Vác Thập Gía Theo Thầy Chí Thánh
Nói đến Thập giá chúng ta nghĩ đến ngay hình ành cây Thập giá mà Chúa Giêsu vác lên đỉnh đồi Calve trong gày thứ Sáu tuần Thánh và cũng chính cây Thập gía đó Chúa đã chịu treo lên. Qủa thật Thập gía là “một ô nhục đối với người Do thái và là điều điên rồ đối với ngừơi ngoại giáo” (1 Cor 1, 23). Thế mà Chúa Giêsu lại mời gọi chúng ta vác lấy cái ô nhục đó, cái điên rồ đó! Thế nhưng đối với Thiên Chúa đó là dấu chỉ của sự chiến thắng tình yêu Thiên Chúa, là ngọn cờ chiến thắng khải hòan trên sự chết. Vâng, đó chinh là dấu chỉ của giới luật tình yêu mà Đức Kitô đã loan báo: Tình yêu con người dành cho Thiên Chúa và dành cho nhau. Chính tình yêu nầy đúc kết nên Thập gía mà những ai muốn làm môn đệ Chúa phải vác lấy.
Thật vậy Thập Giá Đức Kitô mang vác và chịu đóng đinh trên đó không gì hơn là Thâp gía Tình yêu. Một tình yêu tinh tuyền đã được gạn lọc khỏi những mặt nạ của kiêu ngạo, ích kỷ, của định kiến, cá nhân chủ nghĩa, để con biết hướng con tim đến với Thiên Chúa là Cha; “nầy con xin đến để thực thi ý Cha “, xin đừng cứ ý con mà hãy theo ý Cha”, và hướng đến nhân lọai: hãy cầm lấy mà ăn, vì nầy là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con” “hãy cầm lấy mà uống, nầy là chén máu Thầy … đổ ra vì các con”. Tình yêu Thập gía là khí cụ để phục hồi lại tình trạng nguyên thủy của công trình tạo dựng: sự thân thiện giữa Thiên Chúa và con người, sự thuận hòa giữa con ngừơi với con người và với thiên nhiên. Tình yêu Thập gía là hành vi giao hòa vì đây là dấu chỉ của một tình yêu tràn đầy sự thứ tha (x. Deus caritas est, số 10). Hành vi giao hòa giữa Thiên Chúa và con ngừơi, và giữa con người với nhau. “Thập giá ở núi Sọ, trên đó Đức Giêsu Kitô … “lìa khỏi” thế gian này, thì đồng thời cũng là một tỏ hiện mới của đạo làm Cha hằng tại nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa ấy, trong Đức Kitô, lại trở nên gần gũi với nhân loại, với mọi người, bằng cách trao tặng “Thần Khí” ba lần thánh của “sự thật” (x. Ga 16, 13)
Sự mặc khải Cha và ban Thánh Thần như thế ghi khắc vào mầu nhiệm cứu chuộc một dấu tích không nhòa, làm cho ta hiểu ý nghĩa của thập giá và của sự chết của Đức Kitô. Thiên Chúa của sáng tạo tự mặc khải mình như Thiên Chúa của Cứu chuộc, Thiên Chúa, Đấng “trung tín với chính mình” (x. 1Th 5, 24), trung tín với tình yêu của mình đối với con người và đối với thế giới, như Người đã tự mặc khải mình rồi trong ngày tạo dựng. Và tình yêu của Người là một tình yêu không lùi bước trước bất cứ điều gì mà sự công chính của Người đòi hỏi. Vì thế cho nên Con của Người, “ Đấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa đã làm thành sự tội vì ta” (2Cr 5, 21; x. Ga 3, 13). Nếu Người đã làm cho Đấng tuyệt nhiên không có tội “thành sự tội”, thì Người làm như thế để mặc khải tình yêu bao giờ cũng lớn lao hơn tất cả mọi thụ tạo, tình yêu là chính mình Người, … tình yêu lớn hơn tội lỗi, lớn hơn sự yếu đuối và sự hư luống của tạo vật, mạnh hơn sự chết; đó là một tình yêu luôn luôn sẵn sàng đi đón đứa con hoang đàng….” ( Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor homins, số 9).
a) Yêu Thiên Chúa hết sức hết linh hồn, hết trí khôn. Bổn phận thứ nhất của con người cách chung và của từng ngừơi Kitô hữu cách riêng là nhận biết và yêu mến Thiên Chúa. Tại sao? Câu trả lời có thể tìm thấy nơi tác gỉa lá thư gởi Diognète vào thế kỷ thứ 3: “Qủa là Thiên Chúa đã yêu thương lòai ngừơi: vì lòai ngừơi, Người đã dựng nên thế giới, vạn vật trân trái đất Người đã đặt dưới quyền con người; Ngừơi đã ban cho con người lý trí và sự hiểu biết; chỉ mình họ được Người cho phép ngườc mắt lên trời; Người đã nắn đúc họ theo hình ảnh của riêng mình; Người đã phái con một đến với họ; Người đã hứa cho họ Nước Trời, mà Người sẽ ban cho những ai đã yêu thương Người” (Thơ gởi Diognète, SC tr. 76, trích trong bản tiếng việt: “Nhân văn luận Thần học” qua các tác gỉa, Tuyển tập các bản văn thần học, tr.77). Tình yêu dành cho Thiên Chúa là đức tính tự nhiên của con ngừơi, bởi con người không tự mình mà có, nhưng được Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh của Ngừơi. Công đồng Vat. II cũng đã trả lời cho câu hỏi con ngừơi là ai? qua việc khẳng định: “con ngừơi đã đựơc tạo dựng ‘theo hình ảnh Thiên Chúa’ có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng Tạo Dựng mình, được Ngài đặt làm chủ mọi tạo vật trên trái đất để cai trị và xử dụng chúng mà ngợi khen Thiên Chúa” (GS 12). Tình yêu dành cho Thiên Chúa như là lời đáp trả tình yêu, vì con ngừơi được tạo dựng do bỏi Tình yêu, và được ấp ủ trong tình yêu. Thiên Chúa khi tạo dựng nên con người “đã phú cho sự sống, lời nói và trí khôn và tất cả những đức tính xứng hợp với Thần Thánh” (Grégorio thành Nysse, Discours catéchétique 5, 2, SC 453 tr. 164).
Thánh vịnh 8 cũng đã phải ngạc nhiên: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? Chúa cho con ngừơi chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang dnah dự làm mũ triểu thiên, hco làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn lòai muôn sự dứơi chân” (Tv 8, 4 – 7).
Như vậy tình yêu dành cho Thiên Chúa thuộc nhân bản, vì sự hiện hữu của con ngừơi do bởi tình yêu Thiên Chúa. Nhưng tình yêu con ngừơi dành cho Thiên Chúa không chỉ được nẩy sinh từ mối tương quan của thụ tạo đối với Đấng Tạo Hóa. Nếu chỉ như thế thí đây chưa phải là tình yêu đích thật, mà đó chỉ là một tính cảm bộc lộ do sự sợ hãi của ngừơi đầy tớ đối với ông chủ.
Nhà thần học Friedrich Gogarten đã nhắc lại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa là mối tương quan cha - con mà Thánh Phaolô đã trình bày. Theo ông “Thần khí đã đem lại cho con ngừơi phẩm chất là Con. Phẩm chất là Con đó chính là việc con người tin tưởng hiểu đời mình là hoàn tòan lệ thuộc vào Đấng là Cha … bởi vì trong tương quan đó vnh quang Thiên Chúa, quyền năng của Thiên Chúa sáng tạo mọi sự từ hư vô, tựa mặc khải. Sống trong tinh thần là con là sống trong thái độ đáp lại tình yêu của Thiên Chúa là Cha, là sống về Thiên Chúa như một ngừơi con hiếu thảo” (Friedrich Gogarten, Der Mensch zwischen Gott und Welt, Stuttgart 1956, 332).
Thật vậy Thánh Phaolô đã nói rất rõ mối tương quan cha con giữa Thiên Chúa và con ngừơi : Thiên Chúa giải thóat con ngừơi khỏi ách nô lệ và nhận con ngừơi làm nghĩa tử (Gl 4, 5tt; Rm 8, 14- 17; Eph 1, 5). Và qua việc nhận chúng ta làm nghĩa tử chúng ta được trở nên một với Đức Kitô nhờ Phép Rửa (Gl 3, 26tt) và cho chúng ta được thừa hưởng gia nghiệp cùng với Đức Kitô, Đấng là trưởng tử giữa đàn em đông đúc (Rm 8, 17.29; Col 1, 18). Và tất cả chúng ta nhờ Thần Khí Thiên Chúa tác động cùng kêu lên “Abba” “Cha ơi” (Gl 4, 6; Rm 8, 14tt. 29).
Vì vậy yêu sách của Tin Mừng là yêu Thiên Chúa hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn, chính là yêu sách của tình yêu hiếu thảo của ngừơi con dành cho cha. Bởi Thiên Chúa không chỉ tạo dựng con người từ hư không, nhưng còn cứu chuộc con ngừơi khỏi án phạt đời đời bằng chính cái chết của Đức Giêsu Kitô, Người Con độc nhất và dấu ái của Người. Bởi vậy tình yêu dành cho Thiên Chúa nằm trong đạo làm người. Dĩ nhiên không phải tình yêu của chúng ta làm cho Thiên Chúa được vinh quang, bởi từ ngàn đời Thiên Chúa đã vinh quang, Người vinh quang trứơc khi có con người. Yêu Thiên Chúa là vì sự thiện hảo của con ngừơi, chính tình yêu nầy giải phóng con ngừơi khỏi ách nô lệ của sự chết. Yêu Thiên Chúa là con ngừơi đang tìm đến với cội nguồn của hạnh phúc, tình yêu nầy gắn kết con người với Thiên Chúa và nhờ đó mà con ngừơi được ơn cứu sống.
Nhưng làm sao có thể yêu Thiên Chúa khi không thấy Ngừơi? Đức Bênêđictô XVI. trong thông điệp “Thiên Chúa là Tình yêu” đã trả lời vấn nạn đó. Theo Đức thánh cha chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa qua việc gặp gỡ Đức Kitô, “Tình yêu của Thiên Chúa xuất hiện giữa chúng ta, trở nên hữu hình qua việc Người ‘đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống’ (1 Ga 4, 9). Thiên Chúa tự làm cho mình thành hữu hình: trong Đức Giêsu chúng ta có thể chiêm ngắm được Chúa cha (x. Ga 14, 9) (Deus caritas est 17). Chúa Giêsu luôn hiện diện giữa con ngừơi, ngay cả sau biến cố Phục sinh và Lên trời. “Nầy đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, Ngừơi hiện diện “qua những con người mà Người soi sáng, qua Lời của Ngừơi, trong các Bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Trong Phụng vụ của Hội Thánh, trong lời cầu nguyện, trong cộng đoàn sống động của các tín hữu, chúng ta cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa, cảm nhận được sự hiện của Người và học cho biết nhận ra Ngừơi trong đời sống hằng ngày của chúng ta” (Deus caritas est, số 17).
Tình yêu dành cho Thiên Chúa phải được biểu lộ bởi tòan thể con ngừơi của chúng ta. Tình yêu nầy “không chỉ là cảm xúc. Cảm xúc đến rồi đi. Cảm xúc có thể là một tia sáng khai mở diệu kỳ, nhưng tổng thể tình yêu không phải là như thế….. Việc gặp gỡ với những biểu lộ hữu hình của tình yêu Thiên Chúa có thể gợi lên trong chúng ta cảm giác hân hoan, đến từ cảm nghiệm rằng mình được yêu. Việc gặp gỡ nầy đòi hỏi cả ý chí lẫn lý trí của chúng ta. Việc nhận biết Thiên Chúa hằng sống là con đường đi đến tình yêu và tiếng thưa vâng của ý chí chúng ta đối với ý muốn của Ngừơi kết hợp sự hiểu biết, ý chí và cảm xúc trở thành một hành động trọn vẹn của tình yêu” (Deus caritas est, số 17).
Yêu hành hành vi đáp trả khi nhận ra mình được yêu, và ước muốn của hành vi đó chính là được gắn kết với ngừơi mình yêu, là làm thỏa mãnh những yêu cầu của ngừơi mình yêu. Yêu sách của Thiên Chúa là: “hãy nên trọn lành”. Tình yêu mời gọi chúng ta bứơc vào “con đừơng trọn lành”, chống lại những gì không phù hợp với sự thánh thiên của Thiên Chúa. Tức là hợp nhất ý chí và tư tưởng của chúng ta với Thiên Chúa. “Lịch sử tình yêu giữa Thiên Chúa và con người bao hàm sự kiện: sự hiệp thông ý chí tăng triển trong hiệp thông tư tưởng và tình cảm, như thế ý muốn của chúng ta luôn trùng khớp với ý muốn của Thiên Chúa: ý muốn của Thiên Chúa không phải là ý muốn xa lạ với tôi … nhưng là ý muốn của chính tôi… trong thực tế, Thiên Chúa hiện diện rất thâm sâu trong tôi hơn là tôi đối với tôi. Từ đó sự phó thác vào Thiên Chúa càng ngày càng lớn lên và Thiên Chúa thực sự trở thành nềim vui cho chúng ta (x. Tv 73, 23 – 28)” (Deus caritas est, số 17). Như vậy tình yêu đối với Thiên Chúa luôn đòi hỏi thi hành việc từ bỏ chính mình. Không ai có thể làm tôi hai chủ được. Đức Kitô đã khẳng định điều đó. Và tôn thờ một mình Thiên Chúa duy nhất mà thôi. Việc tôn thờ này giải thóat con ngừơi khỏi nô lệ tội lỗi, làm cho con ngừơi trở thành con cái của tự do (x.Gl 4, 6-8). Con đường trọn lành không chỉ dừng lại trong việc chu toàn nghĩa vụ thảo hiếu đối với Thiên Chúa, không chỉ qui hướng về Thiên Chúa mà thôi, nhưng còn hướng đến tha nhân: “anh em đã được gọi đến để hửơng tự do. Có điều đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất nầy là: “ngươi phải yêu ngừơi thân cận như chính mình” (Gl 5, 13 – 14).
(Còn tiếp)