BÀI II: CHỨC MẸ THIÊN CHÚA



Đây là một chức cao cả nhất, lớn nhất của Đức Maria. Tất cả các đặc ân khác đều phát xuất từ chức Mẹ Thiên Chúa.

1. Lịch sử tín điều

Ảo thân thuyết (docétisme) xuất hiện cuối thế kỷ I đầu thế kỷ II vì hiểu theo triết học của Platon cho thân xác là xấu nên họ chối bỏ thân xác thực của Đức Kitô và họ cho rằng mọi việc làm ở trần gian của Đức Kitô, ngay cả việc chịu đau khổ và chịu chết chỉ là hình thức bề ngoài chứ không phải là điều có thực. Dạy như vậy tức là không nhận sự nhập thể làm người thực sự của Ngôi Lời và mặc nhiên chối bỏ Đức Maria là Mẹ của Đức Kitô Ngôi Hai làm người.

“Thánh Ignatio thành Antiokia đã chống lại lý thuyết này và đã dạy rõ ràng : Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa chúng ta đã được cưu mang trong cung lòng Đức Maria xuất phát từ dòng dõi David… là Con Thiên Chúa được Đức Trinh Nữ sinh ra thật sự : Deum nostrum Jesum Christum in utero gestatum esse et Maria ex semine David… Filium Dei natum vere ex Virgine” (Smyr 1,1).

Thánh Irênê (thế kỷ II) đã quả quyết : “Đức Kitô này là Ngôi Lời của Chúa Cha, ở nơi Chúa Cha… đã được một trinh nữ sinh ra” (Epid 53).

Từ thế kỷ thứ III và IV, tước hiệu “Theotokos” (Mẹ Thiên Chúa) được năng dùng (bằng chứng của Oginère, Alexandre d’Alxandrie, Eusèbe de Césarée, Thánh Athanasiô, Thánh Epiphan v.v…). Thánh Grêgoriô Nazianze viết khoảng năm 382 : “Nếu ai không công nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, thì họ đã tách rời khỏi thiên tính” (Ep 101,4).

Sang thế kỷ thứ V, Nestorius dạy nơi Đức Kitô có hai ngôi vị là Ngôi Lời và ngôi vị nhân loại, hai ngôi vị này không kết hiệp hiệp nhất mà chỉ liên kết với nhau nên ông chối bỏ tước hiệu Theotokos, ông chủ trương dùng kiểu nói “Chritotokos” (Mẹ của Đức Kitô) hoặc “Anthropotokos” (Mẹ của con người của Giêsu). Đứng trước lập trường này, các giáo phụ lên án mạnh mẽ và tuyến bố danh từ Theotokos rất đúng với sứ mệnh Đức Maria.

Hoàng đế Theodosiô yêu cầu triệu tập Công Đồng ở Ephêsô để giải quyết vấn đề. Đức Giáo Hoàng Cêlestin trao cho Thánh Cyrillô chủ tọa Công Đồng. Với sự tham dự của 160 Giám mục Ai cập, Palestina, và Tiểu Á (và do Thánh Cyrillô đốc thúc và chủ tọa). Sau một ngày tranh luận, Công Đồng đã chấp thuận 12 đề tài phạt vạ tuyệt thông và công nhận từ ngữ Theotokos là chính đáng. Đó là ngày 22-6-431. Đêm đó, dân Ephêsô tổ chức rước đèn thật to, đọc lớn : Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời…

Mặc dầu Công Đồng họp quá gấp, các Giám mục Antiokia và Smyrn chưa kịp tới, ngay cả các đại diện Roma cũng chưa kịp tới, nhưng tính chất hợp pháp của Công Đồng đã được Đức Giáo Hoàng công nhận và các Giám mục chưa tới kịp sau này khi nghe Nestotius tự bênh vực mình đã chấp nhận các phán quyết của Công Đồng.

Về Đức Mẹ, Công Đồng tuyên bố :

“… Deum esse veraciter Emmanuel et propterea Dei Genitricem (Theotokos) Sanctam Virginem : peperit enim Secundum carnem carnem factum Dei Verbum : Đấng Emmanuel thật là Thiên Chúa và chính vì vậy Thánh Nữ Đồng Trinh là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) vì sinh ra Ngôi Hai Thiên Chúa làm người theo nhân tính” (DBR 113).

Công Đồng Chalcédoine năm 451 cũng tuyên bố :

“… Confiteri Filium et Dominum nostrum Jesum Christum… ante saecula quidem de Patre genitum secundum Deitatem, in novissimis autem diebus eumdem propter nostram salutem ex Maria Virgine Dei Genitricem secundum humanitatem : Tuyên xưng Ngôi Con là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, sinh bởi Ngôi Cha từ trước muôn đời về mặt thiên tính; và trong thời gian sau cùng, vì để cứu rỗi chúng ta, Ngôi Con đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa về mặt nhân tính” (DBR 148).

2. Nền tảng Kinh Thánh

Kinh Thánh dạy cho chúng ta biết :

- Đức Maria sinh ra Đức Giêsu gọi là Kitô (Mt 1,16).

- Đức Giêsu Kitô là Đấng Thánh được gọi là Con Thiên Chúa (Lc 1,35).

- Đức Maria là Mẹ Đức Giêsu (Yn 2,1), Mẹ Ngài (Mt 1,18; 2,13.20; 12,46; 13,55), là Mẹ Chúa (Lc 1,43).

Kiểu nói “Con Thiên Chúa” thường ám chỉ Đấng Mêsia (Đấng được xức dầu, sai đến cứu dân) chứ không hiểu theo nghĩa đồng bản tính với Thiên Chúa. (Ở Việt Nam, các vua đều xưng mình là Thiên tử, con Trời không phải nói cùng bản tính với Trời mà chỉ có ý nhấn mạnh đến ý Trời muốn cho họ làm vua để thay Trời trị dân). Nhưng trong giờ phút nghiêm trọng đứng trước câu hỏi của kẻ có quyền xét xử, Chúa Kitô xác nhận câu hỏi của nhà cầm quyền : Ngài là Con Thiên Chúa (Lc 22,70) và người xử Ngài đã hiểu ý câu trả lời của Ngài nên họ kết án Ngài tội lộng ngôn. Tuy nhiên, chính nhờ biến cố phục sinh tín đồ của Chúa mới khám phá dần dần thần tính của Chúa, Giáo hội mới xác định công thức đức tin rõ ràng tuyên xưng Chúa Kitô có bản tính Thiên Chúa. Từ đó mới đưa tới hệ luận : Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Những xác tín này bắt nguồn từ Kinh Thánh đồng thời cũng làm rõ nghĩa Kinh Thánh.

3. Suy luận

Tín điều Mẹ Thiên Chúa gồm hai chân lý :

a. Đức Maria là Mẹ thực sự nghĩa là để đúc nên nhân tính của Đức Kitô, Mẹ đã cung cấp những gì mà mỗi bà mẹ phải cung cấp để tạo nên đứa con của mình.

b. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa thực sự nghĩa là Mẹ đã cưu mang và hạ sinh Ngôi Hai Thiên Chúa không phải theo mặt thiên tính nhưng theo mặt nhân tính mà Ngôi Hai đã mặc lấy.

Trong tôn giáo đa thần hoặc trong các thần thoại câu truyện nữ thần sinh ra con là thần rất dễ hiểu vì “loài nào sinh ra loài đó” (người sinh ra người, thần sinh ra thần). Nhưng ở đây việc tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa không thể xem Đức Maria là thần linh hoặc xem Mẹ có phẩm tính thần linh. Đức Mẹ luôn luôn là thụ tạo, hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa hết mọi phương diện, và chức làm Mẹ Thiên Chúa về mặt nhân tính là một ơn hoàn toàn nhưng không do Thiên Chúa ban.

Giáo chủ Nestorius của đế đô Constantinople khước từ tước hiệu Theotokos của Đức Maria vì sợ rơi vào chủ trương Đức Mẹ sinh ra thần tính, nhưng cái sai lầm căn bản của ông không phải là ở đây mà ở tại ông rao giảng nơi Đức Giêsu có hai ngôi vị : ngôi vị thần linh (Ngôi Lời) và ngôi vị nhân loại, từ đó ông chối từ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa.

Như vậy, cần phải có một giáo huấn thật rõ ràng, minh bạch nên Công Đồng Chalcédoine (sau Công Đồng Ephêsô) đã xác định : “Đức Maria Mẹ Thiên Chúa theo nhân tính : Mater Dei secundum humanitatem”. Ta phải hiểu thế nào?

Trước hết, Mẹ Thiên Chúa theo nhân tính có nghĩa là nhân tính của Chúa Kitô do Đức Mẹ sinh ra còn thần tính không do Đức Mẹ (do Chúa Cha).

Nhưng Ngôi Hai Thiên Chúa mặc lấy nhân tính trong cung lòng Đức Mẹ nghĩa là Đức Mẹ cưu mang Ngôi Hai và Đức Mẹ sinh Ngôi Hai làm người nên ta có thể tạm nói “Đức Mẹ là Mẹ nhân tính của Ngôi Hai Thiên Chúa”.

Và phải lý luận thêm : nơi con người Chúa Giêsu Kitô có một ngôi vị là Ngôi Hai Thiên Chúa và hai bản tính : thiên tính và nhân tính. Ngôi Hai là chủ của hai bản tính kết hợp hiệp nhất với nhau hết sức thâm sâu và vì Ngôi Hai là “cái tôi” của hai bản tính đó nên Ngôi Hai hoạt động và chịu trách nhiệm trong hai bản tính đó.

Đọc bản văn sau đây của Thánh Grêgoriô Nysse giúp chúng ta hiểu bản tính và ngôi vị nơi Chúa Giêsu :

“Không phải nhân tính đã khiến cho Lazarô sống lại, cũng không phải quyền lực bất thụ cảm đã khóc khi ông chết; không phải nhân tính thấp hèn đã nuôi sống được hàng ngàn người, cũng không phải quyền lực thiên tính đã đến tìm trái vả. Vậy, ai đã mệt mỏi khi đi đường ? Ai đã nâng đỡ cả thế giới bằng một lời nói ? Ai là phản ảnh của vinh hiển đời đời ? Thân xác ai bị đâm thủng ? Ai kiệt sức vì đau khổ ? Ai được tôn vinh đời đời ? Câu trả lời thật rõ ràng : đó là ngôi vị duy nhất của Chúa Nhập Thể”.

Lý luận như vậy, Ngài đã chỉ cho ta biết nguyên tắc mà thần học sau này gọi là “chuyển thông các đặc tính” (communication des idiomes).

Những gì thực hiện qua nhân tính hay thiên tính nơi con người Chúa Giêsu Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm. Thí dụ : Miệng Chúa Kitô nói, ăn, tay Chúa Kitô làm phép lạ, thân xác Chúa Kitô chịu đau khổ, chịu chết thì chính là Ngôi Hai Thiên Chúa nói, ăn, làm phép lạ, chịu đau khổ, chịu chết. Chính vì thế, Đức Mẹ là Mẹ Chúa Kitô do Đức Mẹ sinh Chúa Kitô về nhân tính thì cũng chính là Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể nghĩa là Mẹ Thiên Chúa. Với danh từ Christokos (Mẹ Đức Kitô), đáng lý ra cũng đúng, nhưng vì Nestorius dùng để loại trừ danh từ Theotokos nên trong bầu khí bút chiến thời đó người ta tỏ ra dè dặt. Bây giờ, ta có thể dùng cả hai danh từ này (tham chiếu Sm Th lla Qu. 35, a.4). Theo thiển ý, dùng từ ngữ Theotokos bắt buộc phải suy nghĩ để hiểu cho đúng, nhất là trong phụng vụ thường dùng từ ngữ Thiên Chúa hoặc Chúa để chỉ Ngôi Cha (trong một câu từ ngữ Thiên Chúa hoặc Chúa… Mẹ Thiên Chúa có trong đó thì đòi hỏi phải có trình độ giáo lý khá).

Để kết thúc mục này, ta suy ngắm tình mẫu tử toàn diện nơi người mẹ với người con. Chưa phải khả năng sinh sản phát sinh tình mẫu tử vì nơi con vật không có tình yêu mẫu tử, chỉ có tương quan theo bản tính.

Nơi con người, bất cứ cái gì xảy ra trong phạm vi bản tính con người đều quy hướng về ngôi vị người (personne, personalité). Thí dụ : những tương quan kinh tế trong xã hội, những tương quan của tình bạn, những tương quan của đôi vợ chồng. Tương quan tình mẫu tử cũng vậy, mặc dầu bắt đầu trên phạm vi bản tính nhưng hoàn toàn quy hướng về ngôi vị và sự tự do của ngôi vị, lại còn ràng buộc các ngôi vị trong một tình yêu thiêng liêng bất diệt vì người mẹ :

- Nếu là mater corporis (mẹ của thân xác) thì chỉ do việc sinh sản thôi. Con vật cũng sinh con và làm mẹ con của nó. Bình thường thôi.

- Nếu là mater animae (mẹ tâm hồn), là mẹ do việc giáo dục. Thầy cô là cha mẹ tinh thần của học trò, nhưng không thể so với bà mẹ hiền được.

- Còn nếu là mater mei, mới là mẹ hiền của tôi vì đã sinh ra tôi, đã nuôi dưỡng dạy bảo tôi, đã thương mến tôi hơn cả mẹ tôi thương con người mẹ tôi. Đây mới thật là mẹ của toàn thể con người xét như là một chủ thể, một ngôi vị, một tình yêu. Đây là bậc mẹ hoàn hảo, cao nhất, nơi con vật không có.

Nơi Đức Maria, mater mei mà còn mater Dei vì Ngôi Vị mà Đức Mẹ cưu mang và sinh ra là Ngôi Hai Thiên Chúa. Như vậy, ta dễ thấy Đức Maria không những là mẹ nhân tính Đức Kitô Giêsu mà còn là Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa “secundum quod verbum incarnatum est” (xét về mặt Ngôi Hai Nhập Thể).

Đức Nữ trinh Maria đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, và đem sự sống đến cho thế gian. Ngài được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa và của Đấng Cứu thế. Được cứu chuộc cách kỳ diệu hơn nhờ công nghiệp con Ngài và hiệp nhất mật thiết bền chặt với con. Đức Maria đã lãnh nhận sứ mệnh và vinh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần. Nhờ lãnh nhận ân sủng cao quý này, Ngài trổi vượt mọi thụ tạo trên trời dưới đất. Nhưng đồng thời vì thuộc đòng dõi Adam, Ngài cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi; hơn nữa “Ngài là Mẹ thật các chi thể (của Đức Kitô)… vì đã cộng tác trong Đức Ái để sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội là những chi thể của Đầu ấy”. Vì thế, Ngài cũng được chào kính như chi thể tối cao và hữu nhất vô nhị cũng như mẫu mực và gương sống phi thường của Giáo Hội trên phương diện Đức Tin và Đức Ái. Và Giáo Hội Cộng Giáo được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, dâng lên Ngài tình con thảo như đối với một người mẹ rất yêu dấu (Lumen gentium, số 53, Bản dịch của Giáo hoàng học viện).