Dư âm câu chuyện: Không cần cám ơn.

Không cần cám ơn

Có một người viết thư pháp không tốt, nhưng rất thích đi khắp nơi viết chữ cho người ta.
Một ngày nọ, nhìn thấy có người cầm một cái quạt trắng thì lại muốn đề chữ. Người ấy từ chối và quỳ xuống. Anh ta nói: “Bất quá ta chỉ viết cho ngươi vài chữ, không cần cám ơn”.
Người ấy cười đáp: “Tôi chỉ xin ông đừng đá cái quạt của tôi mà thôi !”
(Hi đàm lục)

Suy tư:

Ở đời, hai chữ cám ơn rất là cần thiết, nhưng có hạng người sau đây cảm thấy không xứng đáng để nhận hai chữ cám ơn:
- Các linh mục không muốn nhận hai chữ cám ơn, vì các ngài biết rằng, mình chỉ là một đầy tớ vô dụng của Thiên Chúa, và chỉ làm theo ý của Thiên Chúa mà thôi.
- Các tu sĩ nam nữ họ cũng không muốn nhận hai chữ cám ơn khi phục vụ tha nhân, vì họ đi tu là để phục vụ Chúa Giê-su trong mọi người, nên họ cũng cảm thấy không xứng đáng để được cám ơn.
- Những người giàu có họ cũng không muốn nhận hai chữ cám ơn, vì tiền bạc họ bỏ ra giúp đỡ tha nhân không phải bởi họ mà có, nhưng Thiên Chúa ban cho họ để họ thay mặt Ngài mà giúp đỡ anh chị em.
Có hạng người không dám nhận hai chữ cám ơn, thì cũng có hạng người thích người khác phải cám ơn mình:
- Những người thích quyền lực thì cũng thích người khác cám ơn mình, để bày tỏ mình đã ban ân huệ cho họ.
- Những người thích khoe khoang thì cũng thích người khác cám ơn mình, để có dịp khoe khoang công đức mình đã làm cho người khác.
Hai chữ cám ơn thì luôn phải có trên môi miệng của người lịch sự, bởi vì nó biểu lộ nét văn minh và văn hóa của một con người.
Phải cám ơn Thiên Chúa khi người khác cám ơn mình, nhưng phải biết mắc cở trong lòng khi người khác cám ơn mình, lý do tại sao thì tất cả người Ki-tô hữu đều đã biết.
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb

Dư âm câu chuyện.

Dân gian Việt có câu “Thi ơn bất cầu báo” để nói lên tình cảm của người làm ơn mà không cần được trả ơn. Trong cuộc sống đời thường, nếu có những người chịu ơn ai đó rồi vô tình hay cố ý quên tuốt cái việc làm tốt ấy đi, thì cũng có những người rất áy náy chỉ mong có dịp trả được cái ơn ấy, bằng cách này hay cách khác.

Chúng ta mang ơn ai mà trả được ơn ấy cho chính người mình chịu ơn thì thật là may mắn. Trong đời sống thiêng liêng, Chúa và Phật dạy ta không cần trả ơn các Ngài mà hãy đi làm việc thiện cho đồng loại, và trong cuộc sống đời thường cũng có nhiều người đã làm theo ý các Ngài.

Tôi có một kỷ niệm, đúng ra là một sự chịu ơn, mà tôi chẳng bao giờ quên, và cũng chẳng bao giờ có thể trả được ơn ấy cho người mình chịu ơn. Thời chiến tranh chống thực dân Pháp, mọi người sống trong vùng sôi động đều phải rày đây mai đó để tránh lửa đạn. Để tránh máy bay Pháp bắn nhầm hay bắn bậy, những người di chuyển phải ra đi từ sáng tinh mơ cho tới khi trời sáng bạch, hoặc xế chiều cho tới tối. Hôm ấy, mẹ tôi, em gái tôi, và tôi lội bộ di chuyển từ làng này qua làng khác, cách nhau chỉ chưa tới 20 cây số. Ba mẹ con, ba bị quần áo đeo vai, di chuyển quá chậm vì em gái tôi không đi bộ quen, lại thêm đôi dép làm phồng chân nên phải xách dép và đi cà nhắc. Kết quả là mẹ con tôi mới đi được hơn nửa đường thì trời chập choạng tối mà em gái tôi thì như không thể đi tiếp.

Làm sao đây? Rải rác cũng có một vài căn nhà tranh nhưng không gần lắm, mà có chắc người ta chứa chấp mình? Nhìn quanh, mẹ con tôi thấy một ngôi chùa và mẹ tôi quyết định xin ngủ nhờ trong chùa. Mẹ tôi gõ cổng chùa, một chú tiểu chạy ra, mẹ tôi nói ý định. Chú tiểu quay vào và lát sau, một vị sư đã lớn tuổi đi ra. Ngài chắp tay “Mô Phật”, nói gì với mẹ tôi mà tôi không nghe rõ, rồi giơ tay làm hiệu cho mẹ con tôi vào. Mẹ con tôi bỏ mấy bị quần áo giữa sân chùa. Mẹ tôi bảo chúng tôi đứng đó rồi tới chánh điện vái Phật. Tôi, chắc cả em tôi, lấy làm lạ vì lần đầu tiên chúng tôi thấy mẹ tôi, một người Công giáo vái Phật.

Lát sau, chú tiểu và vị sư già khiêng ra hai con ngựa kê ván để giữa sân chùa rồi quay vào khiêng mấy tấm ván đặt lên thành một tấm phản vừa đủ ba mẹ con tôi nằm. Mẹ tôi bước tới tỏ lời cám ơn và vị sư già nói gì đó mà tôi cũng không nghe rõ, nhưng nhìn thấy chú tiểu mang ra một khay nước trà và một nải chuối chín thì anh em tôi mừng lắm.

Đã hơn nửa thế kỷ qua đi và chắc chắn vị sư già cũng đã về Niết bàn với Phật. Tôi luôn có một ao ước sẽ có dịp được quay trở lại thăm ngôi chùa ấy, nếu chiến tranh chưa tàn phá. Thế rồi mùa Phật Đản năm nay, trên Vietcatholic.net, tôi được đọc và nhìn hình ảnh của phái đoàn Công giáo do Đức TGM Ngô Quang Kiệt gởi đến chùa Quán Sứ ở Hà Nội để chúc mừng ngày kỷ niệm Đức Phật sinh ra và vấn an vị Hoà thương trụ trì.

Tôi thật cảm động và cảm thấy nhẹ nhàng vì qua sự kiện đầy ý nghĩa này, dường như tôi đã gởi được lời cám ơn chân thành đến vị sư già đã cho mẹ con tôi tá túc qua đêm ấy.