Phải chăng thiện chí ngang bằng với việc cứu rỗi? (Phần 1)
Thần Học Gia Ilaria Morali Sẽ Trả Lời Câu Hỏi Đó.
ROME (Zenit.org).- Nếu việc tìm kiếm hòa bình cùng với lòng thiện chí sẽ được cứu rỗi, thì đâu mới chính là Đạo Kitô Giáo?
Câu hỏi này được đặt ra sau bài diễn văn của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong buổi tiếp kiến chung vào ngày 30 tháng 11 vừa qua, là lúc mà Ngài nói về cơ may cứu rỗi cho những người không phải là Kitô Giáo.
Trong Phần 1 của bài phỏng vấn với hãng tin Zenit, thần học gia Ilaria Morali, giáo sư về thần học tại trường Đại Học Gregorian, và cũng là chuyên gia về chủ đề có liên quan đến ơn huệ. Nhà thần học này sẽ giải thích thêm cho chúng ta về ý nghĩa của những lời giảng dạy của Đức Thánh Cha, và về những giảng dạy của Giáo Hội về chủ đề này.
Hỏi (H): Thưa Ông, trong buổi tiếp kiến chung Đức Thánh Cha nói rằng việc cứu rỗi những người không phải là Kitô Giáo là một chuyện có thật, khi Ngài nói rằng: “Có nhiều người cả đời cống hiến vì hòa bình và điều thiện hảo cho cộng đồng, mặc cho sự thật rằng họ không cùng chia sẽ một đức tin trong Thánh Kinh như chúng ta, nghĩa là họ không biết gì cả về niềm hy vọng vĩnh cữu mà chúng ta mong mỏi. Họ có một niềm đam mê cháy bỏng vào một điều gì đó không rõ ràng cho lắm, thế nhưng rất cao siêu và vĩ đại về một sự cứu độ đích thực.” Thì điều này có nghĩa là như thế nào?
Thần Học Gia Morali (T): Thưa, dựa theo những gì mà tôi có thể đọc qua báo chí hay lắng nghe trên đài phát thanh, thì những ngôn từ của Đức Thánh Cha đã gây ra một sự ngạc nhiên lớn. Trông có vẽ như Ngài nói về một điều gì đó hoàn toàn mới mẽ và mang tính cách mạng.
Một số người tin rằng với những ngôn từ này, ít ra là Giáo Hội đã nhìn nhận rằng chẳng cần gì phải là một người Kitô Giáo, mới có thể làm việc thiện và nhận được sự cứu rỗi; mà điều quan trọng chính là trở thành những con người hòa bình mặc cho đức tin mà họ tuyên xưng. Điều đó dĩ nhiên là một cách nhận xét rất vội vã và hời hợt về những ngôn từ của Đức Thánh Cha.
Để hiểu được điều này, trước hết chúng ta cần phải nhấn mạnh đến ba khía cạnh:
Đức Thánh Cha đưa ra sự quả quyết này trong bối cảnh về phần chú giải của Thánh Augustinô trong thánh vinh này, vì đối với Thánh Augustinô, cũng như đối với những người Kitô Giáo trong các thế kỷ trước, Babylon chính là biểu tượng ngang hàng với sự lộng lẫy của một thành phố tội lỗi, hay nói khác đi một thành phố sùng bái các ngẫu tượng (idolatry). Điều này hoàn toàn trái ngược với thành Giêrusalem, vốn là nơi của Thiên Chúa, là nơi mà sự cứu rỗi của Chúa Kitô được thực hiện.
Theo truyền thống Kitô Giáo, những sự tương phản (antithesis) giữa thành Babylon và Giêrusalem có rất nhiều nghĩa khác nhau. Mà chủ yếu, Đức Thánh Cha chỉ trình bày có hai sự khác biệt mà thôi, vốn được hòa lẫn, xen kẽ vào nhau. Theo ý nghĩa của thời sơ khai, thành Babylon chính là một thành trì mà qua đó, chúng ta lại chính là những tù nhân, trong khi đó thành Giêrusalem thì hoàn toàn mang ý nghĩa của nước thiêng đàng.
Ý nghĩa thứ hai cũng có sự khác biệt nhau: Babylon được coi như là một thành phố hay một khu vực mà con người sống mà không cần phải tuyên xưng đức tin kinh thánh của họ. Điểm này chính là điều mà Đức Thánh Cha đề cập tới qua Thánh Augustinô như là “một sự chú dẫn ngạc nhiên và rất kịp thời,” vì chưng, sự thật chính là Thánh Augustinô đã nhận thấy ra khả năng đó, cũng trong một thành phố mà đức tin vào Thiên Chúa thật đã không được hăng hái cho lắm, vì tại đó cũng có người cổ võ nền hòa bình và sự thiện hảo.
Khía cạnh thứ hai cần phải được chỉ ra qua những ngôn từ của Đức Thánh Cha chính là điểm bắt đầu, được lấy từ những ngôn từ của Thánh Augustinô. Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến ba đặc tính cụ thể: đặc tính thứ nhất, chính là những người cư trú tại Babylon “có một sự khao khát cháy bỏng về một điều gì đó chưa rõ ràng,” tức khát khao về sự bất diệt; đặc tính thứ hai, chính là họ “nuôi dưỡng, ấp ủ một kiểu đức tin, hay một kiểu hy vọng nào đó,” và đặc tính thứ ba chính là “họ có đức tin vào một hiện thực không mấy rõ ràng cho lắm, họ không biết được đó là Chúa Kitô hay Thượng Đế.”
Khía cạnh thứ ba và cũng là khía cạnh cuối cùng có liên quan đến số phận của những người này. Đức Thánh Cha khẳng định cùng với Thánh Augustinô rằng: “Thiên Chúa sẽ không cho phép họ bị héo rụi cùng với thành Babylon, như đã được tiền định trước để trở thành những công dân của thành Giêrusalem.” Nhưng với một điều kiện rất ư là cụ thể, rằng: “Họ phải dốc lòng với một lương tâm hoàn toàn trong sáng đối với những nhiệm vụ này.”
Đức Thánh Cha, như chính những ngôn từ của Thánh Augustinô diễn tả, là cố để nhắc nhở cho chúng ta về một sự thật có từ lúc khởi đầu lịch sử Kitô Giáo đối với đức tin của chúng ta và được họa khắc một cách tài tình vào khái niệm của việc cứu rỗi Kitô Giáo.
Sự thật này gồm có hai nguyên lý cơ bản: một chính là Thiên Chúa muốn tất cả mọi người đều được cứu rỗi và hiểu biết được sự thật, như Thánh Phaolô đã nói trong Thư Thứ II Gửi Cho Timothy. Theo nghĩa này, để hiểu có nghĩa là để trung thành gắn bó (adhere), để đón chào Thiên Chúa vào trong đời sống của chúng ta.
Hai là, xét về mặt lịch sử, Phúc Âm không thể chinh phục hết tất cả mọi trái tim của nhân loại, có lẽ là vì xét về mặt thể lý, vật chất, Phúc Âm vẫn chưa đến hết tất cả mọi nơi trên trái đất; hay là bởi vì, mặc cho Phúc Âm đã đến rồi, nhưng không hẳn mọi người đều chấp nhận cả.
(H): Thưa Ông, và trong bối cảnh này, thì đầu là học thuyết Kitô Giáo về việc cứu rỗi?
(T): Thưa, học thuyết của Kitô Giáo về việc cứu rỗi thì rất là rõ ràng. Để giải thích nó, tôi muốn đề cập đến hai đoạn văn bản về giảng dạy của Giáo Hội.
Đoạn văn đầu tiên chính là bài diễn văn của Đức Cố Giáo Hoàng Piô IX nhân dịp Ngài triệu tập mật nghị xảy ra vào ngày 8 tháng 12 năm 1854, tức vào dịp Ngài long trọng công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Lúc bấy giờ, Đức Cố Thánh Cha nói, đối với những ai không biết về một tôn giáo thật sự, khi sự ngu muội của họ là điều không thể đánh bại được (invincible), thì họ không bị khiển trách (culpable) trước cặp mắt của Thiên Chúa.
Nhiều năm sau đó Ngài muốn đem giảng dạy này ra trở lại bằng việc làm rõ thêm ý nghĩa của sự ngu muội một cách lầm lì trong thông điệp “Quanto Conficiamur Moerore” vào năm 1863.
Ngài viết: “Như mọi người biết, những ai tuân theo luật lệ tự nhiên và những giáo huấn được Thiên Chúa khắc sâu trong trái tim của tất cả con người nhân loại, đều có thể nhận được một đời sống bất diệt nếu như họ có thiện chí để tuân phục Thiên Chúa và sống một đời sống gương mẫu.”
Đức Cố Giáo Hoàng Piô IX lại một lần nữa đề nghị ra một sự thuyết phục được tích tụ lại qua nhiều thế kỷ trong thần học Kitô Giáo rằng: Có những người nam, người nữ nào, vì nhiều lý do khác nhau, cho dẫu có lẽ vì những điều kiện về mặt văn hóa; hay bởi vì một kinh nghiệm hay một sự tiếp xúc tiêu cực với đức tin Kitô Giáo, thì không thể đồng ý về đức tin.
Mặc dầu trông có vẽ là những người này chủ tâm chống lại Chúa Kitô, thế nhưng không một ai có thể đưa ra một lời phán xét về sự từ chối này được.
Sự ngu muội một cách lầm lì chính xác ám chỉ đến điều kiện thiếu kiến thức có liên quan đến Chúa Kitô, Giáo Hội, đức tin, một sự thiếu kiến thức như vậy, vào lúc này, không thể được khắc phục bằng một hành động có thiện chí. Người bị khóa chặt, giống thể như người đó không thể diễn tả ra một “sự xin vâng / đồng ý” (yes) đối với đức tin.
Như chúng ta thấy mỗi ngày trong số tất cả những người quen của chúng ta, có rất nhiều lý do tại sao nhiều người nói “không” với Chúa Kitô là vì: sự thất vọng, sự phản bội, sự kém hiểu biết về giáo lý, những điều kiện về văn hóa và xã hội, vân vân.
Chính Đức Cố Giáo Hoàng Piô IX đã tự mình nhìn nhận sự khó khăn trong việc phân định (delimit) các trường hợp ngu muội một cách lầm lì, bằng cách nói rằng: “Ai sẽ tự mình cậy sức (arrogate) để quyết định những ranh giới của sự ngu muội theo kiểu lầm lì dựa trên cá tính của nhiều người khác nhau, của nhiều tôn giáo và tâm linh khác nhau, cùng với rất nhiều yếu tố khác nhau nữa?”
Chính vì thế, Đức Cố Giáo Hoàng Piô IX đã dạy cho chúng ta về sự thận trọng cao độ và sự tôn trọng lớn đối với những ai không có ơn huệ của đức tin trong Chúa Kitô.
Tất cả chúng ta cùng nhau không thể nào hiểu hết những nguyên do tại sao họ chối bỏ đức tin; lẫn chúng ta không thể nào biết một cách chắc chắn rằng một người nào đó trông có vẽ là không có đức tin, nhưng thực chất có một dạng hay kiểu đức tin không mấy hoàn hảo.
(H): Sự thật chính là một người Kitô Giáo được rửa tội, liệu anh ta có thể nghĩ là anh ta đã được cứu rỗi rồi không?
(T): Thưa, dĩ nhiên là không.
Phép Rửa Tội không phải là một sự bảo đảm hiển nhiên về việc chúng ta có được cứu rỗi hay không. Nếu đó đúng là như vậy, thì nổ lực để sống một đời sống Kitô Giáo sẽ không còn có ý nghĩa nữa (futile).
Mỗi một người Kitô Giáo phải nổ lực để có được sự cứu rỗi này bằng một đời sống tín trung vào Thiên Chúa, vào sự bác ái dành cho những anh chị em của ta, bằng những việc thiện. Tuy nhiên, không ai có thể chắc chắn về sự cứu rỗi của riêng mình cả, bởi vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng để trao ban điều đó mà thôi.
(Còn Tiếp ….)