TÔI ĐI LỘ ĐỨC
Mười lăm tháng tám ai ơi,
Mừng lễ Đức Mẹ lên trời chớ quên,
Rủ nhau Lộ Đức cùng lên,
Dâng hoa dâng nến, dâng đèn tạ ơn.
Lúc khởi sự...
Từ ngày Chúa gọi tôi đến, lấy dây chỉ hồng buộc chặt tôi vào nhà tôi, chúng tôi đã ăn ở với nhau được năm năm rồi. Cơm ít khi ăn, nên vẫn lành, canh ít khi húp, nên vẫn ngọt. Cuộc sống thảnh thơi của vợ chồng son làm tôi nghĩ rằng cuộc sống lứa đôi là hạnh phúc hơn cả. Nhưng hai năm sau ngày cưới, Chúa ban cho nhà tôi sinh được một cháu đầu lòng. Cuộc sống đã bớt, nếu không nói là hết sạch, thảnh thơi. Hai năm sau, nhà tôi lại ‘quen môi, nhớ mồi ăn mãi‘, sinh thêm cháu thứ hai, cuộc sống trở thành ‘bở hơi tai ‘. Nếu có ông bà, anh chị nào không tin, xin cứ việc thử coi hai cháu nhà tôi một ngày, sẽ thấy ngay. Cũng vì ‘hết sạch thảnh thơi‘ và ‘bở hơi tai‘ như thế, mà từ ba năm nay, chúng tôi không dám và không được đi hè.
Dẫu có thương con ‘như núi Thái Sơn‘ mặc lòng, thì tôi cũng thấy ‘ứ hự‘. Tôi đòi nhà tôi và hai con tôi năm nay phải cho tôi đi hè. Oái oăm làm sao, nhà tôi lại vừa đọc Báo Giáo Xứ có tờ quảng cáo đi Lộ Đức. Bà ấy liền đi một đường rất ư là ‘hoa nguyệt’ :
- Vâng, anh đi thì anh cứ đi. Nhưng mà sao anh không đi ‘Luộc’ với cha Vinh đi ?
- Đi ‘Luộc’ là đi hành hương. Hành hương là để cầu nguyện chứ đâu phải để đi chơi.
- Thì dĩ nhiên rồi. Nhưng lồng cái thú vào cái ích. Anh vẫn bảo em thế mà.
Chúa ôi ! Tôi bị nhà tôi dùng ‘gậy ông, đăp lưng ông’. Tôi cự sao được. Rồi cháu lớn lại dí thêm một cú nữa :
- Vâng, bố đi ‘Luộc’ đi. Bố đi, mà bố cho con đi với cơ. Bố cho con đi để con cầu xin Đức Bà.
Nói cho cùng, thì trong thâm tâm tôi, từ ngày bỏ Việt Nam, tôi vẫn nuôi một giấc mơ : đi hành hương Lộ Đức. Cho nên, được nhà tôi mách nước và con tôi vòi thêm, tôi không ngần ngại quyết định đi Lộ Đức ngay.
Cả tuần trước ngày hành hương, Lộ Đức đã là đề tài nói truyện của gia đình tôi. Nội cái truyện mang cái gì đi cũng đã là một khoản gay go rồi. Lập trường của nhà tôi là mang nhiều hết sức có thể. Lập trường của tôi là mang ít ngần nào hay ngần ấy. Cứ mỗi tối đi làm về, nhà tôi lại mở vali ra coi xem có thể bỏ thêm gì không. Và ban ngày, khi nhà tôi đi làm (tôi đang nghỉ hè, ở nhà coi con), thì tôi lại mở vali ra coi xem có thể bớt gì không. Rút cuộc thì ‘gậy ông vẫn thua cồng bà‘, nhà tôi dấn cho hai bố con tôi một vali đầy quần áo, một balô đầy đồ chơi và một xách tay đầy đồ ăn. Khi ra đi, nhà tôi còn dúi thêm vào túi tôi một cỗ tràng hạt và ẵm thằng cu, dặn với theo : ‘Bố mày nhớ xưng tội đi nhé‘ !
Lộ Đức, ngày 12 tháng tám.
Đúng 9 giờ 3 phút, ngày 12.08.1985, tầu rời ga Austerlitz. Trong phòng xe, chỗ thì chỉ có tám, nhưng chúng tôi lại là mười một người, và thỉnh thoảng thành mười hai người, vì cứ thỉnh thoảng, cha giám đốc Mai Đức Vinh lại ghé hỏi thăm và nói truyện với chúng tôi. Ấy là nhân vật thứ mười hai. Dẫu thỉnh thoảng mới đến, nhưng vì quan trọng nhất, nên tôi xin được ghi đầu. Ba nhân vật thứ hai là hai cháu nhỏ của anh chị Định và cháu nhỏ nhà tôi. Chúng quan trọng vì ‘nước Trời là của chúng ‘ đã vậy, mà còn vì chúng ăn nhiều nhất, nói nhiều nhất, hét nhiều nhất, đi ra đi vô nhiều nhất và đòi chỗ ngồi tiện nghi nhất. Tám người còn lại thì lớn tuổi nhất có bà cả Nội, rồi bà Lý; đáng mến nhiều nhất, vì góp việc nhà Chúa, có hai chị Liên và Hằng; nhầng nhầng thì có anh chị Định và tôi; trẻ thì có bé Thái.
Điểm qua những khách hành hương trong phòng như vậy, thì không lạ gì, khi thấy mùi việt nam toát ra từ phòng này. Mùi đây là mùi tâm lý xã hội mà một nhà văn Ý đã tả trong cuốn ‘Ngưới Việt cao quí ‘, chứ không phải mùi đồ ăn mà nhiều tiểu thuyết gia tả chân nào đó tả đâu. Khi vào xe thì chúng tôi chưa quen biết nhau lắm. Nhưng qua mấy lời giới thiệu, câu truyện đã bắt đầu ngay từ buổi sáng, đằm thắm vào buổi trưa và tâm sự vào buổi chiều. Sự chia sẻ chẳng những đã được thông cảm trong câu truyện, nhưng còn ở cả miếng ăn nữa. Rút cục, túi đồ ăn mà nhà tôi đã bắt tôi xách theo đã không hề được đụng đến. Bánh mì ‘sang dwich’ tây thì làm sao địch nổi với xôi gà, chả giò, chả lụa, bánh bao,.. việt nam được.
Tổng kết câu truyện thì đại cương ai trong chúng tôi cũng đã trải qua những ngày cùng cực ở Việt Nam. Công việc làm ăn ở Pháp không thịnh vượng lắm, nhưng cũng không thiếu thốn quá. Người thì đi Lộ Đức để tạ ơn, kẻ thì đi để xin ơn. Người thì đi lần này là lần thứ hai, thứ ba, kẻ thì đây mới là lần đầu. Nhưng ai cũng có một lòng mến Mẹ một cách đậm đà.
‘Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào,..
‘Lạy Mẹ là ngôi sao sáng,..
’Giờ đây êm ái nhất cả đòi con,..
Ngày 13 tháng tám.
Sau một ngày đường, cảnh đồ sộ và nguy nga của thành phố Lộ Đức ‘ngựa xe như nước, áo quần như nêm’ đã đập vào mắt tôi. Chỉ nhìn khía cạnh vật chất thấp hèn, thì tôi cũng đã khâm phục ơn đức của bà thánh Bernadette cho thành phố Lộ Đức, và thầm ước ao ‘Giá như Việt Nam có được một bà thánh như vậy, thì hàng năm dân chúng cũng đã hái được bao nhiêu tiền rừng bạc bể của khách hành hương và du lịch rồi. Nhưng không chỉ có thế. Công đức của bà thánh Bernadette là đã đưa lại được niềm tin cho bao nhiêu người. Cuộc rước nến tối, vào 21 giờ 30, đã là một diễn tả hùng hồn của niềm tin ấy. Một biển người lấp lánh trong ánh nến hiên ngang bày tỏ niềm tin, mạnh mẽ và hùng vĩ không khác gì đại dương dưới tia bình minh hay biển cả dưới ánh hoàng hôn. Công đức của chị Bernadette là đã tạo được hạnh phúc, tạo được niềm cậy trông cho bao người bất hạnh, bất hạnh phần hồn cũng nhu bất hạnh phần xác. Lễ 10 giờ trước hang đá và kiệu Thánh Thể lúc 16 giờ là những cuộc biểu tình của những người này. Dốc đứng của núi đá như muốn chận lại lối đi vào cuộc đời. Nhưng đồng cỏ, suối nước và sông nhỏ như tiếp tế một sinh lực, như mở ra một lối đi. Khung cảnh thiên nhiên của Lộ Đức ý nghĩa làm sao !
Nét đậm trong ngày đàu tiên của phái đoàn Việt Nam tại Lộ Đức có lẽ là cuộc du hành đến giáo xứ mà chị Bernadette dã một hồi sinh sống và đặc biệt là giờ thánh tại nhà nguyện của giáo xứ này. Trên đường đi, ba xe ca được mỗi xe một cha hướng dẫn. Trong chiếc xe của tôi, cha Vinh đã lợi dụng giờ đi xe để nhắc lại lịch sử đời chi Bernadette, lịch sử giáo xứ này,...làm chúng tôi hiểu hơn. Rồi đến nơi, trong nhà nguyện, giớ thánh xoay quanh chủ đề gia đình đã làm tôi xúc động nhiều. Suy nghĩ về gia đình có lẽ không biết đến bao giờ cho cùng. Bao nhiêu thông điệp giáo hoàng nhắc nhở lại vai trò then chốt của gia đình như một tế bào quan trọng xây dựng xã hội và xây dựng Giáo Hội lại dần dần xuất hiện trong đàu óc tôi. Bao nhiêu câu ca dao, tục ngữ về gia đình lại dần dà mở ra trong tâm trí tôi. Bao nhiêu cảnh gia đình Việt Nam bị chia ly, kẻ Bắc người Nam, kẻ Đông người Tây lại lởn vởn trở về trong trí não tôi.
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.
Ngày 14 tháng tám
Bảy giờ sáng. Tôi vội đánh thức cháu nhỏ dậy, cho bú sữa mà tôi vừa mang từ nhà ăn lên. Cháu bú sữa, tôi rửa mặt. Rồi vội vã làm vệ sinh và thay đồ cho cháu, đoạn dắt cháu chạy vội lên đồi, nhập đám với phái đoàn Việt Nam đang đi Đàng Thánh Giá. 7 giờ 30, vâng mới có 7 giờ 30 mà Đàng Thánh Giá đã đầy người rồi. Phải khó khăn lắm mới chen qua được các phái đoàn khác, để đến được với phái đoàn Việt Nam, đang ngắm chặng thứ sáu. Ở Paris, người ta chạy đua với công ăn việc làm, với vui chơi, ăn uống, với tiền bạc thú vui. Ở Lộ Đức, người ta chạy đua với lễ lậy, kinh kệ, suy ngắm,..
10 giờ. Sau khi đả ngắm xong 14 chặng Đường Thánh Giá và chặng Phục Sinh, tất cả các đơn vị, các cộng đoàn Việt Nam tại Pháp đều tập hợp vào nhà thờ trên đồi, để dự lễ cầu cho Cộng Đoàn. Trên bàn thờ có đức cha Việt nam, đức cha Thiện, có nhiều cha Việt Nam, đến bảy, tám cha, các cha đến từ các miền nước Pháp đã vậy, lại có cả các cha đến từ Úc, từ Mỹ. Cảm động quá, đạo đức quá! Mãy bà cụ đã thỏ thể với tôi qua giọng sụt sịt, lúc ra lễ. Lại còn cảm động nữa, khi lễ xong, cả cộng đoàn đã đứng chụp cgung một bức hình kỷ niệm.
Tôi biết rằng hằng năm tất cả các linh mục Việt Nam có trách nhiệm với kiều bào đều họp nhau để tìm cách phát triển các cộng đoàn. Nhưng về phía giáo dân, thành phần căn bản của dân Chúa, có lẽ Lộ Đức là nơi duy nhất mà họ tụ tập lại, tụ tập chứ chưa phải là tập họp, càng chưa phải là được triệu tập một cách có chuẩn bị, có tổ chức và có trách nhiệm để giúp các cha là chủ chăn trong việc giữ đoàn chiên. Tôi liên tưởng đến đại hội công giáo hàng năm do các cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Mỹ và tại Đức vẫn tổ chức và thầm mong ước một ngày nào đó, các cha Việt Nam sẽ tổ chức một đại hội Công Giáo Việt Nam tại Pháp. Dĩ nhiên, đây không phải là chuyện dễ. Cũng như chuyến đi thăm động Bettheram mà chúng tôi đã thực hiện trong buổi chiều. Động bây giờ đã được khai phá, được tổ chức rồi. Đi, có hai người hướng dẫn, có tầu chở, có xe kéo,.. Nhưng, những bước đàu : phát giác ra động, khai phá ra những cảnh đẹp, sửa những lối đi,. . bao nhiêu là công khó.
Đường đi khó,
Không khó vì ngăn sông cách núi,
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông.
Vượt đèo, vượt nương, dô!
Đi qua rừng hoang, dô!
Băng suối, băng ngàn, dô!
Ngày 15 tháng tám
Mẹ rất nhân từ,
Quốc gia Việt Nam rất lầm than,
Dân chúng điêu linh, gia đình tan hoang
Tà thuyết lan tràn, chiến tranh càng tai ác tàn hung,...
Có người công giáo Việt Nam nào mà không thuộc bài hát này. Bài hát đã được đặt ra từ lâu lắm mà vẫn còn hợp thời, đúng cách; và có lẽ hơn lúc nào hết, lúc này (1986), ‘Quốc gia Việt Nam rất lầm than’. Theo tiêu chuẩn kinh tế, Việt Nam được xếp vào hạng 188 trên 198 nước có tên trên thế giới hiện nay. Việt Nam bị xếp vào hạng những nước nghèo đói nhất : mỗi người dân trung binh mỗi năm chi có 180 mỹ kim. Mỗi người dân Pháp trung binh có 9450 mỹ kim. Là một nước bị kìm kẹp trong xích đỏ Xã hội chủ Nghĩa, người dân Việt Nam, theo dư luận chung của thế giới, không có tự do. Đời sống bần cùng và thiếu tự do đã là hai lý do khiến cả triệu người liều mạng vượt biển đi tìm đời sống đáng sống hơn. Chiến tranh chấm dứt đã 10 năm, tưởng rằng những cảnh điêu linh, điêu tàn, tan hoang, thảm thương đã hết. Ai ngờ sự hoà bình, sự thống nhất, dưới xích đỏ Xã Hội Chủ Nghĩa, còn gây nhiều tang thương thảm khốc hơn,...
Có lẽ đó là những lý do khách quan khiến những sinh hoạt của ngày hành hương thứ tư này đều xoay quanh một chụ đề là cầu cho quê hương. Trong Vương Cung Thánh Đường Piô X, các cộng đoàn Việt Nam ở Pháp, đến từ Balê, Lyon, Marseille, Nice, Grenoble, Lille, Reims,. ..có đến 300 ngưới. Ba trăm giữa biển ngưới bốn chục hay năm chục ngàn người có thấm vào đâu. Nhưng giữa biển người 40 000 đến 50 000 người ấy, 300 người Việt Nam như đang hô to : chúng tôi có đây, chúng tôi, người Việt Nam cũng đứng chung với Cộng Đoàn Công Giáo Thế Giới để cầu nguyện cho hoà bình, để chứng tỏ niềm tin. Chúng tôi, người Việt Nam, yêu tự do, yêu dân tộc, thương đồng loại, chúng tôi có đây. Chúng tôi, những người Việt Nam Công Giáo, dám sống và làm chứng cho đức tin, chúng tôi hiện diện đây.
Ngày 16 tháng tám
Sau thánh lễ 9 giờ 30, tất cả các cộng đoàn Việt Nam ở Pháp : Balê, Lyon, Marseille, Nice, Grenoble, Lille, Reims,. ..đều theo nhau rước nến, đi về cánh đồng cỏ bên kia bờ sông, đối diện với hang đá, để dâng nến cho Đức Mẹ. Một cử chỉ nhỏ nhoi, nhưng đầy ý nghĩa, để tỏ lòng mộ mến Đức Mẹ một cách cụ thể. Nghi thức dâng lễ đã được cha Thể, một linh mục trẻ ở Lyon hướng dẫn. Chúa ơi, tôi vẫn muốn gặp lại linh mục này ! Duyên nào cho tôi hôm nay được thấy lại Ngài ! Bao nhiêu kỷ niệm xa vời ở Đà Lạt, vớI những sinh viên đàu tiên theo học với tôi, với những giảng đường thân yêu, với những khoá trình bận rộn,...lại trở về trong trí tôi. Nhưng đến khi gặp Ngài, thì tôi lại chình ình ra đó, chi thưa được có vài lời : ‘Cha khoẻ không ?’ Và cha cũng chỉ nói được một câu : Trời ơi, thầy ‘. Dường như cái nhìn của chúng tôi đã diễn tả hết những tâm sự cho nhau rồi.
12 giờ đúng, chúng tôi trở về khách sạn dùng cơm. Trong khách sạn này, vỏn vẹn lớn bé chúng tôi chỉ có 21 người. Hai khách sạn khác của phái đoàn Balê, mỗi cái ít nhất chứa 50 người. Có lẽ tầm nhỏ bé của khách sạn đã làm cho sự trao đổi giữa chúng tôi được dễ dàng hơn. Ngày ba lần, bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, 21 mái đàu, bạc có, xanh có, lại xum họp quanh bàn ăn. Bao nhiêu câu chuyện hàng ngày, bao nhiêu câu chuyện gia đình, bao nhiêu câu chuyện làm ăn,.. đã được đề cập đến và trao đổi cho nhau. Nhưng có lễ những bốc đồng của chau nhỏ nhà tôi và những nghịch ngợm của nó đã làm những người đồng bàn, nhất là ông bà N., cảm thấy bực bội. Xin ông bà và các ông bà khác thứ lỗi cho và nhận nơi đây lòng cám mến của tôi.
Chủ khách sạn nhỏ này của chúng tôi là một bà người Pháp, gốc Ý. Cách làm ăn của bà không khác gì cách làm ăn của người Việt : cả nhà làm chung. Bà làm chủ, ông mua đồ, hai con gái chạy bàn, con trai phụ bếp. Chỉ thuê một người đầu bếp và một người dọn phòng. Thế mà bà ta có hai khách sạn, một hiệu ăn và hai hiệu bán đồ tạp hoá. Khách sạn nằm ngay bên nhà thân sinh của chị Bernadette. Căn nhà này có một sự gì hấp dẫn đặc biệt thì phải. Cháu nhỏ nhà tôi hai lần đòi vào thăm căn nhà này và nhất định đòi mua quà về cho mẹ và em ở hiệu tạp hoá bên cạnh.
Cả buổi chiều hôm nay dành cho sinh hoạt tự do, ai muốn đi đâu thì đi, muốn mua sắm gì tuỳ ý. Bố con tôi dẫn nhau vào hang đá, xếp hàng vào tận chỗ Đức Mẹ hiện ra. Cháu nhỏ nhà tôi có một linh tính bất chợt, đòi sờ đá như những khách hành hương khác. Người theo khoa học chủ thuyết thì cho đó là dị đoan, người cuồng tín thì cho đó là mõt cử chỉ mộ đạo. Nhưng khách quan mà nói thì đó chỉ là cử chỉ của một người tin và yêu. Tục ngữ ta đã chẳng bảo :
Thương nhau, cau bảy bổ ba,
Thương nhau, thương cả đường đi,...là gì ?
Ngày 17 tháng tám
Ngày cuối cùng của cuộc hành hương. Nhiều người dậy từ 4 giờ 30 để đi lễ 5 giờ. Hành động đạo đức này làm tôi nhớ lại cảnh sống ở xứ đạo Việt Nam. Sáng nào cũng có lễ 5 giờ 30, mà sáng nào giáo dân cũng đông đúc. Hành động đi lễ sáng sớm ngày thường này, ở bên Tây có lẽ chỉ còn tìm thấy ở Lộ Đức, ở một vài nơi hành hương khác và ở các tu viện. Tranh sống vật chất đã chiếm một ưu tiên trong các hành động thường nhật.
7 giờ xe ca đến đón chúng tôi ra ga để đi về Ba lê. Trong phòng xe lửa từ Lộ Đức về Ba Lê, cũng 12 người như lúc đi. Nhưng câu chuyện thì khác hẳn. Chuyện hành hương, chuyện tương lai,.. đã là đề tài chiếm nhiều thời giờ hơn cả. Rồi nhắn nhủ, rồi xin địa chỉ,..
Trên đường về nhớ đày,
Chiều chậm đưa chân ngày,..
Chân ngày đã đến. Chiều đã xế. Cuộc hành hương đã chấm dứt tại ga Autsterlitz như nó đã bắt đàu trước đây sáu ngày. Nhưng dư âm, ơn ích, ảnh hưởng của cuộc hành hương có lẽ sẽ còn kéo dài nữa. Và biết đâu, sẽ còn kéo dài hoài, sẽ còn tiếp nối thêm !
Xin cám ơn các cha đã tổ chức và hướng dẫn,
Xin gởi lời trìu mến đến các khách đồng hành !
Văn Hương
Mười lăm tháng tám ai ơi,
Mừng lễ Đức Mẹ lên trời chớ quên,
Rủ nhau Lộ Đức cùng lên,
Dâng hoa dâng nến, dâng đèn tạ ơn.
Lúc khởi sự...
Từ ngày Chúa gọi tôi đến, lấy dây chỉ hồng buộc chặt tôi vào nhà tôi, chúng tôi đã ăn ở với nhau được năm năm rồi. Cơm ít khi ăn, nên vẫn lành, canh ít khi húp, nên vẫn ngọt. Cuộc sống thảnh thơi của vợ chồng son làm tôi nghĩ rằng cuộc sống lứa đôi là hạnh phúc hơn cả. Nhưng hai năm sau ngày cưới, Chúa ban cho nhà tôi sinh được một cháu đầu lòng. Cuộc sống đã bớt, nếu không nói là hết sạch, thảnh thơi. Hai năm sau, nhà tôi lại ‘quen môi, nhớ mồi ăn mãi‘, sinh thêm cháu thứ hai, cuộc sống trở thành ‘bở hơi tai ‘. Nếu có ông bà, anh chị nào không tin, xin cứ việc thử coi hai cháu nhà tôi một ngày, sẽ thấy ngay. Cũng vì ‘hết sạch thảnh thơi‘ và ‘bở hơi tai‘ như thế, mà từ ba năm nay, chúng tôi không dám và không được đi hè.
Dẫu có thương con ‘như núi Thái Sơn‘ mặc lòng, thì tôi cũng thấy ‘ứ hự‘. Tôi đòi nhà tôi và hai con tôi năm nay phải cho tôi đi hè. Oái oăm làm sao, nhà tôi lại vừa đọc Báo Giáo Xứ có tờ quảng cáo đi Lộ Đức. Bà ấy liền đi một đường rất ư là ‘hoa nguyệt’ :
- Vâng, anh đi thì anh cứ đi. Nhưng mà sao anh không đi ‘Luộc’ với cha Vinh đi ?
- Đi ‘Luộc’ là đi hành hương. Hành hương là để cầu nguyện chứ đâu phải để đi chơi.
- Thì dĩ nhiên rồi. Nhưng lồng cái thú vào cái ích. Anh vẫn bảo em thế mà.
Chúa ôi ! Tôi bị nhà tôi dùng ‘gậy ông, đăp lưng ông’. Tôi cự sao được. Rồi cháu lớn lại dí thêm một cú nữa :
- Vâng, bố đi ‘Luộc’ đi. Bố đi, mà bố cho con đi với cơ. Bố cho con đi để con cầu xin Đức Bà.
Nói cho cùng, thì trong thâm tâm tôi, từ ngày bỏ Việt Nam, tôi vẫn nuôi một giấc mơ : đi hành hương Lộ Đức. Cho nên, được nhà tôi mách nước và con tôi vòi thêm, tôi không ngần ngại quyết định đi Lộ Đức ngay.
Cả tuần trước ngày hành hương, Lộ Đức đã là đề tài nói truyện của gia đình tôi. Nội cái truyện mang cái gì đi cũng đã là một khoản gay go rồi. Lập trường của nhà tôi là mang nhiều hết sức có thể. Lập trường của tôi là mang ít ngần nào hay ngần ấy. Cứ mỗi tối đi làm về, nhà tôi lại mở vali ra coi xem có thể bỏ thêm gì không. Và ban ngày, khi nhà tôi đi làm (tôi đang nghỉ hè, ở nhà coi con), thì tôi lại mở vali ra coi xem có thể bớt gì không. Rút cuộc thì ‘gậy ông vẫn thua cồng bà‘, nhà tôi dấn cho hai bố con tôi một vali đầy quần áo, một balô đầy đồ chơi và một xách tay đầy đồ ăn. Khi ra đi, nhà tôi còn dúi thêm vào túi tôi một cỗ tràng hạt và ẵm thằng cu, dặn với theo : ‘Bố mày nhớ xưng tội đi nhé‘ !
Lộ Đức, ngày 12 tháng tám.
Đúng 9 giờ 3 phút, ngày 12.08.1985, tầu rời ga Austerlitz. Trong phòng xe, chỗ thì chỉ có tám, nhưng chúng tôi lại là mười một người, và thỉnh thoảng thành mười hai người, vì cứ thỉnh thoảng, cha giám đốc Mai Đức Vinh lại ghé hỏi thăm và nói truyện với chúng tôi. Ấy là nhân vật thứ mười hai. Dẫu thỉnh thoảng mới đến, nhưng vì quan trọng nhất, nên tôi xin được ghi đầu. Ba nhân vật thứ hai là hai cháu nhỏ của anh chị Định và cháu nhỏ nhà tôi. Chúng quan trọng vì ‘nước Trời là của chúng ‘ đã vậy, mà còn vì chúng ăn nhiều nhất, nói nhiều nhất, hét nhiều nhất, đi ra đi vô nhiều nhất và đòi chỗ ngồi tiện nghi nhất. Tám người còn lại thì lớn tuổi nhất có bà cả Nội, rồi bà Lý; đáng mến nhiều nhất, vì góp việc nhà Chúa, có hai chị Liên và Hằng; nhầng nhầng thì có anh chị Định và tôi; trẻ thì có bé Thái.
Điểm qua những khách hành hương trong phòng như vậy, thì không lạ gì, khi thấy mùi việt nam toát ra từ phòng này. Mùi đây là mùi tâm lý xã hội mà một nhà văn Ý đã tả trong cuốn ‘Ngưới Việt cao quí ‘, chứ không phải mùi đồ ăn mà nhiều tiểu thuyết gia tả chân nào đó tả đâu. Khi vào xe thì chúng tôi chưa quen biết nhau lắm. Nhưng qua mấy lời giới thiệu, câu truyện đã bắt đầu ngay từ buổi sáng, đằm thắm vào buổi trưa và tâm sự vào buổi chiều. Sự chia sẻ chẳng những đã được thông cảm trong câu truyện, nhưng còn ở cả miếng ăn nữa. Rút cục, túi đồ ăn mà nhà tôi đã bắt tôi xách theo đã không hề được đụng đến. Bánh mì ‘sang dwich’ tây thì làm sao địch nổi với xôi gà, chả giò, chả lụa, bánh bao,.. việt nam được.
Tổng kết câu truyện thì đại cương ai trong chúng tôi cũng đã trải qua những ngày cùng cực ở Việt Nam. Công việc làm ăn ở Pháp không thịnh vượng lắm, nhưng cũng không thiếu thốn quá. Người thì đi Lộ Đức để tạ ơn, kẻ thì đi để xin ơn. Người thì đi lần này là lần thứ hai, thứ ba, kẻ thì đây mới là lần đầu. Nhưng ai cũng có một lòng mến Mẹ một cách đậm đà.
‘Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào,..
‘Lạy Mẹ là ngôi sao sáng,..
’Giờ đây êm ái nhất cả đòi con,..
Ngày 13 tháng tám.
Sau một ngày đường, cảnh đồ sộ và nguy nga của thành phố Lộ Đức ‘ngựa xe như nước, áo quần như nêm’ đã đập vào mắt tôi. Chỉ nhìn khía cạnh vật chất thấp hèn, thì tôi cũng đã khâm phục ơn đức của bà thánh Bernadette cho thành phố Lộ Đức, và thầm ước ao ‘Giá như Việt Nam có được một bà thánh như vậy, thì hàng năm dân chúng cũng đã hái được bao nhiêu tiền rừng bạc bể của khách hành hương và du lịch rồi. Nhưng không chỉ có thế. Công đức của bà thánh Bernadette là đã đưa lại được niềm tin cho bao nhiêu người. Cuộc rước nến tối, vào 21 giờ 30, đã là một diễn tả hùng hồn của niềm tin ấy. Một biển người lấp lánh trong ánh nến hiên ngang bày tỏ niềm tin, mạnh mẽ và hùng vĩ không khác gì đại dương dưới tia bình minh hay biển cả dưới ánh hoàng hôn. Công đức của chị Bernadette là đã tạo được hạnh phúc, tạo được niềm cậy trông cho bao người bất hạnh, bất hạnh phần hồn cũng nhu bất hạnh phần xác. Lễ 10 giờ trước hang đá và kiệu Thánh Thể lúc 16 giờ là những cuộc biểu tình của những người này. Dốc đứng của núi đá như muốn chận lại lối đi vào cuộc đời. Nhưng đồng cỏ, suối nước và sông nhỏ như tiếp tế một sinh lực, như mở ra một lối đi. Khung cảnh thiên nhiên của Lộ Đức ý nghĩa làm sao !
Nét đậm trong ngày đàu tiên của phái đoàn Việt Nam tại Lộ Đức có lẽ là cuộc du hành đến giáo xứ mà chị Bernadette dã một hồi sinh sống và đặc biệt là giờ thánh tại nhà nguyện của giáo xứ này. Trên đường đi, ba xe ca được mỗi xe một cha hướng dẫn. Trong chiếc xe của tôi, cha Vinh đã lợi dụng giờ đi xe để nhắc lại lịch sử đời chi Bernadette, lịch sử giáo xứ này,...làm chúng tôi hiểu hơn. Rồi đến nơi, trong nhà nguyện, giớ thánh xoay quanh chủ đề gia đình đã làm tôi xúc động nhiều. Suy nghĩ về gia đình có lẽ không biết đến bao giờ cho cùng. Bao nhiêu thông điệp giáo hoàng nhắc nhở lại vai trò then chốt của gia đình như một tế bào quan trọng xây dựng xã hội và xây dựng Giáo Hội lại dần dần xuất hiện trong đàu óc tôi. Bao nhiêu câu ca dao, tục ngữ về gia đình lại dần dà mở ra trong tâm trí tôi. Bao nhiêu cảnh gia đình Việt Nam bị chia ly, kẻ Bắc người Nam, kẻ Đông người Tây lại lởn vởn trở về trong trí não tôi.
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.
Ngày 14 tháng tám
Bảy giờ sáng. Tôi vội đánh thức cháu nhỏ dậy, cho bú sữa mà tôi vừa mang từ nhà ăn lên. Cháu bú sữa, tôi rửa mặt. Rồi vội vã làm vệ sinh và thay đồ cho cháu, đoạn dắt cháu chạy vội lên đồi, nhập đám với phái đoàn Việt Nam đang đi Đàng Thánh Giá. 7 giờ 30, vâng mới có 7 giờ 30 mà Đàng Thánh Giá đã đầy người rồi. Phải khó khăn lắm mới chen qua được các phái đoàn khác, để đến được với phái đoàn Việt Nam, đang ngắm chặng thứ sáu. Ở Paris, người ta chạy đua với công ăn việc làm, với vui chơi, ăn uống, với tiền bạc thú vui. Ở Lộ Đức, người ta chạy đua với lễ lậy, kinh kệ, suy ngắm,..
10 giờ. Sau khi đả ngắm xong 14 chặng Đường Thánh Giá và chặng Phục Sinh, tất cả các đơn vị, các cộng đoàn Việt Nam tại Pháp đều tập hợp vào nhà thờ trên đồi, để dự lễ cầu cho Cộng Đoàn. Trên bàn thờ có đức cha Việt nam, đức cha Thiện, có nhiều cha Việt Nam, đến bảy, tám cha, các cha đến từ các miền nước Pháp đã vậy, lại có cả các cha đến từ Úc, từ Mỹ. Cảm động quá, đạo đức quá! Mãy bà cụ đã thỏ thể với tôi qua giọng sụt sịt, lúc ra lễ. Lại còn cảm động nữa, khi lễ xong, cả cộng đoàn đã đứng chụp cgung một bức hình kỷ niệm.
Tôi biết rằng hằng năm tất cả các linh mục Việt Nam có trách nhiệm với kiều bào đều họp nhau để tìm cách phát triển các cộng đoàn. Nhưng về phía giáo dân, thành phần căn bản của dân Chúa, có lẽ Lộ Đức là nơi duy nhất mà họ tụ tập lại, tụ tập chứ chưa phải là tập họp, càng chưa phải là được triệu tập một cách có chuẩn bị, có tổ chức và có trách nhiệm để giúp các cha là chủ chăn trong việc giữ đoàn chiên. Tôi liên tưởng đến đại hội công giáo hàng năm do các cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Mỹ và tại Đức vẫn tổ chức và thầm mong ước một ngày nào đó, các cha Việt Nam sẽ tổ chức một đại hội Công Giáo Việt Nam tại Pháp. Dĩ nhiên, đây không phải là chuyện dễ. Cũng như chuyến đi thăm động Bettheram mà chúng tôi đã thực hiện trong buổi chiều. Động bây giờ đã được khai phá, được tổ chức rồi. Đi, có hai người hướng dẫn, có tầu chở, có xe kéo,.. Nhưng, những bước đàu : phát giác ra động, khai phá ra những cảnh đẹp, sửa những lối đi,. . bao nhiêu là công khó.
Đường đi khó,
Không khó vì ngăn sông cách núi,
Mà khó vì lòng người ngại núi e sông.
Vượt đèo, vượt nương, dô!
Đi qua rừng hoang, dô!
Băng suối, băng ngàn, dô!
Ngày 15 tháng tám
Mẹ rất nhân từ,
Quốc gia Việt Nam rất lầm than,
Dân chúng điêu linh, gia đình tan hoang
Tà thuyết lan tràn, chiến tranh càng tai ác tàn hung,...
Có người công giáo Việt Nam nào mà không thuộc bài hát này. Bài hát đã được đặt ra từ lâu lắm mà vẫn còn hợp thời, đúng cách; và có lẽ hơn lúc nào hết, lúc này (1986), ‘Quốc gia Việt Nam rất lầm than’. Theo tiêu chuẩn kinh tế, Việt Nam được xếp vào hạng 188 trên 198 nước có tên trên thế giới hiện nay. Việt Nam bị xếp vào hạng những nước nghèo đói nhất : mỗi người dân trung binh mỗi năm chi có 180 mỹ kim. Mỗi người dân Pháp trung binh có 9450 mỹ kim. Là một nước bị kìm kẹp trong xích đỏ Xã hội chủ Nghĩa, người dân Việt Nam, theo dư luận chung của thế giới, không có tự do. Đời sống bần cùng và thiếu tự do đã là hai lý do khiến cả triệu người liều mạng vượt biển đi tìm đời sống đáng sống hơn. Chiến tranh chấm dứt đã 10 năm, tưởng rằng những cảnh điêu linh, điêu tàn, tan hoang, thảm thương đã hết. Ai ngờ sự hoà bình, sự thống nhất, dưới xích đỏ Xã Hội Chủ Nghĩa, còn gây nhiều tang thương thảm khốc hơn,...
Có lẽ đó là những lý do khách quan khiến những sinh hoạt của ngày hành hương thứ tư này đều xoay quanh một chụ đề là cầu cho quê hương. Trong Vương Cung Thánh Đường Piô X, các cộng đoàn Việt Nam ở Pháp, đến từ Balê, Lyon, Marseille, Nice, Grenoble, Lille, Reims,. ..có đến 300 ngưới. Ba trăm giữa biển ngưới bốn chục hay năm chục ngàn người có thấm vào đâu. Nhưng giữa biển người 40 000 đến 50 000 người ấy, 300 người Việt Nam như đang hô to : chúng tôi có đây, chúng tôi, người Việt Nam cũng đứng chung với Cộng Đoàn Công Giáo Thế Giới để cầu nguyện cho hoà bình, để chứng tỏ niềm tin. Chúng tôi, người Việt Nam, yêu tự do, yêu dân tộc, thương đồng loại, chúng tôi có đây. Chúng tôi, những người Việt Nam Công Giáo, dám sống và làm chứng cho đức tin, chúng tôi hiện diện đây.
Ngày 16 tháng tám
Sau thánh lễ 9 giờ 30, tất cả các cộng đoàn Việt Nam ở Pháp : Balê, Lyon, Marseille, Nice, Grenoble, Lille, Reims,. ..đều theo nhau rước nến, đi về cánh đồng cỏ bên kia bờ sông, đối diện với hang đá, để dâng nến cho Đức Mẹ. Một cử chỉ nhỏ nhoi, nhưng đầy ý nghĩa, để tỏ lòng mộ mến Đức Mẹ một cách cụ thể. Nghi thức dâng lễ đã được cha Thể, một linh mục trẻ ở Lyon hướng dẫn. Chúa ơi, tôi vẫn muốn gặp lại linh mục này ! Duyên nào cho tôi hôm nay được thấy lại Ngài ! Bao nhiêu kỷ niệm xa vời ở Đà Lạt, vớI những sinh viên đàu tiên theo học với tôi, với những giảng đường thân yêu, với những khoá trình bận rộn,...lại trở về trong trí tôi. Nhưng đến khi gặp Ngài, thì tôi lại chình ình ra đó, chi thưa được có vài lời : ‘Cha khoẻ không ?’ Và cha cũng chỉ nói được một câu : Trời ơi, thầy ‘. Dường như cái nhìn của chúng tôi đã diễn tả hết những tâm sự cho nhau rồi.
12 giờ đúng, chúng tôi trở về khách sạn dùng cơm. Trong khách sạn này, vỏn vẹn lớn bé chúng tôi chỉ có 21 người. Hai khách sạn khác của phái đoàn Balê, mỗi cái ít nhất chứa 50 người. Có lẽ tầm nhỏ bé của khách sạn đã làm cho sự trao đổi giữa chúng tôi được dễ dàng hơn. Ngày ba lần, bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, 21 mái đàu, bạc có, xanh có, lại xum họp quanh bàn ăn. Bao nhiêu câu chuyện hàng ngày, bao nhiêu câu chuyện gia đình, bao nhiêu câu chuyện làm ăn,.. đã được đề cập đến và trao đổi cho nhau. Nhưng có lễ những bốc đồng của chau nhỏ nhà tôi và những nghịch ngợm của nó đã làm những người đồng bàn, nhất là ông bà N., cảm thấy bực bội. Xin ông bà và các ông bà khác thứ lỗi cho và nhận nơi đây lòng cám mến của tôi.
Chủ khách sạn nhỏ này của chúng tôi là một bà người Pháp, gốc Ý. Cách làm ăn của bà không khác gì cách làm ăn của người Việt : cả nhà làm chung. Bà làm chủ, ông mua đồ, hai con gái chạy bàn, con trai phụ bếp. Chỉ thuê một người đầu bếp và một người dọn phòng. Thế mà bà ta có hai khách sạn, một hiệu ăn và hai hiệu bán đồ tạp hoá. Khách sạn nằm ngay bên nhà thân sinh của chị Bernadette. Căn nhà này có một sự gì hấp dẫn đặc biệt thì phải. Cháu nhỏ nhà tôi hai lần đòi vào thăm căn nhà này và nhất định đòi mua quà về cho mẹ và em ở hiệu tạp hoá bên cạnh.
Cả buổi chiều hôm nay dành cho sinh hoạt tự do, ai muốn đi đâu thì đi, muốn mua sắm gì tuỳ ý. Bố con tôi dẫn nhau vào hang đá, xếp hàng vào tận chỗ Đức Mẹ hiện ra. Cháu nhỏ nhà tôi có một linh tính bất chợt, đòi sờ đá như những khách hành hương khác. Người theo khoa học chủ thuyết thì cho đó là dị đoan, người cuồng tín thì cho đó là mõt cử chỉ mộ đạo. Nhưng khách quan mà nói thì đó chỉ là cử chỉ của một người tin và yêu. Tục ngữ ta đã chẳng bảo :
Thương nhau, cau bảy bổ ba,
Thương nhau, thương cả đường đi,...là gì ?
Ngày 17 tháng tám
Ngày cuối cùng của cuộc hành hương. Nhiều người dậy từ 4 giờ 30 để đi lễ 5 giờ. Hành động đạo đức này làm tôi nhớ lại cảnh sống ở xứ đạo Việt Nam. Sáng nào cũng có lễ 5 giờ 30, mà sáng nào giáo dân cũng đông đúc. Hành động đi lễ sáng sớm ngày thường này, ở bên Tây có lẽ chỉ còn tìm thấy ở Lộ Đức, ở một vài nơi hành hương khác và ở các tu viện. Tranh sống vật chất đã chiếm một ưu tiên trong các hành động thường nhật.
7 giờ xe ca đến đón chúng tôi ra ga để đi về Ba lê. Trong phòng xe lửa từ Lộ Đức về Ba Lê, cũng 12 người như lúc đi. Nhưng câu chuyện thì khác hẳn. Chuyện hành hương, chuyện tương lai,.. đã là đề tài chiếm nhiều thời giờ hơn cả. Rồi nhắn nhủ, rồi xin địa chỉ,..
Trên đường về nhớ đày,
Chiều chậm đưa chân ngày,..
Chân ngày đã đến. Chiều đã xế. Cuộc hành hương đã chấm dứt tại ga Autsterlitz như nó đã bắt đàu trước đây sáu ngày. Nhưng dư âm, ơn ích, ảnh hưởng của cuộc hành hương có lẽ sẽ còn kéo dài nữa. Và biết đâu, sẽ còn kéo dài hoài, sẽ còn tiếp nối thêm !
Xin cám ơn các cha đã tổ chức và hướng dẫn,
Xin gởi lời trìu mến đến các khách đồng hành !
Văn Hương