Dư âm những bài giảng.

Là người Công giáo, thường thì chúng ta được nghe những bài giảng khi chúng ta đi lễ. Chúng ta lắng nghe lời các đấng chăn chiên giảng Lời Chúa, giảng Thánh kinh, và giảng cả những thực tế cuộc sống đời thường. Thế nhưng sau khi nghe giảng, trong mỗi người chúng ta còn đọng lại những gì? Chúng ta làm theo Lời Chúa qua các bài giảng như thế nào?

Thêm vào Lời Chúa, vào Thánh kinh, không ít các đấng chăn chiên đã đem vào bài giảng những thực tế trong dân gian, ngay cả những hư cấu có tính giáo dục trong văn học, để làm cho lời giảng có tính vui hơn, dễ nhớ hơn, và nhất là để làm tồn đọng lại trong mỗi giáo dân chúng ta một cái gì đó có tính tích cực, có ích cho đời sống, đạo cũng như đời.

Tôi đã tìm thấy cái nét vui vui và dễ nhớ ấy nơi các bài viết của Linh mục Maria Giuse Nhân Tài. Ngài đã đem những mẩu truyện mang tính hài hước, dí dỏm trong nền văn hóa Trung Hoa vào mục Mỗi Ngày Một Chuyện của ngài đăng trên Vietcatholic.net. Quả thực, trong nền văn học phong phú và đa dạng của Trung Hoa, rải rác vô vàn những mẩu truyện ngắn, mang tính hài hước, châm biếm, và đặc biệt là tính giáo dục. Ngài đã tài tình sử dụng những mẩu truyện này để chuyển đạt Lời Chúa, tạo ra những ‘bài giảng’ ngắn gọn, vui vui, và hấp dẫn.

Tôi tin rằng sau khi đọc, hay nghe, những bài giảng ngắn này, mỗi người trong chúng ta đều cảm thấy còn lại một chút gì lắng đọng trong tâm hồn, lâng lâng và thâm thúy, để rồi từ đó, ‘có thể’ có những biến chuyển tốt cho chính bản thân mình, và đồng thời góp phần làm đẹp cho cuộc sống, đạo cũng như đời.

Nơi đây, tôi xin được phép sao chép những bài giảng của Ngài, và xin Ngài cho phép tôi được thêm vào những ‘kinh nghiệm đời thường’ mà tôi cảm nhận được. Tôi xin được đặt tên cho những kinh nghiệm đời thường này là Dư Âm Những Bài Giảng, với ngụ ý những bài giảng của ngài đã gợi nhớ cho tôi những kinh nghiệm sống mà tôi đã trải qua, thấy, hoặc đã nghe qua.

LÀ THƠ CỦA NGƯỜI MÙ

Thi nhân đời Đường là Mạnh Hạo Nhiên có một bài thơ ngũ tuyệt: “Xuân ngủ không ngon giấc, khắp nơi nghe chim hót, đêm về tiếng gió mưa, hoa rơi biết là bao ?”

Có người vỗ tay nói tuyệt, không ngừng gật đầu khen đi khen lại; lại còn có người không cho là như thế, nói: “Đó là thơ của người mù làm !”

Người nghe câu nói này thì miệng câm như hến.

(Tiếu tiếu lục)

Suy tư:

Khi người mù làm thơ tả chân dung tâm hồn thì tuyệt vời, bởi vì họ sống trong những cảm nghiệm tận nơi sâu thẳm của tâm hồn, nhưng người mù không thể làm thơ tả cảnh vật thiên nhiên vì họ không thấy cảnh vật chung quanh mình...

Có những người Ki-tô hữu đọc kinh oang oang mà lòng trí thì không suy niệm kinh mình đọc, nên được gọi là đọc như vẹt, bởi vì con vẹt chỉ biết nói vài câu như người, nhưng tuyệt đối nó không hiểu nó nói gì; có một vài người Ki-tô hữu làm việc thiện nhưng thiện thì ít mà bắt chẹt tha nhân thì nhiều, bởi vì họ làm việc thiện theo tỷ lệ 5% là vì Chúa, còn 95% là vì mình...

Làm thơ tả cảnh mà không hay thì người ta sẽ nói là thơ của người mù làm, nhưng nếu làm không đúng bổn phận của người Ki-tô hữu thì người ta sẽ cười và nói: đạo đức giả...

Linh mục Maria Giuse Nhân Tài.


Nguồn: Vietcatholic.net

Dư âm những bài giảng (1)

Thưở ấy, ở miền quê nước Việt, hầu như không ai có đồng hồ. Người ta tính giờ dựa theo bóng mặt trời cao hay thấp, nghiêng hay đứng. Và những ngày âm u thì người ta chỉ ‘tính mò’, đoán đại khái.

Thế nhưng ‘ai đó’ trong họ đạo chúng tôi chắc có đồng hồ nên cứ đến trưa, đúng giờ Ngọ, là đánh một hồi mõ. Cái mõ treo ở cuối hành lang nhà xứ. Gọi là ‘nhà xứ’ cho nó oai, chứ thực ra thì là căn nhà hai gian, gian nhỏ làm chỗ ngơi nghỉ cho cha khi cha lâu lâu ghé thăm họ đạo và nghỉ lại, gian lớn hơn làm phòng khách, để trống không có cửa cho nó thoáng mát, với vỏn vẹn một cái bàn và 4 cái ghế gỗ. Nhà xứ lợp ngói và tường gạch đàng hoàng, nhưng nền nhà thì bằng đất sét nện chặt. Và ‘hành lang’ nhà xứ chính là lối đi chật hẹp ngay trước nhà xứ.

Nếu trời êm ả thì số mươi gia đình Công giáo sống chung quanh ngôi nhà thờ nhỏ, và một số gia đình không phải Công giáo sống gần đó, có thể nghe được tiếng mõ.

Hôm ấy, tôi đang ở chơi với một người bạn thì nghe tiếng mõ. Bố của bạn tôi bèn chạy tới bàn thờ, làm dấu và đọc kinh. Chúng tôi cũng đứng lên phụ họa theo.

Ông xướng kinh Truyền Tin:

Câu 1: Đức Chúa Trời sai thánh thiên thần truyền tin cho rất thánh Đức Bà Maria.

Câu 2: Và rất thánh Đức Bà chịu thại bởi phép Đức Chúa Thánh Thần. (nếu có 2 người

thì người kia sẽ đọc câu này, câu số chẵn).

Kính mừng Maria đầy ơn phúc….

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời....(2 chúng tôi đọc đoạn này).

Câu 3: Chúc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người.

Câu 4: Và ở cùng chúng tôi.

Kính mừng…

Thánh Maria….

Câu 5: Lạy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời xin cầu cho chúng tôi.

Câu 6: Đáng chịu lấy những sự Chúa Giêsu Kitô đã hứa.



Vậy mà hôm ấy bố của bạn tôi không biết đang mải suy nghĩ gì mà cứ đọc lòng vòng, không thể đọc tới được đoạn chót của Kinh Truyền Tin. Ông bèn giơ tay với cuốn sách kinh trên bàn thờ thì không có cuốn sách kinh trên đó. Ông nổi giận, quát tháo, la lối ầm ĩ. Một lát sau, vẫn không kiếm ra sách kinh, ông lại đứng trước bàn thờ, lâm râm cầu nguyện, làm dấu thánh giá, rồi quay ra, nét mặt vẫn chưa hết giận.

Và kinh nghiệm gia đình tôi: Tối hôm ấy, mẹ tôi, em gái tôi, và tôi ngồi đọc kinh. Vừa dứt lời cầu nguyện và làm dấu thánh giá, mẹ tôi nói: “Mẹ tiếc nồi nước thịt quá”.

Thưở ấy, thời chiến tranh, cuộc sống rất khó khăn, chạy gạo đã là khó, trong bữa ăn mà có được miếng thịt thì quý lắm. Hai ngày trước, mẹ tôi đi chợ về, khoe với chúng tôi miếng thịt heo ba chỉ, nhỏ bằng nửa bàn tay. Rồi mẹ tôi kho mặn, có nước, để ăn được vài ngày. Thế rồi thịt hết, mẹ tôi mắt kém, loay hoay thế nào mà làm đổ nồi nước thịt. Mẹ tôi tiếc lắm. Chúng tôi cũng tiếc lắm. Và dường như cái ‘tiếc’ ấy đã đeo đẳng mẹ tôi khiến có thể mẹ tôi đọc kinh mà cũng không thể tập trung được.

Chúng ta thử xét xem mỗi người trong chúng ta có bao giờ bị ‘chia trí’ trong lúc đọc kinh, cầu nguyện không? Chúng ta tập trung tư tưởng đến mức nào trong lúc chúng ta tham dự các thánh lễ?