30 năm hành trình đức tin của các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp (1976-2006) (Bài I)

Tuần lễ này, từ 03 đến 07.08.2006, Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp đang sống những ngày nhộn nhịp và hạnh phúc. Tất cả 47 cộng đoàn địa phương, cùng tề tựu về Lộ Đức, để cùng nhau, trước sự chứng kiến của Mẹ Maria, kỳ niệm hai biến cố quan trọng: 30 năm hành trình đức tin (1976-2006), thành lập tổ chức Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp và 60 năm thành lập Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam tại Pháp (1946-2006). Thiết tưởng đây là dịp thuận eđ‹ giới thiệu Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp với Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam khác ở Việt Nam và trên thế giới. Bài giới thiệu này sẽ trích dẫn những bài rút ra từ tập ‘Kỷ Yếu 30 năm hành trình đức tin của Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp (1976-2006 )’ và sẽ được trình bày lần lượt theo bốn câu hỏi sau đây :

- Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp đã được phôi thai thế nào ?

- Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp đã phát triển ra sao từ 30 năm nay (1976-2006) ?

- Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp đã sinh hoạt chung thế nào từ 30 năm nay (1976-2006) ?

- Đâu là hướng tiến tương lai của Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp ?

Qua bài 1 hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu phần 1 của đề tài về ‘Thời ky phôi thai của các cộng đoàn công giáo Việt nam tại pháp’

1. Thời ky phôi thai của các cộng đoàn công giáo Việt nam tại pháp

11. Những người Việt Nam đầu tiên đến Pháp

Có lẽ người Việt Nam Công giáo đầu tiên đã đặt chân lên đất Pháp là Linh mục Hồ Văn Nghi. Hai sử gia, Linh mục Phan Phát Huồn và Trần Trọng Kim đều nhắc đến việc "Nguyễn Vương cầu việ n nước Pháp-lan-tây. Ngày 15.10.1784, tại đảo Thổ Châu, ông làm tờ quốc thư, giao đứa con trai đầu lòng và quốc ấn cho Đức Cha Pierre Pigneau de Béhaine : "Năm 1784 Bá Đa Lộc đem hoàng tử Cảnh qua Pháp, đoàn tùy tùng gồm có quan Phó Vệ úy Phạm Văn Nhân, quan cai cơ Nguyễn Văn Liêm, 40 binh sĩ và Linh mục Hồ Văn Nghi".

Thế rồi 79 năm sau, lại có một Linh mục và một giáo dân đặt chân lên đất Pháp. Theo hòa ước năm Nhâm Tuất (1862). Việt Nam đã nhượng đứt cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Tuy hòa ước đã ký kết nhưng vua Tự Đức vẫn ước mong được chuộc lại, vì Gia Định là đất khai nguyên nhà Nguyễn và là quê hương của vua.

Năm 1863 Phan Thanh Giản được l ệnh vua Tự Đức dẫn đầu phái đoàn Việt Nam gồm có tham tri lại bộ Phạm Phúc Thếvà án sát tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Khắc Đản với 53 tùy viên, trong số đó có Linh mục Nguyễn Hoàng và Pétrus Trương Vĩnh Ký sang Pháp để lo việc chuộc lại ba tỉnh nói trên.



Giai đoạn Pháp thuộc (1874 - 1945), người dân Việt sống "một cổ hai tròng" dưới chế độ phong kiến triều Nguyễn và sự thống trị áp bức của thực dân. Nhiều thanh niên nuôi dưỡng "chí tang bồng", ấp ủ "mộng làm quan", mà nước Pháp thời bấy giờ là hình ảnh của tự do cá nhân, một hình ảnh vắng thiếu tại quê nhà, nên rất "hấp dẫn" họ tìm cách đi Pháp.

Tuy nhiên, đó chỉ là một thiểu số không đáng kể. Phần đông mà sử sách ghi chép là số người sang Pháp một cách bị bắt buộc, dưới những danh nghĩa khác nhau : lính pháo thủ, lính thợ, tỵ nạn. Có thể nêu ra năm đợt người Việt Nam đến Pháp.

12. Những đợt người Việt Nam đến Pháp

Đợt thứ nhất : Đệ nhất Thế chiến 1914-1918. Tất cả là 50 000 người. Phần nhiều là dân quê miền Trung. Nói là «volontaires indochinois», chứ thực ra người Pháp họ đi vào làng, họ «lùa» ra ngoài đường rồi đẩy lên tầu thủy. Đến Marseille, mấy người thanh niên VN ấy vẫn đi chân đất vì chưa quen đi giầy, mà vác giầy trên vai. Không biết được tập luyện bao lâu, họ bị đẩy đi đánh ở chiến tuyến Flandres.

Có một giai thoại buồn cười là lúc xong chiến tranh, họ được đưa về xứ, một số người lấy vợ đầm. Mấy bà này cũng theo chồng. Nhưng thời ấy, thời huy hoàng của chế độ thực dân, mấy «bà đầm» rất được trọng, nhưng mấy «bà đầm» này thuộc vào tầng lớp xã hội hạng thấp, ở Pháp cũng như ở VN. Nhà cầm quyền thuộc địa bể đầu vì chuyện này, rồi cuối cùng phải đưa mấy «bà đầm» này về Pháp

Đợt thứ hai : Giữa đệ I và đệ II Thế chiến (1919-1940). Một số sinh viên qua Pháp du học. Khoảng 1500 người. Đó là thời của những Nguyễn Mạnh Tường, những Trần Đức Thảo. Những người sinh viên VN này rất xuất sắc. Một số người Pháp giật mình vì tài học của người Việt.

Đợt thứ ba : Đệ II Thế chiến. 28 000 người, theo con số của Lê Hữu Khóa. Cách «tuyển chọn» không khác gì lần trước. Đời sống của những người thanh niên Việt này thật nhục nhằn, cực khổ. Người Pháp gọi họ là «lính thợ» vì phải làm những công việc nhọc nhằn chứ không được tin cậy để làm lính. Chiến tranh chấm dứt, một số lớn ở lại Pháp, làm thợ trong các hãng Renault, Citroen…

Đợt thứ tư : Sau Điện Biên Phủ (1954). Sau hội nghị Genève, cộng sản VN dụ dỗ và hứa hẹn nhưng cũng có hơn một triệu người từ Bắc xuống Nam. Ông Vĩnh Noãn có làm một phim trên đề tài này, phim «Chúng tôi muốn sống». Một số đi thẳng qua Pháp vì đây là một cơ hội cho con cái đi học ở Âu tây.

Những người này thuộc lớp khá giả, hồi ở VN đã theo chương trình Pháp, nên con cái thành công trên đường học vấn. Lúc xưa, người ta đi Hà Nội học luật để ra làm quan, thì ở Pháp người Việt trở thành bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư…

Nhờ cái thành công nghề nghiệp của những người Việt trong đợt này và một số người du học trong những năm 1960, người Pháp nể và có cảm tình với người Việt.

Đợt thứ năm : 1975. Theo bản thống kê chính thức có khoảng 120 000 người gốc Á châu qua tị nạn ở Pháp. Trong số ấy cũng phải tính những người Tàu giả vờ tị nạn nhưng thực ra từ Malaisie hoặc Hong Kong qua làm ăn. Số người Việt, kể cả Kinh lẫn Thượng thì chỉ vào khoảng 60 000 người.

Sau đợt thứ năm này, vì người tị nạn qua gần như một lượt và rất đông, nên làm đời sống người Việt ở Pháp thay đổi hẳn. Thay đổi trong cách ăn uống, trong cách sống theo phong tục hoặc thói quen. Những lễ Tết, Trung Thu đậm đà hơn. Trong những đợt trước, người Việt sống chia rẽ và lẻ loi, thì sau 1975, trở nên sống sát cánh với nhau hơn. Nhưng vì vậy mà vấn đề hội nhập vào xã hội Pháp cũng chậm chạp hơn

13. Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp trܧc 1996

1940-1942 : Một vài số liệu cho thấy, Bộ chiến tranh Pháp quốc dự trù kế hoạch bắt lính và thợ Đông dương để bổ sung cho binh lính ‘Mẫu quốc’ tới con số 80000. Khoảng cuối năm 1939 đầu năm 1940 số thợ (travailleurs) đã lên tới 20.000 và lính (tirailleurs) là 14.600. Mặc dầu cuối năm 1940, vì tình hình chiến sự thất lợi, Pháp đã có quyết định gởi về Việtnam: hơn 4000 người trong khoảng tháng 11.1940 tới 9.1941 nhưng chẳng may vì bị lệnh phong tỏa đường biển của hải quân Anh quốc nên số người trên phải bị cho sang Madagascar, đảo Réunion, Sud Afrique, Oran.

Còn một số khác cũng từ năm 1941 được gơi đi vùng Camargue để khai thác việc trồng lúa. Kết qủa là năm 1944, 800 mẩu (hectares) đất được khai thác và cho huê lợi 2200 tấn lúa. Một số khác bị gởi đi xây dựng các công thự phòng thủ dọc bờ biển Địa trung Hải, nhiều người chết và bị thương bởi bom đạn của quân đội đồng minh. Con số 1061 người được chôn ở những ô đất riêng (cf. Article du colonel Rives intitulé ‘1939-1954, les travailleurs indochinois en France’ in revue Hommes et Migrations no 1175).

Việt kiều thời nầy cũng ở rải rác cùng khắp, ở thủ đô Paris không được biết số bao nhiêu, nhưng ở miền tỉnh như ở Vaucluse ta thấy có thống kê ghi (cf Archives Départementales du Vaucluse), trong tháng 7 năm 1941 ở Marseille có 4200 người, ở Agde có 3000, ở Bergerac có 2400, ở Sorgues có 4100, ở Lyon-Vénissieux có 1300, tổng cộng là 15.000 người tất cả (cf. Hommes et migrations no 1175 par le colonel Maurice Rives).

Vài con số trên cho thấy số Việt kiều ở Pháp dù thế chiến đã qua nhưng sĩ số không giảm, bởi lẻ một số tự nguyện ở lại, theo đại tá Rives thì ‘phần lớn vì lš do đã kết hôn với vợ người Au châu hoặc có thể hành nghề được trong thời xa xứ’; số nầy đếm được chừng 3500 người (Colonel Rives in article : postérité des exilés vietnamiens restés en France), còn một số lớn khác do việc nước Pháp bận trưng dụng tàu bè chở quân lính tái chiếm Việtnam liền sau Đại chiến kết thúc, thành phần đông đảo còn sót nầy cộng thêm một số từ VN vì chạy giặc di sang. Như vậy là số kiều bào sống ở Pháp thời điểm nầy phải đông khá.Thành phần Công giáo chưa được xác định.

Nhưng từ năm 1942, người ta ghi nhận tại Paris, đã có thành lập Hội Công giáo VN ở Paris quy tụ được một số giáo dân để tham dự thánh lể do cha Cao văn Luận cử hành và do ông Trần hữu Phương cổ động kêu mời. Ở các tỉnh thời điểm nầy cũng có các hội công giáo thành hình.

1945 :Thành lập Việtnam du học giáo sỹ đoàn. Trong bầu khí sôi sục của thời cuộc : Nhật đảo chánh Pháp tại Việtnam, Pháp quốc sắp được giải phóng khỏi tay Đức quốc xã, Việtnam sửa soạn tuyên bố độc lập, các giáo sĩ du học thấy cần phải gặp nhau kết họp lại thành một tổ chức để dễ trao đổi tìm hiểu thực tế, để dễ ứng phó với thời cuộc trong cương vị của mình. Khi tướng De Gaulle với sự yểm trợ của phe Đồng Minh tuyên bố ‘Thắng trận’ ngày 08.05.1945 và tại Hànội ông Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 02.09.1945. Vào thời điểm lịch sử đó, m¶t t° chÙc các Linh mục tu sĩ VN du học đã được thành hình.Tổ chức đó lấy tên là Việtnam du học giáo sĩ đoàn với số thành viên tiên khởi từ 15 tới 17 người( xem Kỷ yếu 50 thành lập giáo xứ VN tại Paris tr.62 ).

Về sĩ số của Liên Tu Sï thời kỳ nầy, theo văn liệu thấy kê khai 17 danh tánh các vị là : Trần văn Thiện*, Nguyễn ngọc Quang*, Bửu Dưỡng, Nguyễn hữu Tiến, Nguyễn văn Hiền*, Lê văn Lý, Cao văn Luận, Nguyễn văn Khiết, Trịnh quốc Bồng, Phạm văn Nhân (Hànội), Nguyễn thế Vinh(Hànội), Nguyễn huy Mai*,Nguyễn văn Lập, Trần văn Triệu, Lê văn Aán*, Đinh văn Hưởng, Hoàng văn Đoàn.* (các vị có * sau làm Giám Mục)

1946 Liên đoàn công giáo Việt Nam tại Pháp và Giáo sĩ đoàn. Trong năm 1946, có cuộc Đại hội nghị mở ra ở Toulouse do Hội Công giáo VN ở Paris với danh nghĩa ‘trung ương lâm thời’ mời gọi. Có mặt 30 đại biểu giáo dân từ khắp nơi trong nước Pháp như Paris, Lyon, Grenoble, La Roche/yon, Arles, Tarascon, Bergerac, Sorgues, Mazagues, Toulouse, v.v. và 5 linh mục hiện diện là Cao văn Luận, Nguyễn ngọc Quang, Hoàng mạnh Hiền, Nguyễn văn Lập, Đinh văn Hưởng. Các linh mục VN tại Roma cũng gởi điện tín chúc mừng Đại Hội. Đại Hội nghị diển ra hai ngày 31.03 và 01.14.1946 để thành lập Liên đoàn công giáo VN tại Pháp (Fédération catholique vietnamienne) với Nội quy gồm có 5 khoản và 24 điều lệ. Nội quy của Liên đoàn được Hàng Giáo phẩm Pháp duyệt y 01.10.1947 và Hàng Giám Mục Việtnam nhìn nhận ngày 19.11.1951. Sau giai đoạn thành lập với những bản nội qui được tu chính của hai hội của giáo sĩ và giáo dân, mọi hoạt động của Liên Tu Sï dường như được qui vào vịệc mục vụ Tuyên Úy hoặc cho Liên đoàn CGVN như kể trên hoặc chia nhau làm Tuyên úy cho Đoàn sinh viên mà nhiệm kỳ và danh tánh và đoàn trưởng được nêu lên như sau :

1947-1948: Linh mục Nguyễn huy Mai và sinh viên bác sĩ Đặng vũ Cảnh

1948-1949: Linh mục Trần văn Hiến Minh và sinh viên bac sĩ Nguyễn văn Aùi

1949-1950: Linh mục Nguyễn bình An và sinh viên bác sĩ Lâm trọng Thức

1951-1952: Linh mục Trần thanh Giản rồi Linh mục Nguyễn quang Lãm và sinh viên Kỹ sư Trần ngọc Oành.

1952 : Tổ chức truyền giáo Việt Nam tại Pháp. Sau đại thế chiến II, vấn đề mục vụ cho dân di trú mỗi ngày một khẩn trương. Vì thế, Đức Piô XI ban hành Tông Huấn ‘GIA ĐÌNH XA CÁCH’ (Exsul Familia), vào năm 1952, vạch ra những hướng mục vụ dành riêng cho những người ngoại quốc bỏ quê cha đất tổ đến sinh sống ở xứ lạ quê ngưới. Chính theo tinh thần Tông Huấn này mà ‘trong buổi hội tháng 10 năm 1952, các Hồng Y và Tổng Giám Mục của Ủy Ban Giám Mục Ngoại Kiều Vụ Pháp đã đồng ý ký thác cho cha Pacifique Nguyễn Bình An sở Tuyên Úy của những người Công Giáo Việt Nam trên toàn lãnh thổ Pháp, gọi là Tổ Chức Truyền giáo Việt nam tại Pháp’.

1955: Cha Trần thanh Giản được bổ nhiệm thay thế cha Nguyễn bình An hồi hương, để lo việc mục vụ cho kiều bào với chức vụ Giám đốc của các Thừa sai của Tổ chức Truyền giáo Việtnam tại Pháp. Nên biết tại Paris thời nầy Việtnam đã có 2000 sinh viên và trí thức, 3000 thợ.Toàn quốc có chừng 12.000 thợ thuyền, 5000 lính, và 3000 sinh viên.

Cộng tác với cha Giản ở Paris có các cha Nguyễn ngọc Lưu, Nguyễn định Tường, Nguyễn văn Long, Nguyễn quang Toán, Nguyễn tiến Huynh, Phan đình Thành. Thêm ở các tỉnh có các cha Nguyễn quang cảnh tại Marseille, cha Phạm phúc Khánh ở Nice và Cannes, Cha André Courtois ( Bùi xuân Lịch ) vùng Grenoble,Toulon, Aix.

1962 : Bản điều tra của Tổng Giáo Phận Paris về ba địa điểm Truyền Giáo Việt Nam. Văn khố của Tổng Giáo Phận Paris còn giữ bản điều tra 1962 về ba vùng truyền giáo Việt Nam tại Pháp : Paris, Seine et Oise và Sud Est de la France.

Tổ chức Truyền Giáo Paris. Địa chỉ ở số 32, Ave de l’Observatoire, Paris 14. Các thừa sai là ba cha Trần Thanh Giản, Nguyễn Văn Long và Nguyễn Tiến Huynh. Tổ Chức Truyền Giáo được thiết lập như một giáo xứ theo giáo luật, khoản 216, 4; có nhà nguyện, trung tâm xã hội, giải trí. Hoạt động gồm : chuẩn bị bí tích rửa tội, thăm viếng các gia đình, giúp đõ các sinh viên, huấn luyện giáo dân. Có hai nữ tu dòng Phanxicô truyền giáo phụ tá. Về con số, có khoảng 10 000 người Việt Nam.

Tổ chức Truyền Giáo Seine et Oise. Địa chỉ ở số 2, Ave Ed. Branly, Lochères và 15, rue de la République, Ermont. Thừa sai là cha Nguyễn Mạnh Tân, dòng Phanxicô. Sở Truyền Giáo được thiết lập năm 1961, như một giáo xứ, theo giáo luật khoản 216, 4, xử dụng nhà thờ của xứ đạo sở tại, có một nữ tu Phanxicô truyền giáo phụ tá. Hoạt động gồm : thăm viếng các gia đình, đặc biệt giúp giới phụ nữ, cổ động các hội đoàn hiện hữu. Có 101 gia đình ở Sarcelles Lochères, 56 gia đình ở Ermont, mà đa số là các gia đình Việt-Pháp, hay Việt Nam có quốc tịch Pháp và về Pháp từ 1954.

Tổ chức Truyền Giáo Sud Est de la France. Địa chỉ ở Vin sur Caramy. Cha André Courtois Bùi Xuân Lịch, thuộc hội Xuân Bích được bổ nhiệm làm linh mục thừa sai theo Tông Huấn Exsul Familia. Tại Marseille, Cannes, Nice, có các linh mục cựu thừa sai từ Việt Nam về hay các cha Việt Nam qua đường tự nguyện giúp đỡ. Về thông tin, có tờ Thân Ái, mỗi năm ra ba lần, in 900 bản. Và có một nữ tu Bác Ái phụ tá tại Marseille. Công việc mục vụ gồm : chuẩn bị bí tích rửa tội, thăm viếng các gia đình. Số người Việt thì tại Aix có 80 gia đình, Marseille chừng 2000 gia đình, Nice khoảng 240 gia đình và Toulon có 340 gia đình. Riêng Grenoble có khoảng 26 gia đình và 75 sinh viên. Trung bình mỗi gia đình có cha mẹ và 6 con. Vị chi tất cả có 2666 gia đình với khoảng (2686 x 8)+ 75) chừng 21488 người.

Hội đồng Mục vụ được thành lập (1968). Trong bối cảnh sôi động nổi dậy cuộc cách mạng gọi là ‘Révolution culturelle Mai-Juin’ 1968, ở Giáo xứ VN cũng có luồng gió cách mạng theo lối đòi hỏi thay đổi. Tòa Tổng Giám Mục mời Linh mục Tu sĩ Việtnam hợp tác để lập Hội đồng Giáo xứ. Ngày 14-10-1968 Hội Đòng Mục Vụ ra mắt tại Giáo xứ. Giám đốc Giáo xứ là Cha Trần thanh Giản với Chủ tịch Liên Tu Sï là Co-Présidents của HĐMV.

A/ Thành phần đương nhiên theo chức vụ là :

-Lm Chánh Phó Giáo xứ : Hai cha Trần thanh Giản và Phan đình Thành.

-Lm Chánh Phó Chủ tịch Liên tu sĩ:Nguyễn xuân Phong và Trần học Hiệu.

B/ Thành phần tuyển cử theo tiêu chuẩn: kinh nghiệm và nhiệt thành về Mục vụ:

8 vị :LmTrần ngọc Bích, Sh Trịnh Hảo, Lm Nguyễn Hưng, Lm Đinh quang Tịnh, Lm Trần minh Chiêu, Lm Nguyễn quang Toán, Lm Hồng kim Linh, Lm Đinh quang Trung.

Thời nầy không thấy ghi giáo dân có mặt trong Hội Đồng Mục Vụ.

1969: Nguyễn tri Minh (CT) Phạm đán Bình, Hồng kim Linh, sh Hoàng gia Quảng, Nữ tu Bùi thị Định.

1970 :Nguyễn hữu Đăng(CT), Đinh quang Tịnh, Nguyễn Hưng. Chiến sự tại Cambốt văng động, Hoàng thân Sihanúc bị lật, Lol Nol làm thủ tướng, kiều bào VN bị tàn sát. LTS mở cuộc lạc quyên giúp đỡ đồng bào.

Trong năm nàøy LTS Pháp chào đón Sinh Nhật của Cộng đoàøn tu sĩ Việtnam tại Mỹ châu.

1971:Nguyễn thị Sang (CT)Khuất duy Linh, Nguyễn tiến Cát, Đoàn thanh Dũng.

1971, Cha Nguyễn quang Toán phụ tá tại giáo xứ Việtnam số 15, rue Boissonnade Paris 14 đuợc bổ nhiệm thay cha Trần thanh Giản để làm Giám đốc tạm thời của Tổ chức Truyền giáo Việtnam cả trên bình diện quốc gia và điạ phương. Sự bổ nhiệm là do ĐC Pézeril phụ tá T°ng Giáo PhÆn Paris, nhân danh Giáo tỉnh Paris, cùng với sự đồng ý của các Giám Mục Việtnam. Cộng tác với cha Toán có các cha Hoàng quang Lượng, Lê huy Bảng, Đoàn thanh Dũng, và Phan thanh Văn.

30.04.1975: chế độ miền Nam cáo chung. Chiến tranh kết thúc. Kiều bào ở Paris giao động: vui mừng hy vọng hay lo âu sợ sệt tuỳ theo phán đoán chính trị của tình thế. NgÜ©i Công Giáo cũng hít thở trong bầu khí nầy. Những cuộc gặp gỡ nhóm nhỏ nhóm lớn cũng rất thường xuyên trong giai đoạn mới nầy của đất nước. Một số đoàn thể Việt kiều được khuyến cáo và áp lực giải tán, một số đoàn thể khác rục rịch chuẩn bị ra mắt. Giáo xứ lúc ấy do cha Nguyễn quang Toán làm Giám đốc cũng bị cuốn xoáy trong cơn lốc của thời cuộc và được mời bày tỏ š kiến trước thời cuộc. Phong trào vượt biên tị nạn bắt đầu. Có nhiŠu người tới nước Pháp, tới Hoa kỳ. Toà Thánh Vatican, Đùc Hòng Y Rossi ở Thánh Bộ Truyền giáo gởi thông tư đến các hàng giáo phẩm các nơi để yêu cầu lo tiếp nhận các Linh møc và giáo dân Việt Nam.

Lời kết

Người Việt Nam khởi đầu đến Pháp vào năm 1784 với phái đoàn Hoàng Tử Cảnh gồm 44 người để cầu viện và vào năm 1863 để chuộc đất với phái đoàn Phan Thanh Giản gồm 56 người. Rồi qua nhiều dịp khác nhau và vì nhiều lý do khác nhau, từ đầu thế kỷ 20, năm đợt người Việt Nam khác đã đến Pháp : 1914-1918 với khoảng 50 000 lính thợ; 1919-1940 với khoảng 1500 sinh viên du học; 1940-1945 với khoảng 28 000 người lính thợ khác; 1954 với nhiều gia đình Pháp Việt, hoặc gia đình Việt có quốc tịch pháp hồi hương; 1975, khoảng 120 000 người gốc Á Châu qua tỵ nạn ở Pháp.

Trong số những người Việt Nam đến Pháp này, một số là công giáo. Vì nhu cầu đời sống và đức tin, họ qui tụ lại với nhau để cầu nguyện và liên đới giúp đỡ nhau. Một cộng đoàn đã dần dà được thành hình và có một cơ cấu tổ chức cơ bản, từ Hội Công Giáo Việt Nam (1942), qua Liên đoàn Công Giáo Việt Nam (1946) đến Tổ chức Truyền Giáo Việt Nam (1952) với những sự kiện chính yếu sau đây :

- Năm 1942 Hội Công giao Việt Nam ? Paris đã được thành lập quy tụ duợc một số giáo dân. Ở các tỉnh thời điểm này cung có các hội công giáo thành hình.

- Năm 1945 : thành lâp Việt nam du học giáo sĩ đoàn với số thành viên tiên khởi là 17 vị là : Trần văn Thiện*, Nguyễn ngọc Quang*, Bửu Duỡng, Nguyễn hữu Tiến, Nguyễn văn Hiền*, Lê văn Lý, Cao văn Luận, Nguyễn văn Khiết, Trịnh quốc Bồng, Phạm văn Nhân (Hà nội), Nguyễn thiện Vinh(Hà nội), Nguyễn huy Mai*,Nguyễn văn Lậ p, Trần văn Triệu, Lê văn Ấn*, Đinh văn Huởng, Hoàng văn Đoàn.* (các v ị có * sau làm Giám Mục).

- 1946 thành lập Liên doàn công giáo Việt Nam tại Pháp

-1952 thành lập Tổ chức truyền giáo Việt Nam tại Pháp và đến năm 1962 đã có 3 cơ sở : Paris (khoảng 10 000 người), Seine et Oise (khoảng 1256 người) và Sud Est de la France (khoảng 21 488 người).

- 1968 thành lập H?i d?ng M?c v? với duy nhất các thành viên linh mục tu sĩ mà không có giáo dân.