Những thách đố trong đời sống đức tin: Những thách đố đọ trí

Trong Tôn Ngô Binh Pháp, có kể câu chuyện này : « Thân Bao Tư nước Sở sang sứ nuớc Việt. Vua Câu Tiễn nước Việt sắp sang đánh Ngô, nhân hỏi về chiến trận. Thân Bao Tư thưa rằng : Nay chiến trận, lấy trí làm đầu, thứ đến nhân, thứ đến dũng. Không trí thì không biết hết được tình dân, không thể lường tính được sự đông vắng ở trong thiên hạ; không nhân thì không thể cùng ba quân chịu chung cái nạn đói khát vất vả; không dũng thì không thể đoán định được điều ngờ để nẩy ra kế lớn ». Đức tin không khác gì chiến trận về phương diện thách đố. Nếu dũng là giải pháp cần để giải quyết những thách đố thử đức, nhân là giải pháp cần để giải quyết những thách đố thách lòng, thì trí là giải pháp cần để giải quyết những thách đố đọ trí. Trên phương diện quyết địng, các nhà quản trị phân biệt 3 loại quyết định : những quyết định làm việc, những quyết định chức vụ và những quyết định chiến lược. Loại quyết định thứ ba đòi hỏi nhiều trí lực, vì, nói theo Tôn Từ, phải biết dựa vào thiên thời, địa lợi, nhân hoà, pháp lệnh, tướng soái.

Những thách đố đọ trí này gặp hai nguy hiểm rất lớn : nguy hiểm không biết mình cho đủ, không vững bản lãnh của mình và nguy hiễm không biết người cho rõ, không biết hoà đồng với người. Thách đố đọ trí này càng trở nên cam go cho giáo hữu Việt Nam, khi lịch sử và địa dư cho thấy rằng đúc tin Ky tô đã du nhập vào Việt Nam từ Âu Châu. Trong bài nghiên cứu về « Tôn kính tổ tiên » linh mục Mai đức Vinh khi đề cập đến sự va chạm và dung hoà giữa triuyền thống Việt Nam và Công Giáo, đã khẳng định rằng có những điểm tương đồng và những điểm dị biệt.

Khi hai Đại diện Tông toà đầu tiên, đức cha Lambert de la Motte (18/06/1660) và đức cha Pallu (03/01/1662) chuẩn bị đáp tầu đi viễn đông thì vào năm 1659, Bộ truyền giáo nhắn nhủ nhủ các ngài một cách rõ rệt rằng; « Dù nhiệt tâm truyền giáo, quí ngài không được viện lý do khuất phục dân xứ đó phải thay đổi nghi lễ, phong tục và tập quán của họ, trừ phi những điều đó rõ ràng là nghịch với tôn giáo và với luân lý ». Nhưng cái khó khăn là về phía Thiên Chúa Giáo, đã có những lý giải khác nhau. Một bên là các cha dòng Daminh và các cha Thừa sai Paris, một bên là các cha dòng Tên đã có những « tranh cãi về nghi lễ » kéo dài cả trăm năm, từ 1645 đến 1742. Thêm vào đó, một vài hành động trái ngược với truyền thống của một vài nhân vật lịch sử đã gây ra những hiểu nhầm. Linh mục Phan Phát Huần kể lại hai sự việc : « Sự việc thứ nhất là khi Hoàng tử Cảnh không chịu lạy tổ tiên trong ngày lễ kỵ làm Hoàng Hậu giận đến nỗi bạt tai hoàng tử và khóc.. . Sự việc thứ hai; Ông Đình Trung, một quan lớn trong triều cũng từ chối không lậy tổ tiên vua trong ngày kỵ, lấy cớ chỉ lạy Đức Chúa Trời ba Ngôi mà thôi. Điều ấy làm vua rất tức giận và mắng ».

Từ đó, nhiều người Việt Nam không công giáo đã có những phản ứng không tốt và coi « Những người theo đạo Thiên Chúa là bất hiếu, là bỏ cha bỏ mẹ,.. Đặc biệt giới Nho sĩ, họ cực lực đả kích Thiên Chúa giáo…Thấy người Thiên Chúa giáo có những thể hiện trong việc ma chay, cúng giỗ khác tục lệ trong gia đình, họ lại không đóng góp vào phí tổn các cúng bái của làng xã,.. nhiều người vin vào đó tố cáo họ với quan trên, nhất là trong thời vua chúa cấm đạo hay Văn Thân sát tả. Điều không may cho Giáo Hội Việt Nam bấy giờ là hoàn cảnh đất nước bị quân Pháp xâm chiếm. Do đó các nho sĩ, quan lại, vua chúa coi Thiên Chúa giáo như tà đạo, « vì bỏ cha bỏ mẹ, không thờ cúng tổ tiên ». Rồi họ trói buộc tà đạo với việc mất nước, để gây những phong trào « bình tây sát tả ». Đó là chủ trương của các vua Tự Đức và Minh Mệnh, của các ông Nguyễn văn Tường và Tôn Thất Thuyết, linh hồn của phong trào Văn Thân.

Với thời gian và nhất là với trí thông minh và tinh thấn bao dung tôn giáo của người Việt Nam, những phản ứng tiêu cực ở trên đối với Thiên Chúa giáo sớm tan biến, có chăng chỉ còn sót lại ở một số nhỏ các nho sĩ và những người « không tin có ông Trời Sáng Tạo Tối Cao ». Với những biến chuyển tiến lên của xã hội Việt Nam, với những cải cách tốt đẹp của Phật giáo,…việc tôn kính tổ tiên tại Việt Nam được sáng tỏ ý nghĩa và và khẳng định rõ ràng hơn : Đây là những nghi thức biểu thị lòng hiếu thảo cha mẹ, ghi ơn các bậc tiền bối chứ không phải là một tôn giáo chất đầy những tục lệ phiền toái và những nghi lễ nhuốm mầu dị đoan như xưa nữa.

Trước bối cảnh tôn giáo và xã hội này, tại Việt Nam (và nhất là tại Trung Hoa), Thiên Chúa Giáo cảm thấy thoải mái hội nhập vào truyền thống văn hoá tâm linh của quê hương trong phạm vi tôn kính tổ tiên. Các thưa sai tại Việt Nam ( nhất là tại Trung Hoa) cảm nghiệm sâu xa điểm này, nên đã vọng vang qua Toà Thánh, và Toà Thánh đã đáp lại bằng huấn thị « Plane compertum est », ban hành ngày 08/12/1939, nhìn nhận việc tôn kính tổ tiên chỉ là một nghi thức biểu thị lòng hiếu thảo và có tính cách văn hoá, dân sự chứ không phải là tôn giáo. Huấn thị này áp dụng trước hết tại Trung Hoa và từ 1965, tại Việt Nam. Và đây là việc làm đáng ghi của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, được thành lập 1960 ».

Trong sách Binh Pháp, ở chương 3, chương nói về « Mưu công », Tôn tử viết : « Cái đạo biết sự thắng là : Biết người, biết mình, trăm trận không nguy; không biết người mà biết mình, một được, một thua; không biết người, không biết mình, hễ đánh là thua ». Hai thách đố cam go cúa người tín hưũ Việt nam, ở mức độ chiến lược, mức độ đọ trí hẳn nhiên là biết mình, giữ được bản lãnh của mình và biết người, thực hiện được việc hoà đồng với người.

Biết mình, giữ được bản lãnh của mình. Mình là ai ? Mình từ đâu đến, đi trên con đường nào ? Đi về đâu ? Phái làm gì để biết được mình và giữ được bản lãnh của mình ?

Vào năm 2004, để kết luận bài « Cây Văn hoá Việt Nam trồng tại Giáo Xứ Paris », tôi đã viết : Người công giáo việt nam Paris nói riêng và người tín hữu Việt nam khắp nơi nói chung có hai nét cá biệt vẽ ra bản lãnh của họ là « đỏ máu đức tin công giáo và vàng da văn hoá việt nam.

Người Việt Nam Công Giáo vì là Việt Nam, bám sâu vào rễ Âu Lạc, Bách Việt và Tam Giáo, nên dù ở ngoại quốc cũng biết nói tiếng việt, nặng tình huynh đệ giống nòi rồng tiên, có tâm tính khoáng đạt siêu thoát, ưa cương thường hiếu thảo; vì là công giáo, được đào luyện trong khung nhân bản, thuần lý và đức tin, nên khăng khít với Giáo Hội, trung thành với đức tin, sẵn sàng tham dự các hoạt động tông đồ.

Giáo xứ Việt Nam Công Giáo ở Pháp và đặc biệt ở Paris, gặp một môi trường thuận lợi cho nên dẫu còn non trẻ, mà được đầy sức sống tươi mát, có một tổ chức trong sáng và dệt được những tương quan hữu ích.

Nhờ đó, trong các sinh hoạt xã hội hàng ngày, người công giáo việt nam Paris vẫn thường gặp nhau luôn, trong các lễ hội chung đạo đời, qua các lễ giỗ tư sinh tử và liên đới với nhau trong các ngành nghề.

Nhờ đó, trong các sinh hoạt văn học, người công giáo việt nam ở Giáo Xứ Paris vẫn duy trì, trau dồi và bồi dưỡng những văn nghệ cổ truyền dân tộc, vẫn xây dựng được một hệ thống báo chí và mạng lưới tin học tiếng việt đáng chú ý; vẫn tổ chức được những cuộc thuyết trình thảo luận giá trị, đã bắt đầu kiến tạo được một thư viện và một nhà xuất bản có tầm vóc nghiên cứu.

Nhờ đó, trong các sinh hoạt giáo dục, người công giáo việt nam ở giáo xứ Paris đã biết tạo cho mình một hệ thống giáo dục gần như hoàn hảo, bao gồm giáo dục khởi đầu ở mọi lớp tuổi : ấu, thiếu, sĩ, tráng và giáo dục liên tục rộng mở ra cho nhiều lứa tuổi, cho mọi cấp bậc xã hội và trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là pháp văn, mục vụ và hôn nhân gia đình.

Nhìn vào những người giáo dân việt nam ở Giáo Xứ Việt Nam Paris, ta chẳng có gì ngạc nhiên, vì tiền nhân của họ đã là những anh hùng tử đạo, vững đức tin công giáo và nặng văn hoá Việt Nam »

Biết người, thực hiện được việc hoà đồng với người.

Viết về cha Trần Lục, linh mục Dũng Lạc Trần Cao Tường, trong bài : « Khi đạo mang thịt xương Việt, một công trình Việt hoá đạo Chúa của cụ Sáu Trần Lục » đã bộc bạch rõ ràng tâm can của mình qua những lời sau : « Trong cả một diễn trình dài của lịch sử truyền giáo trên 400 năm, tìm ra đường lối và phương thức nào hữu hiệu nhất để đạo Chúa có thể đi vào mạch máu và rung cảm tận trong tế bào người Việt, vẫn luôn là một thách đố. Cụ Sáu Trần Lục đã bắt đầu con đường đó bằng công trình xây cất quần thể nhà thờ Phát Diệm, nơi cụ đã làm chánh sở 34 năm từ năm 1865 đến 1899 ».

Cùng một quan điểm về thách đố Hội Nhập văn hoá cho Giáo Hội Việt Nam với linh mục Dũng Lạc Trần Cao Tường, Linh mục Cao Phương Kỷ nêu ra ba vấn đề chính, trong cuốn « Đạo Thiên Chúa và dân Nước Việt », đang phổ biến trên mạng dunglac. net. Cha Cao Phương Kỷ viết về Những thách đố cho Giáo Hội Việt Nam : « Dưới đây, xin nhấn mạnh đến những nhu cầu cấp bách nhất dang « THÁCH ĐỐ » các Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam trên toàn Thế Giới. Có thể chia làm ba vấn đề chính để thảo luận : 1. Truyền giáo, tức đem tin mừng của Chúa cho người đồng hương Việt Nam; 2. Hội nhập văn hoá hay bảo tồn những giá trị đạo đức và văn hoá Việt Nam; 3. Truyền thông, báo chí, xuất bản..

Tập kỷ yếu « 30 năm hành trình Đức Tin của các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp » vừa được Tuyên Úy Đoàn cho in, dành cho Đại Hội hành hương Lộ Đức lần thứ 6, từ 3 đến 7 tháng 8 năm 2006. Không rõ rệt, nhưng qua nội dung 3 phần của tập kỷ yếu, đặc biệt ở phần 1 và 3, dường như ban biên tập muốn nêu ra ba thách đố với cộng đoàn.

Cha Phêrô Luca Hà quang Minh, đại diên Tuyên Úy Đoàn nêu ra thách đố thứ nhất và đặt vấn nạn : « Có nên duy trì các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam hay không ? Nếu có, dưới hình thức nào ? Việc hội nhập vào các xứ đạo địa phương phải chăng là con đường mục vụ cho tương lai ? »

Cha Mai đức Vinh thì nhắc lại lời thánh Gioan thánh giá về lời Chúa sẽ hỏi mỗi người « Này con, con có luôn giơ cao đèn sáng không ? Con biét rõ, đèn sáng tình yêu mà Cha đã trao cho con. »

Sau cùng, qua bốn bài trích đăng khác : « Người Việt sống trên đất Pháp » của Ông Bùi Xuân Quang, « Quan điểm của Giáo Hội Pháp về người trẻ Việt Nam » của Nt Marie Pascale Lài, « Sư tham gia của người tín hữu Việt Nam vào Giáo Hội Pháp » của Nt Trần Thiết, và « Vấn đề hội nhập xứ đạo Pháp » của Lm Nguyễn Văn Dziên, dường như Ban Tuyên Úy muốn ghi đậm một thách đố tổng quát hơn « Làm sao mở ra và hoà đồng được với xã hội và giáo hội địa phương mà không mất việt tính ? »

Vào năm 1883, trong buổi lễ ra mắt của Hội Đồng Mục Vụ tiên khởi của Giáo Xứ Việt Nam Paris, tôi có hân hạnh được nói truyện với Cha Frikart, cha chính địa phận Paris, thay mặt Đức hồng y J.M. Lustiger đến tham dự buổi lễ. Tôi tò mò hỏi ngài nghĩ gì về Cộng Đoàn Công Giáo Paris. Ngài bình thản trả lời : « Chúng tôi quí mến và thán phục các giáo dân Viêt nams. Chúng tôi thấy, một đàng họ cởi mở, đón nhận và hội nhập vào văn hoá Pháp một cách rất dễ dàng và tự nhiên, một đàng họ vẫn giữ và phát triển được ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam qua việc giáo dục văn hoá cho thanh thiếu niên, họ biết nghĩ đến tương lai của mình vì tôi thấy họ hắng lo nghĩ đến việc xây dựng cơ sợ và đào tạo lớp linh mục tương lai của họ ». Tôi thiết nghĩ đây là bức ảnh căn cước rất đẹp mà một vị hữu trách Pháp có thể nhìn ra và hoạ lại về người giáo dân Việt Nam. Ước chi bức họa này sẽ tồn tại mãi mãi và càng ngày càng được tô điểm lộng lẫy và thanh tao thêm.

Kính thưa quí Cha

Kinh thưa quí ông bà,

Những thách đố trong đời sống đức tin cho người công giáo Việt Nam hôm nay, như tôi vừa trình bày trên đây qui tụ vào trong sáu cái chính, mà chúng ta có thể lặp lại dưới hình thức câu hỏi như sau :

1. Làm sao đủ dũng mãnh để vẫn trung thành mà không vấp ngã chối Chúa trước những núi cao « lăng nhục, hoạn nạn, đe doạ, bắt bớ, tra tấn » vì đức tin trong cuộc đời ?

2. Làm sao đủ kiên cường để thờ kính mà không bị cuốn lôi vào việc bán Chúa trước những sông sâu « khinh khi, thoá mạ, đe dọa, hoặc những vuốt ve, quyến dũ, lôi cuốn của lợi lộc, danh vọng, chức quyền » trên dòng đời ?

3. Làm sao cho lòng tin cậy mến cao và mạnh đủ để vẫn giữ được tâm hồn ổn định, yên tĩnh và an bình mà không bị lôi đẩy té xuống hố sâu dục vọng ?

4. Làm sao xây luỹ Gia Đình cho vững mạnh trong văn hoá tình yêu của Chúa ?

5. Làm sao dựng thành Bản Thân cho kiên cố, để mình vẫn là mình, vàng da văn hoá Việt Nam và đỏ máu đức tin công giáo ?

6. Làm sao kiến quốc Hoà Đồng mà mở ra với mọi người để hội nhập tôn giáo, hội nhập văn hoá mà giơ cao Đèn Tình Yêu để chiếu sáng vào môi trường mình sống, cho những người mình gặp, bất kể là đồng hương hay không ?

Xin các Cha và Quí Ông bà chúng ta cùng nhau suy nghĩ và thành thật trao đổi để đời sống đức tin của chúng ta thêm sức mạnh và phong phú hơn, dưới sự chúc lành của Đức Mẹ Lộ Đức và Đúc Mẹ La Vang.