật, Kinh Lạy Cha gói gọn trọn vẹn cả cuộc đời Thánh hiến với ba lời khuyên Phúc âm. Đức vâng phục đã được Chúa Giêsu nói đến trong lời khẩn cầu “cho danh Cha được hiển vinh, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. “Danh Cha” được hiển vinh chính trong sự vâng phục của con: nầy con xin đến để làm theo ý Cha. Người tu sĩ khi cầu xin cho “danh Cha được hiển trị” cũng chính là khẳng định lời tuyên khấn vâng phục. Đời thánh hiến không tìm hư danh cho chính mình nhưng là mưu cầu cho Danh Chúa. Việc mưu cầu đó loại bỏ ý riêng, tuân phục ý Chúa qua các bề trên. “Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” cũng là nhắc nhớ người tu sĩ đến đức khó nghèo đã tuyên khấn. Tận hiến đời mình cho Chúa, ngừơi tu sĩ hòan tòan tín thác vào Chúa của mình, loại bỏ mọi lo toan của cuộc sống, không để cho những của cải trần thế làm vẫn đục. Chúa là gia nghiệp, người tu sĩ không còn băn khoan đến những vật dụng thế trần, không còn lo tích trữ của chóng qua, và xử dụng của cải như là phương thế để phục vụ cho vinh quang Nước Chúa. “Xin chớ để chúng con sa chứơc cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi mọi sữ dữ” là lời nhắc nhớ người tu sĩ nhớ đến đức khiết tịnh của đời thánh hiến. Cám dỗ lớn lao ngừơi tu sị thường gặp chính là đời sống khiết tịnh, nhất là trong thời đại hôm nay. Khi cất tiếng khẩn cầu nài xin sự “giữ gìn khỏi sa chước cám dỗ” người tu sĩ luôn ý thức đến thân phận yếu đuối mỏng dòn của mình, để luôn cố gắng khước từ những cơ hội, những hòan cảnh làm cho mình sa ngã.Như vậy sự cầu nguyện là phương thế tối cần để thắp ngọn lửa lửa thánh thiện nơi người tu sĩ. Có người đã nói: bạn hãy cho tôi biết bạn thường nghĩ đến ai, tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai. Nếu ngừơi tu sĩ thường xuyên cầu nguyện, thường xuyên gặp gỡ Thiên Chúa, ngừơi tu sĩ sẽ tỏ cho ngừơi ta biết khuôn mặt của Thiên Chúa trên khuôn mặt của mình.
Bởi vậy Công đồng Vat. II nhấn mạnh: “các tu sĩ nhất thiết phải cần mẫn luyện tập tinh thần cầu nguyện và việc cầu nguyện, múc ở nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Kitô giáo. Trứơc hết, hằng ngày, phải có quyển Kinh Thánh trong tay để học đựơc những ‘kiến thức siêu việt về Chúa Kitô’ (Pl 3, 8) nhờ đọc và suy gẫm” (PC 6). Đời sống cầu nguyện đưa ngừơi tu sĩ đi vào một cuộc sống thân mật với Thiên Chúa, nhờ đó họ nhận ra Thánh ý đối với mình, và can đảm dấn thân vào sự lựa chọn mà đức tin đòi hỏi. (Vita consecrata số 39)
Cầu nguyện không phải chỉ là đọc kinh, nhưng còn là cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa trong một không gian tĩnh lặng. Lời gọi nên thánh chỉ có thể nghe được và nuôi dưỡng trong thái độ thinh lặng thờ phượng trước Thiên Chúa siêu việt vô biên : "Chúng ta phải thú nhận rằng tất cả chúng ta đều cần đến thứ thinh lặng chất chứa sự hiện diện của Đấng mời ta tôn thờ : thinh lặng cần cho thần học để đề cao cái hồn khôn ngoan và tâm linh của nó; thinh lặng cần cho kinh nguyện, để không bao giờ quên rằng nhìn thấy Thiên Chúa có nghĩa là xuống núi với một gương mặt chói lọi đến nỗi phải che mặt bằng một tấm khăn (x. Xh 34,33) [...]; thinh lặng cần cho kẻ dấn thân, để từ chối không để cho mình bị giam hãm trong một cuộc đấu tranh không có tình yêu cũng không có tha thứ [...]. Tất cả mọi người, dù có tín ngưỡng hay không, đều phải học biết giá trị của thinh lặng để cho Vị Kia lên tiếng vào lúc nào và như thế nào tuỳ Người; cũng như để cho chúng ta hiểu nổi lời Người" (Gioan Phaolô II, Tông thư Orientale Lumen (2.5.1995), số 16). Trong thực tế, điều này giả thiết phải hết sức trung thành với việc cầu nguyện phụng vụ và cầu nguyện cá nhân, trung thành với thời gian dành cho tâm nguyện và chiêm niệm, thờ phượng Thánh Thể, tĩnh tâm hàng tháng và linh thao (x. Vita consecrata số 38). Chính trong cuộc gặp gỡ nầy ngừơi tu sĩ sẽ tìm thấy những câu trả lời cho những vấn nạn của thời đại. Cầu nguyện đưa ngừơi tu sĩ đi vào trong nội tại của đời sống Ba ngôi Thiên Chúa, đời sống được diễn tả trong một tình yêu sâu thẳm. Trong tình yêu của Thiên Chúa, ngừơi tu sĩ sẽ học biết cách đáp trả cho những khát vọng của thế giới hôm nay.
Thật vậy, dù không muốn nói ra, nhưng tận thâm sâu con ngừơi vẫn mang nặng nhiều khắc khỏai về cuộc sống. Những cuộc ăn chơi trác táng thâu đêm, nhưng cơn nghiện ma túy, hay nhu mới đây xuất hiện hiện tượng tự tử tập thể cụ thể là 5 nữ sinh thuộc xã Phương Hòang, Thành Hà, Hải Dương, đã cùng nhau nhảy xúông sông để cùng chết (Bản tin: “vì sao 5 nữ sinh ở Hải Dương tự tử”, Tuổi trẻ, ngày 29.05.2006). Các bạn trẻ đã kết liễu cuộc sống bằng cách tự tử tập thể, vì tất cả đều không thỏa mãn với cuộc sống hiện tại, họ đang khao khát một ý nghĩa cuộc sống đích thật. Do đó ngừơi tu sĩ có trách nhiệm làm thỏa mãn cơn khát của họ. Họ đang khát tình yêu, một tình yêu mang lại hạnh phúc thật. Tình yêu đó chỉ có thể kín múc nơi Tình yêu của Thiên Chúa Ba ngôi. Một tình yêu híến dâng trọn vẹn, đáp trả trọn vẹn Như Richard đã trình bày: tình yêu Thiên Chúa là một tình yêu tương hỗ: trong tình yêu tương hỗ có một sự thúc đẩy mãnh liệt … không gì hiếm hơn và cũng không có gì qúi hơn lòng Ước muốn. Đó chính là nguồn mạch của tình yêu, nó thúc đẩy tình yêu của người yêu dành cho người được yêu cực kỳ mãnh liệt, và tình yêu của người được yêu dành cho người yêu cũng cực kỳ mãnh liệt hướng tới một người khác cũng bằng chính tình yêu cực kỳ mãnh liệt. Trong tình yêu tương hỗ không chỉ dừng lại ở hai vế, nhưng niềm vui và sự hoan lạc của tình yêu trọn hảo giữa ngươì yêu và người được yêu tiếp tục trao ban cho nhân vật thứ ba, người cùng được yêu (condilectus). Tình yêu được hiện thực trong một sự liên đới tình yêu giữa hai, cả hai chia sẻ niềm vui và hoan lạc cho nhau. Tuy nhiên một tình yêu hoàn hảo không chỉ dừng lại ở mối dây liên kết của hai, nhưng tình yêu đó hướng tới một nhân vật thứ ba cùng bản tính với hai trong mối dây liên kết tình yêu. (Richard St Victor, De Trin. III 7).
Giới trẻ đang khao khát một tình yêu như vậy, bởi xã hội hôm nay chất chứa quá nhiều tham vọng ích kỷ, người ta có nói đến tình yêu đấy, nhưng cuối cùng tình yêu trở thành phương tiện để tuyên truyền hầu đạt tới mục đích tư riêng ích kỷ. Ngay trong tình yêu hôn nhân và gia đình cũng đang bị vẩn đục bởi cuộc sống thực dụng và hưởng thụ cho riêng bản thân mình. Chẳng lạ gì các bạn trẻ bỏ nhà ra đi mặc dầu trong gia đình không thiếu một thứ gì, chỉ thiếu một tình yêu chân thật. Gieo rắc Tình Yêu Thiên Chúa vào xã hội hôm nay là ơn gọi của người thánh hiến. Nhưng ngừơi ta sẽ không thể cho điều ngừơi ta không có. Để gieo rắc tình yêu, ngừơi thánh hiến hãy sắm cho mình một kho tàng yêu thương được kín múc từ những giờ cầu nguyện, những cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Tình yêu ngừơi tu sĩ gieo rắc luôn long lánh sự thánh thiện như hạt ngọc sáng ngời. Nhờ đó tình yêu trao ban không bị vẫn đục bởi một lý do phàm tục nào, nhưng thanh thóat của một tình yêu hiến dâng, phục vụ vị tha, Nhờ đó ngừơi tu sĩ sẽ thực sự phản chiếu ánh sáng huy hòang thánh thiện của Thiên Chúa. Chỉ có thể yêu đích thật khi con tim ngập tràn vẻ thánh thiện.
Lm Hà văn Minh