Liệu Đức Tin không thôi có đủ cho việc Cứu Rỗi không? (Phần 2)

Thần Học Gia Ilaria Morali Sẽ Trả Lời Câu Hỏi Đó.

ROME (Zenit.org).- Liệu đức tin không thôi có đủ cho việc cứu rỗi không?

Ilaria Morali là giáo sư về thần học tại trường Đại Học Gregorian, và cũng là chuyên gia về chủ đề có liên quan đến ơn huệ, và Ông sẽ trả lời câu hỏi này trong Phần 2 của cuộc phỏng vấn với hãng tin Zenit.

Cuộc phỏng vấn diễn ra nhằm mục đích tìm hiểu một cách rõ hơn về bài diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong buổi tiếp kiến chung vào ngày 30 tháng 11 năm 2005 vừa qua, khi Ngài nói về khả năng cứu rỗi cho những người không phải là Kitô Giáo.

Hỏi (H): Thưa Ông, kể từ Công Đồng Chung Vaticăn II, quan điểm của Giáo Hội Công Giáo về những người không có niềm tin là như thế nào?

Thần Học Gia Morali (T): Thưa, câu hỏi này cũng là dịp để tôi đề cập đến một trong những khía cạnh mà Đức Thánh Cha đã diễn giải có liên quan “sự mong muốn cháy bỏng” nơi những người không có đức tin Công Giáo.

Công Đồng Chung Vaticăn II xem những người không có niềm tin cũng giống như những người tùy thuộc vào các tôn giáo khác. Tuy họ là hai nhóm hoàn toàn khác biệt nhau, thế nhưng tựu chung lại là họ không có đức tin vào Chúa Kitô. Nhóm những người thuộc các tôn giáo khác, vun xới nên một vài kiểu xác tín tôn giáo, còn nhóm không có tôn giáo, thì họ chẳng có đức tin gì cả.

Trong Điều 16 của hiến chương học thuyết (dogmatic constitution) “Lumen Gentium,” Công Đồng, nhắc lại nguyên tác của việc Thiên Chúa cứu rỗi cho tất cả mọi người, và khẳng định rằng tất cả những ai tìm kiếm Thiên Chúa với lòng thành thật, và nổ lực tìm kiếm Ngài thông qua ơn huệ mà Ngài ban, chủ yếu là do lương tâm thúc đẩy, thì có thể nhận được sự cứu rỗi đời đời.

Sự khẳng định này phản ánh một cách gián tiếp về những giảng dạy của Đức Cố Giáo Hoàng Piô IX, thế nhưng nó lại nhấn mạnh vào một khía cạnh khác không những được xem xét đến mãi cho đến bây giờ, đó chính là ơn huệ. Việc kiếm tìm sự thiện hão, lòng quyết tâm và ý chí đem ra thực hành chính là những ảnh hưởng về hành động của ơn huệ.

Hơn nữa, Công Đồng còn thêm vào, hay nói khác đi hầu như muốn nhấn mạnh đến nguyên lý này là “Sự Quan Phòng của Thiên Chúa không chối từ đi sự giúp đỡ cần thiết cho việc cứu rỗi đối với những ai, vì suy cho cùng chẳng thể trách móc gì họ nữa, khi họ chưa có được sự hiểu biết một cách chính xác về Thiên Chúa và ơn huệ của Ngài, để cố sống một cuộc sống tốt đẹp, hoàn hảo.”

Theo Công Đồng, không có nổ lực nào có thể xãy ra “mà không có ơn huệ.” Điều đó có nghĩa là Thiên Chúa cũng gần gũi với những ai chưa biết Ngài. Sự giảng dạy tương tự này được tìm thấy trong Hiến Chế về mục vụ “Vui Mừng và Hy Vọng,” (Gaudium et Spes) mà qua Mục 22, Công Đồng nhìn nhận rằng ơn huệ tác động trong trái tim của mọi con người có thiện chí.

Những người mà Đức Thánh Cha ám chỉ đến, theo một nghĩa nhất định nào đó, cũng là những người mà Công Đồng nói tới. Tuy nhiên, một số người có thể chống đối rằng, trong Mục 7 của sắc lệnh “Ad Gentes” về hoạt động truyền giáo, Công Đồng nhấn mạnh đến nguyên tắc cần thiết của đức tin cho sự cứu rỗi, ngoài việc cần phải được rửa tội và nhu cầu của Giáo Hội.

Công Đồng Chung Vaticăn II khẳng định rằng: “những người có thể không được cứu rỗi, là những người mà, Thiên Chúa, thông qua Chúa Giêsu Kitô đã thành lập ra Giáo Hội như là một điều gì đó cần thiết, mà họ vẫn không muốn tham dự vào Giáo Hội, hay muốn được hòa quyện chính mình vào trong đó.”

Theo học thuyết Công Giáo, dĩ nhiên đức tin, là điều cần thiết cho việc cứu rỗi. Nguyên tắc này được phê chuẩn hóa trong Thư Gửi Cho Hebrews 11:6, đã được chấp nhận bởi truyền thống Kitô Giáo kể từ lúc ban đầu. Và tại đây, trong bối cảnh này, một lần nữa, nó được đề cập đến một cách rõ ràng hơn bởi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI.

(H): Thưa Ông, và đối với những ai không có đức tin trọn vẹn thì sao?

(T): Thưa, chính truyền thống Kitô Giáo nhìn nhận rằng không phải tất cả đều lãnh nhận được ơn huệ trọn vẹn của đức tin, và dĩ nhiên, cũng có nhiều dạng đức tin không mấy là hoàn hảo cho lắm.

Trong chương có liên quan đến đức tin, Giáo Lý La Mã (Roman Catechism), vốn được soạn thảo sau Công Đồng Trent, nhìn nhận rằng có nhiều mức độ đức tin khác nhau nghĩa là có nhiều người lại có đức tin rất vững mạnh, thế còn những người khác, thì họ lại có một đức tin rời rạc, suy yếu, dễ lung lay.

Giảng dạy này có được là từ Phúc Âm, liên quan đến rất nhiều lần mà Chúa Giêsu Kitô công bố về đức tin của các môn đệ Ngài, của những ai mà Ngài đã gặp gỡ.

Tuy nhiên, chúng ta không thể ngừng tại phần suy niệm ban đầu của Công Đồng, như được đề nghị trong Mục 7 của sắc lệnh “Ad Gentes” về sự cần thiết của đức tin, mà chúng ta còn phải đọc những phần nối tiếp theo đó là: “Mặc dầu Thiên Chúa, qua rất nhiều cách, có thể tự mình hướng dẫn những ai kiên quyết không muốn biết đến Phúc Âm của Ngài, và làm cho họ nhận biết rằng không có đức tin, thì họ không thể nào có thể làm hài lòng Ngài, tuy nhiên cái nhu cầu đó, Ngài đã để lại cho Giáo Hội, và đồng thời, đó cũng là một sứ vụ thiêng liêng, mà Giáo Hội cần phải làm để rao giảng và lan truyền Phúc Âm.”

Điều này có nghĩa là Thiên Chúa có những cách riêng của Ngài để hướng dẫn con người đến đức tin và chúng ta chắc chắn không thể nào cố tình suy diễn hay phỏng đoán vào hành động này của Đấng Quan Phòng nơi trái tim của nhân loại. Vì sự phức tạp tiềm ẩn, mà giảng dạy của “Ad Gentes” giúp chúng ta hiểu được hai nguyên tắc.

Nguyên tắc thứ nhất chính là, không thể nào được cứu rỗi mà không có đức tin. Như lịch sử đã dạy cho chúng ta, con người chắc chắc là đã hiện diện và sẽ tồn tại, những ai có chủ ý chối từ (consciously deny) Ngài, tự họ dính vào những lỗi lầm ác độc (atrocious faults). Họ sẽ phải trả lời trước mặt Thiên Chúa về lý do tại sao họ ngược đãi và loại bỏ Ngài ra khỏi cuộc sống của họ, và việc đó sẽ đưa họ vào hỏa ngục. Đó chính là một sự thật không thể trốn thoát được vì chưng, đối với những loại người đó, họ không có được ơn cứu rỗi.

Nguyên tắc thứ nhì chính là, vẫn còn có rất nhiều người, thậm chí mặc dầu họ tự tuyên bố rằng họ không phải là những người không có niềm tin, thế nhưng họ vẫn nhận được ơn cứu rỗi đời đời. Thì đây chính là những người mà người Kitô Giáo cần phải noi gương và bắt chước vì những hành động khác thường, rất đầy lòng nhân ái và tính chánh trực ngay thẳng (rectitude) của họ.

Nếu tôi chấp nhận giảng dạy nền tảng này, thì đối với tôi, một người có niềm tin, thì hành động tốt đẹp mà họ làm, thì đó cũng chính là dư âm của ơn huệ đang tác động trong họ theo một cách tiềm ẩn, và tôi phải cầu nguyện rằng ơn huệ này, một ngày nào đó, cũng sẽ cho họ khả năng được tìm đến một đức tin trọn vẹn.

Hơn nữa, tôi phải thú nhận rằng qua tác động vô hình của ơn huệ, Thiên Chúa dẫn họ đến đức tin theo một cách rất huyền nhiệm và bí ẩn mà con người chúng ta không thể hiểu và biết được.

(H): Thưa Ông, liệu có cần thiết để cho ơn huệ tự hành động nơi những người mà nó tác động theo một cách tiềm ẩn không?

(T): Thưa, điều đó không có nghĩa là, với tư cách là một người Kitô Giáo, tôi không làm bất cứ điều gì để ơn huệ này tác động theo một cách tiềm ẩn nơi những người có thiện chí, vốn là những người có thể nhận được sự trọn vẹn, mặc dầu không phải lúc nào họ cũng nhận được điều này. Sự chứng kiến và lời cầu nguyện của tôi là để phù trợ vào công trình của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa có cách làm và sáng tạo của riêng Ngài.

Đề cập trở lại “sự mong muốn cháy bỏng” (spark desire) mà Đức Thánh Cha đề cập tới trong bài chia sẽ của Ngài, tôi muốn nhắc lại một sự khẳng định của Tertullian là “alma naturaliter Christiana” tức nét tự nhiên của tâm hồn chính là Kitô Giáo. Ông nói đến điều này là nhằm ám chỉ đến những người thiếu sự giáo dục về đức tin, nhưng đã phần nào có kinh nghiệm một cách mơ hồ (inkling) về đức tin.

Câu nói của Tertullian có liên quan đến việc suy niệm về đức tin của những ai trông có vẽ như là họ không có đức tin vì suy cho cùng, nó phản ánh niềm khát khao (longing), chiều sâu của mỗi con người, để biết Thiên Chúa.

Sự khát khao này được ghi khắc vào trong trái tim của người đó, và như Henri de Lubac đã từng nói, đó chính là bằng chứng rằng chúng ta được tạo dựng theo đúng hình ảnh của Thiên Chúa và rằng hình ảnh này như là một dấu hiệu không thể nào được rửa sạch qua thời gian (indelible). Con người khát khao về Chúa Giêsu Kitô vì con người mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa trong trái tim mình, và hình ảnh của Thiên Chúa cũng chính là hình ảnh của Chúa Giêsu Kitô.

Tertullian cũng còn nói rằng: “fiunt no nascuntur Christiani,” (tức Những Người Kitô Giáo không được sinh ra, nhưng được tác tạo ra). Điều đó có nghĩa là những nhu cầu khao khát này cần phải tương ứng hay song hành với sự hiểu biết về Thiên Chúa và sự hiểu biết này chỉ có mỗi Chúa Giêsu Kitô mới có thể mang lại.

Niềm khát khao của trái tim để được trọn vẹn không thôi cũng chưa đủ; con người cần phải đạt đến sự trọn vẹn này mới đúng. Do đó, việc hiểu được tầm quan trọng của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, mà Giáo Hội được mời gọi để hướng dẫn con người đạt đến sự trọn vẹn, có nghĩa là biết nhận thức được qua phép rửa tội và qua một đời sống Kitô Giáo trọn vẹn.

(Hết).