Những thách đố trong đời sống đức tin



Kính thưa quí Cha

Kinh thưa quí ông bà,

Tuần lễ này, chúng ta đang sống những ngày nhộn nhịp và hạnh phúc nhất của Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp. Tất cả 47 cộng đoàn địa phương, từ bắc, Rouen, Amiens, Lille, Reims, chí nam, Nice, Cannes, Aix en Provence, Toulon, Avignons, Marseille, Montpellier, Toulouse; từ đông Metz, Nancy, Strasbourg, Colmar, Mulhouse, Annecy, Chambéry, Grenoble, Valence qua tây Saint Brieuc, Rennes, Vannes, Nantes, Poitiers, Luçon, Angers, Bordeaux, từ thủ đô Paris, Versailles và vùng phụ cận, Créteil, Evry, Garges, Sarcelles, Cergy, Marne La Vallée, Ermont, Villiers le Bel, Antonny, qua miền trung Troyes, Orléans, Dijon, Autun, Chalon, Chateauroux, Limoges, Clermont Ferrand, Saint Etienne, Lyon,…cùng tề tựu về Lộ Đức này, trong 5 ngày, từ 03 đến 07.08.2006, để cùng nhau, trước sự chứng kiến của Mẹ Maria, kỳ niệm hai biến cố quan trọng :

30 năm hành trình đức tin (1976-2006), thành lập tổ chức Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp.

60 năm thành lập Hội Liên Tu Sĩ Việt Nam tại Pháp (1946-2006).

Cụ thể, chúng ta cùng nhau gặp gỡ, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau trao đổi và học hỏi. Ba đề tài đã được các cha tuyên úy chọn lựa và đề nghị các cộng đoàn cùng nhau trao đổi:

- Hiện tình các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp

- Những thách đố trong đời sống đức tin

- Sứ mệnh truyền giáo của người giáo dân.

Được Ban Tuyên Úy mời trình bày đề tài thứ hai, ‘Những thách đố trong đời sống đức tin’, tôi xin gợi ý cùng quí Cha và Quí Ông bà ba loại thách đố cam go trong đời sống đức tin công giáo hôm nay.

Những thách đố thử đức



Các ông bà ta vẫn bảo ‘Lửa thử vàng, gian nan thử đức’. Theo nghĩa này, những thách đố đức tin đầu tiên là những thách đố có tính cách thử thách, thử xem ta có lòng mến Chúa thực không, thử xem ta có chắc chắn dám làm ky tô hữu thực không, thử xem ta có đủ can đảm, đủ dũng mãnh, đủ chịu đựng, đủ đức tin không, thử xem ta có đủ can đảm giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời cùng 6 điều răn Hội Thánh không. Đó là những hoàn cảnh khó khăn mà ta phải chịu trong đời sống đức tin, những gian nan, những bắt bớ, những giam cầm, hành hạ, những lăng nhục, hoạn nạn, những khinh khi, thoá mạ vì đức tin, vì 8 mối phúc thật. Nếu những khó khăn này cam go quá sức chịu đựng và nếu đức tin của người tín hữu không đủ mạnh thì khó khăn sẽ thắng và người tín hữu sẽ sa ngã.

Những thách đố thử đức có hai nguy hiểm sa ngã lớn, nguy hiểm chối Chúa của Phê rô và nguy hiểm bán Chúa của Giu Đa. Nguy hiểm chối Chúa của Phê rô ngày nay được diễn ra dưới nhiều hình thức : bỏ đạo, nhạt đạo, lơ là với đạo, không dám nhận mình là công giáo, không thực hành, cũng không dám bảo vệ những giảng dậy của Giáo Hội về các vấn đề xã hội và luân lý.

Ngày 22/05/2006, Lm Trần Công Nghị, Giám Đ ốc Vietcatholic news, đã ghi bản tin sau đ ây : VATICAN – Hội Đồng Giám Mục Châu Âu vừa mới kết thúc cuộc họp tại Vatican trong tuần qua đã đưa ra lời tuyên cáo là tông huấn “Giáo Hội Âu Châu - Ecclesia in Europa” của ĐGH Gioan Phaolô II vào năm 1999 gửi cho Châu Âu vẫn còn tác dụng và ý nghĩa.

Tuyên cáo của các Giám Mục Châu Âu ghi nhận rõ ràng là có sự tiếp nối giữa triều đại Giáo hoàng đương thời là ĐGH Benedictô XVI và vị tiền nhiệm. ĐGH Benedictô cũng đã kêu gọi Châu Âu chú ý tới những thách đố mà Giáo Hội tại Châu Âu đang trải qua như: “bầu khí lơ là về tôn giáo đang lan tràn, tinh thần thế tục và chủ nghĩa tiêu thụ lan tràn sang cả những quốc gia Đông Âu, dưới những dạng thức của não trạng chỉ biết nhắm tới tích cực... thuyết tương đối về giá trị luân lý và đạo đức... cái nhìn xã hội trần tục hóa kiếm tìm trật tự hoạt động nhân sinh không dựa vào Thiên Chúa và những giá trị siêu việt”.

Bản tuyên ngôn cũng nhận định rằng: “Nhu cầu Phúc Âm hóa Kitô giáo tại Châu Âu đang trở nên khẩn thiết hơn lúc nào hết”.


Nguy hiểm bán Chúa của Giu Đa cũng không phải chỉ có ở thời Chúa. Nguy hiểm bán Chúa đặc biệt đã xảy ra trong các xã hội cộng sản.

Ngày 9/03/2006, Lm Đặng Thế Dũng đã ghi trên Vietcatholic News bản tin vắn này : “Lần đầu tiên, Giáo Hội Công Giáo BaLan lên tiếng, hôm thứ Năm, ngày 9 tháng 3 năm 2006, xác nhận có vài linh mục Balan đã cộng tác với cơ quan mật vụ của Ðảng cộng sản BaLan, và xin lỗi vì những thiệt hại đã gây ra.

Ðược biết, cuối tháng 2 năm 2006, Giáo Hội BaLan đã quyết định điều tra trường hợp những linh mục gián điệp, làm việc cho mật vụ của đảng cộng sản BaLan, trong thời gian Công Sản nắm quyền tại BaLan.

Sau cuộc họp kéo dài hai ngày, tại thủ đô Warsava, các giám mục BaLan nhận định rằng: trong chế độ cộng sản khủng khiếp có khả năng bẻ gảy sức đề kháng của lương tâm con người, vài nhân vật giáo hội đã sa vào bẫy... Chúng tôi hối tiếc về sự việc đã xảy ra và chúng tôi xin lỗi, nhất là xin lỗi tất cả những ai đã phải chịu đau khổ vì các việc đó." Trong thông cáo, các giám mục BaLan cho biết rằng các ngài không trốn tránh những câu hỏi liên quan đến những vấn đề nghiêm trọng nhất này của lịch sử giáo hội tại BaLan. Nhưng đồng thời các giám mục BaLan cũng chống lại mọi cố gắng nhắm "đơn giản hoá vấn đề".

Theo ước lượng của Viện Ký Ức Quốc Gia, là cơ quan hiện có thẩm quyền điều tra về những tội phạm của đức quốc xã và cộng sản, thì có khoảng 10% linh mục BaLan đã cộng tác với mật vụ cộng sản BaLan. Viện Ký Ức Quốc Gia hiện lưu giữ tất cả mọi hồ sơ của lực luợng mật vụ thời cộng sản nắm quyền tại BaLan
”.

Đảng Cộng Sản Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của Đảng Cộng Sản Balan, cũng đã áp dụng một kế hoạch tương tự và tạo nên cái gọi là Uỷ ban Công giáo yêu nước yêu hoà bình để mua chuộc những Giu đa thời đại mới hầu len lỏi vào các cơ cấu tổ chức của Giáo Hội. Thực bụng trong lòng thế nào, chỉ có Chúa biết, nhưng cứ theo những dữ kiện khách quan quan sát được, thì ‘những linh mục và giáo dân quốc doanh’ cùng những tổ chức do họ lập nên, đã và đang giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam trong chính sách ‘cải tạo tư tưởng tôn giáo của họ. Nhưng không chỉ làm điệp viên cho cộng sản để phá Giáo Hội mới là Giu đa bán Chúa. Trong các xã hội tư bản, những dịp bán Chúa cũng không thiếu. Dùng danh hiệu công giáo để mua chuộc một chức vị, bất chấp lợi hại cho Giáo Hội; dùng địa vị trong Giáo Hội, trong Giáo Xứ, trong Cộng đoàn, để chèn ép ngưới khác, để thủ lợi,.. cũng có thể xếp vào những hành động ít nhiều bán Chúa. Thời Cộng Hoà cũ, từ 1954 đến 1975 ở miền Nam Việt Nam, không thiếu những người gia nhập Công Giáo Tiến Hành, Trí Thức Công Giáo,.. chỉ để được ra tranh cử dân biểu, để kiếm được một chỗ trong công quyền. Ngày nay, cha sở mua chuộc công an để họ không cho đổi xứ theo lệnh giám mục, giáo dân tống tiền cán bộ để làm dịch vụ hoặc thăng quan tiến chức,... đều là những hành động ít nhiều bán Chúa cả.

Người công giáo việt nam dưới thời Trịnh Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Văn Thân đã gặp rất nhiều hoạn nạn, đã bị bắt bớ, đã bị đánh đập, đã bị giam tù, đã bị lăng nhục, đã bị tử hình. 117 vị đã được lịch sử ghi lại rõ rệt và đã được Giáo Hội phong thánh để nêu gương cho ta. Nhưng biết bao nhiêu vị khác cũng đã kiên trung xưng đức tin như vậy, mà không được lịch sử biết đến. Cha Trần Anh Dũng đã ước lượng khoảng 130000 tiền nhân anh dũng hy sinh mạng sống để bảo vệ đức tin.

Dưới thời cộng sản gần đây, miền Bắc từ 1954 và miền Nam từ 1975 đến 1998, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn. Đây là một thời đại mà báo Tin Tức Công Giáo Thế Giới gọi là ‘thời đại mà tự do bị kiểm soát tại Việt Nam ’, mà Linh mục Sesto Quercetti thấy rằng ‘tự do tôn giáo, để được là tự do chân chính, cần phải được cải tạo Etudes, số 346, tháng 4/1977 ‘ và ký giả Michel Tauriac gọi là ‘Việt Nam đường núi sọ cho Giáo Hội Công Giáo ’. Cha Mai Đức Vinh, trong lá thư mục vụ tháng 10, năm 1986, đã viết : « Chính hôm nay đây Giáo Hội Việt Nam đang là giáo hội bị bách hại và hàng trăm ngàn con cái của Giáo Hội đang âm thầm tuyên chứng niềm tin và tình yêu trong mọi hình thức bắt đạo, che dấu dưới các chiêu bài « học tập », « cải tạo », hay « quản chế », « mất quyền công dân », « không được thi hành chức vụ », « phải sống chui, tu chui ». Những người Công Giáo Việt Nam hôm nay đang can đảm theo gương thánh Phao lô chịu thua thiệt tất cả vì đức tin vào Chúa Kytô và Giáo Hội. Nhà nước có thể tịch thu tài sản, cơ sở, loại bỏ không cho dạy học, làm việc ở nhà thương, tại xí nghiệp, cấm chế học hỏi giáo lý, sinh hoạt công giáo tiến hành, đi theo ơn gọi linh mục hay tu sĩ, nhưng nhà nước không thể tách rời họ với Chúa Ky Tô và Giáo Hội, không thể tiêu diệt lòng mến Thiên Chúa và yêu quê hương của người công giáo. Các tiền nhân tử đạo thời vua chúa, cũng như những người công giáo đang bị đàn áp dưới chế độ vô thần hiện nay không phải là những người phản quốc; trái lại là những người yêu quê hương, gắn bó với dân tộc bằng cả niềm tin và tình yêu. Đức tin vào Chúa và Giáo Hội đã khiến người Công Giáo có lòng yêu dân tộc vượt hẳn ý thức hệ của chế độ ».

Bí quyết nào đã giúp các thánh tử đạo Việt Nam và các tín hữu Việt nam đương đầu được với những thách đố thử đức để đã không chối Chúa ? Tích truyện của bất cứ thánh tử đạo nào cũng cho thấy năm bí quyết sau đây : văn hoá đức tin mạnh của gia đình và vai trò quan trọng của bà mẹ, tinh thần bác ái tông đồ với mọi người chung quanh, đời sống cầu nguyện cao và tâm hồn bình thản phó thác vào Chúa Quan phòng. Chuyện thánh Thánh Anrê Trần Văn Trông mà Lm Dũng Lạc Trần Cao Tường kể sau đây chứng minh điều ấy.

Thánh Anrê Trần Văn Trông sinh trưởng trong một gia đình đạo hạnh thuộc họ Thợ Đúc, Huế, con ông Tađêô Trần Văn Hoàn và bà Gia làm nghề dệt cửi. Chính nhờ nguời mẹ nhân đức này mà cậu Trông đã học được nghề dệt. Khi cha qua đời, cậu Trông đã 19 tuổi. Mẹ cậu định thu xếp việc lập gia đình cho cậu, nhưng cậu chưa muốn. Năm sau cậu tình nguyện đi lính cho nhà vua xung vào đi dệt vải.

Khi tàu Pháp tấn công Đà Nẵng thì vua Minh Mạng nghi ngờ cho người Công Giáo thông đồng. Vì thế vua ra lệnh khai sổ lính Công Giáo. Tháng 11.1834 khi cậu Trông đã đi lính được 9 tháng thì bị bắt cùng với 7 bạn lính khác. Các quan đã đem lò lửa và kìm kẹp ra để sẵn ngoài sân để áp đảo tinh thần. Nhưng sau những màn tra tấn, cậu Trông vẫn một mực:

- "Quan thương thì tôi được nhờ, bắt làm gì thì tôi cũng chịu, nhưng mà đạp ảnh bỏ đạo thì không".

Quan đã phải chửi bới:

- "Thằng con nít mà cả gan như vậy, những người lớn hơn còn theo phép vua quan, còn nó thì không. Chém đầu đi cho rồi, còn để làm gì."


Cậu Trông bị tống giam vào khám đường Thành Nội. Trong suốt một năm, ngày nào bà mẹ cũng đi thăm nuôi con, với mục đích là để khích lệ con trung kiên với Chúa. Cũng chính vì thấy được tình mẹ con thắm thiết nên quan đã dùng đòn tâm lý này để dụ dỗ cậu bỏ đạo, bảo rằng nếu cậu chết thì mẹ già không ai chăm sóc, cậu sẽ mang tội bất hiếu. Cậu đã bình tĩnh kể lại:

- "Mỗi khi nghe họ khuyên thì tôi thấy gớm ghét trong lòng. Họ cứ bảo tôi là bất trung bất hiếu và thiên đàng ở đâu nào có thấy. Tôi chỉ nói lại với họ là việc ai người nấy biết, tôi biết rất rõ thế nào là trung hiếu."

Trong suốt 6 tháng tù, cậu Trông luôn tỏ ra vui tươi và dễ thương. Cậu khích lệ các bạn tù, và giúp họ siêng năng đọc kinh lần hạt không bỏ ngày nào, chia bớt phần cơm cho ai đói. Thấy cậu quá tốt nên lính canh cũng thương cậu, ban đêm cho phép cậu ra khỏi nhà tù lo việc riêng. Hai lần cậu được về gặp các linh mục để xưng tội và rước lễ, và đồng thời về Kim Long thăm mẹ.

Trưới khi bị hành quyết có người bà con đến thăm, cậu đã trối lại:

- "Anh hãy ở với mẹ tôi học nghề dệt cho thành tài và luôn thể giúp mẹ tôi với. Xin anh nói với mẹ tôi rằng tôi đã được phúc trọng chết vì Chúa và xin người an tâm làm việc nuôi xác và giữ đạo thánh Chúa. Còn phần tôi, mọi sự đã xong, tôi không lo lắng gì nữa."

Ngày 28.11.1835 có án xử tử, cậu Trông bị dẫn ra pháp trường. Hôm ấy trời mưa và gió lớn. Cậu Trông vẫn vui vẻ hân hoan, tay cầm tràng hạt đi bên lính đao phủ. Mẹ cậu hay tin vội vàng ra chợ An Hòa gần Thành Nội để gặp con lần cuối. Bà còn hỏi cậu xem còn nợ nần ai gì không để mẹ lo trả cho họ. Hai mẹ con nói lời từ giã sau cùng. Cậu bị dẫn tới làng Bắc Đình để xử. Lính tháo gông và xiềng xích ra. Cậu đã nhờ lính trao xích cho mẹ cậu giữ, rồi quì xuống cầu nguyện. Bà mẹ đứng gần đó để chứng kiến con mình tử nạn và khuyến khích nâng đỡ con trong giây phút sau hết. Và khi hồi chiêng trống vọng lên, đầu vị thánh trẻ mới trên hai mươi tuổi đời đã bị chém đứt rơi xuống. Bà mẹ dũng cảm liền chạy ngay tới đưa mấy quan tiền chuộc đầu con. Rồi bà quì xuống, trải vạt áo dài ra bọc chiếc đầu con lại và chạy ra sông Hương xuống thuyền ngược về Thợ Đúc. Bà còn cho người đem tiền chuộc luôn xác con về đặt trong nhà. Đêm ấy, bà cho người lên núi tìm vị linh mục đang trốn ẩn về làm lễ an táng cho con. Bà xin Cha mặc áo đỏ vì "hôm nay là ngày vui mừng của gia đình", ngày chiến thắng của một vị tử đạo.

Trong sắc lệnh tôn phong Á Thánh, Đức Thánh Cha Lêo XIII đặc biệt nêu cao gương tử đạo của vị thánh trẻ như sau: "Trong các Đấng Tử Đạo Việt Nam có Anrê Trông thời danh không những vì chính Ngài dũng cảm mà mẹ Ngài cũng anh hùng như con, vì bà đã bắt chước Đức Mẹ đồng công chịu đau khổ với con, đứng bên cạnh xem con mình chịu chết, và khi con bị chém đầu rồi thì ôm đầu con trong lòng mình ".

Bí quyết nào đã giúp các các tín hữu Việt nam đương đầu được với những thách đố thử đức để đã không bán Chúa ? Linh mục Mai Đức Vinh khéo léo trưng bày bức gương của Đức Cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận. Cha viết vào năm 1986 : Tử đạo là tin yêu cách trọn vẹn. Tiêu biểu cho những người công giáo Việt Nam đang bị bách hại ở quê nhà là Đức Cha Phanxicô Nguyễn Văn Thuận. Đã hơn 10 năm ngài bị nhà nước bắt giam và tìm gán đủ mọi thứ tội. Nhưng với niềm tin của một kytô hữu, một linh mục và một giám mục, đức cha đã viết lên những lời tuyên chứng tình yêu đối với quê hương và với dân tộc Việt Nam như sau :

Con có một tổ quốc Việt Nam

Quê hương yêu quí ngàn đời.

Con hãnh diện, con vui sướng.

Con yêu non sông gấm vóc,

Con yêu lịch sử vẻ vang.

Con yêu đồng bào cần mẫn,

Con yêu chiến sĩ hào hùng.

Đất tuy hẹp, nhưng chí lớn,

Nước tuy nhỏ nhưng danh vang.

Con phục vụ hết tâm hồn,

Con trung thành hết nhiệt huyết.

Con bảo vệ bằng xương máu,

Con xây dựng bằng tim óc.

Vui niềm vui của đồng bào,

Buồn nỗi buồn của dân tộc.

Một nước Việt Nam,

Một Dân tộc Việt Nam

Một tâm hồn Việt Nam

Một Văn hoá Việt Nam,

Một truyền thống Việt Nam.

Là người công giáo Việt Nam,

Con phải yêu tổ quốc gấp bội.

Chúa dạy con, Hội thánh bảo con,..


Nhà cách mạng Nguyễn Thái Học đã viết một câu để đời : “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Nguyễn Thái Học không có ý bảo là khách quan đường đi không khó đâu. Ông công nhận trên đường đi có nhiều khó khăn; có núi cao ngăn, có sông dài chặn. Nhưng cái khó thứ hai, cái khó thiếu can đảm, thiếu dũng mãnh để vượt những gian nan. Cái khó này mới là quyết định. Cái khó này mới là một thách đố. Trên con đường hành trình đức tin cũng vậy. Biết Chúa và mến Chúa không phải là không có những khó khăn, những gian truân, những nghịch cảnh. Chúa đã căn dặn trước : “Ai muốn theo ta, hãy vác thánh giá mình mà theo ta”. Cái khó không phải là không biết những khó khăn. Cái khó, và đó là một thách đố, là làm sao có đủ đức để tin và mến Chúa luôn, mà không chối Chúa trước những sức mạnh khác, cũng không bán Chúa để cầu lợi riêng. Không thiếu những ky tô hữu đã chối Chúa và bán Chúa. May thay, May thay, một số tiền nhân tử đạo và các bậc đàn anh khác đã mách những bí quyết để luôn chung thủy và trung thành với Chúa và Giáo Hội : yêu quê hương tổ quốc, mà xây văn hoá đức tin vững trong gia đình, luyện tinh thần bác ái tông đồ với mọi người chung quanh, sống đời sống cầu nguyện cao và giữ tâm hồn bình thản tin tưởng vào Giáo Hội và phó thác vào Chúa Quan phòng

Còn tiếp

Ngay mai: Những Thách Đố Thách Lòng