MẦU NHIỆM NHẬP THỂ - MẦU NHIỆM HOÀ BÌNH
Cả tuần nay, các phương tiện truyền thông đại chúng liên tục đưa tin về chiến sự ở Libăng. Hàng trăm, hàng ngàn con người vô tội, bỏ mạng, hoặc phải mang thương tật suốt đời. Trong số các nạn nhân, có không biết bao nhiêu trẻ em, người già, phụ nữ, nhưng người hoàn toàn không có khả năng tự vệ. Không chỉ ở Libăng, đây đó trên thế giới, tiếng súng, tiếng bom vẫn còn gầm thét, vẫn còn những mạng người nằm xuống mãi mãi mà không biết đã làm gì nên tội phải chết. Thử hỏi tại sao con người lại chém giết lẫn nhau? Thử hỏi con người thật sự bình an, thật sự an ninh ở đâu và khi nào?
I - Nguồn gốc chiến tranh
Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, con người sống thành bầy đàn, sống theo kiểu ăn lông ở lỗ. Trong thời kỳ này, con người chẳng khác nào dã thú, dùng sức mạnh bạo lực để tranh giành miếng ăn, nguồn nước.
Đến khi thời kỳ chiếm hữu nô lệ, tiến bộ hơn, con người giỏi hơn con người thời nguyên thuỷ, con người thời này biết dùng gươm giáo, cung tên...để phòng thân. Và trước đây, nếu con người dùng đá ném nhau, chộp khúc gậy nào đó có sẵn trong thiên nhiên để đánh nhau, và dùng thân trần lao vào nhau, nay con người đã dùng đến vũ khí. Vũ khí phải được mài sắt bén, và phải dài hơn, chắc chắn hơn vũ khí đối phương, để đối phương phải chết. Cung tên phải làm sao để bắn xa hơn, để có thể giết chết đối phương khi đối phương còn ở xa. Ngày xưa con người dùng đá ném nhau để chiến đấu, ngày nay con người không dùng đá để chiến đấu mà dùng đá để trừng phạt nhau. Đàn bà ngoại tình phải bị ném đá đến chết. Ngày xưa con người giết nhau giành miếng ăn, kẻ thắng được mồi, kẻ thua bỏ chạy. Ngày nay, kẻ thu bị bắt về làm nô lệ cho kẻ thắng. Con người bị đối xử như con vật.
Văn minh hơn, con người bước vào thời phong kiến. Lúc này, con người đã biết tổ chức xã hội tốt hơn, đã có nhà nước. Các bộ lạc, bộ tộc, bây giờ hùng mạnh trở thành vương quốc. Và sự độc ác của con người trở nên văn minh hơn. Ngày xưa người với người giết nhau, cao hơn là bộ tộc giết nhau để giành miếng ăn, nguồn nước. Ngày nay, vương quốc này tàn sát vương quốc kia. Ngày xưa con người chém giết nhau để giành miếng ăn, nguồn nước, những thứ cần thiết để con người có thể sinh tồn. Từ thời này, nhiều vương quốc tàn sát nhau không vì sự sinh tồn, mà chỉ vì thể hiện sự hùng bá của mình. Và vì, con người nhìn nhau như kẻ thù, nghi ngờ lẫn nhau, nếu tôi không giết anh, anh sẽ giết tôi, “tiên hạ thủ vi cường”.
Đến thời Tư Bản, máy móc ra đời, nhiều học thuyết ra đời, giúp con người có cuộc sống sung túc hơn, nhưng con người vẫn giết nhau. Và vì có khoa học trong tay, con người giết nhau bằng khoa học, bằng vũ khí tối tân hơn. Nhiều ngừoi chết hơn. Hai quả bom nguyên tử thả xuống Nhật Bản là một minh chứng.
Đến thời kỳ cộng sản vô thần lên ngôi, chủ nghĩa Xã hội ra đời và lan tràn, con người vẫn không hạnh phúc. Các nhà lãnh đạo theo chủ thuyết cộng sản tự phụ rằng các học thuyết cộng sản là đỉnh cao trí tuệ của loài người. Nhưng xét cho cùng, số người chết trong các cuộc chiến thời cộng sản vẫn cao hơn hết. Đơn giản bởi lẽ, các chủ thuyết cộng sản vẫn đưa con người ta đến chiến tranh, đến sự đổ máu để giai cấp bị trị lật đổ giai cấp thống trị, để trở thành giai cấp thống trị mới. Vòng lẩn quẩn “vũ trang cách mạng” để lật đổ giai cấp thống trị lặp đi lặp lại, và ở mỗi vòng lặp lại có bao nhiêu mạng người nằm xuống.
Càng văn minh, con người càng giết nhau bằng các phương tiện tối tân hơn và đương nhiên nhiều sinh mạng bị cướp hơn. Đơn giản chỉ vì con người luôn nhìn nhau như kẻ thù và vẫn còn phân biệt “ta và nó”. Con người không thể nhìn nhau là anh em vì con người đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Lần mở lại những trang đầu của Sáng Thế Ký, đã thấy con người muốn loại bỏ Thiên Chúa từ ngàn xưa, nên con người xem nhau là kẻ thù và dẫn dắt nhau đến chia ly, chết chóc.
Thiên Chúa tạo dựng con người giống Thiên Chúa, để con người được làm chủ: Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." (ST 1, 26)
Thiên Chúa không nói suông, Ngài thật sự đã trao quyền làm chủ thế giới này cho con người: Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." (ST 1, 28)
Nhưng con người không an phận làm con Thiên Chúa, con người muốn trở nên ngang bằng với Thiên Chúa, muốn trở nên “những vị thần biết điều thiện điều ác” (ST 3, 4). Con người đã ăn trái cấm, hòng loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình vì nếu ăn trái cấm “mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” như Thiên Chúa (ST 3, 4) do đó sẽ không cần đến Thiên Chúa nữa.
Nhưng kết cục, con người không thể trở thành Chúa, thành Chủ nếu loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình. Khi còn ở với Thiên Chúa, con người trong trắng vẹn tuyền: “Con người và vợ mình, cả hai đều trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (ST 2, 25).
Khi còn ở với Thiên Chúa, con người nhìn nhau bằng tình yêu hợp nhất nên một: Con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (ST 2, 23-24).
Khi loại bỏ Thiên Chúa, con người không còn tinh tuyền thánh thiện. Con người không còn thấy những điều tốt đẹp về nhau, mà chỉ thấy những điều xấu hổ của nhau và không nhìn nhau: “Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân” (ST 3, 7).
Sau khi loại bỏ Thiên Chúa, con người mới đó là “một xương một thịt” đã trở mặt với nhau, và nhìn nhau như kẻ thù: Con người thưa: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn” (ST 3, 12). Nếu vẫn còn nhìn nhau là “một xương một thịt”, có lẽ Adam đã không đổ thừa, nhưng vì Adam xem mình là “ta”, Eva là “nó” nên mới “tại nó đó Chúa ơi”.
Và rồi từ đó trở đi, con người, dòng giống của Adam và Eva mãi xem nhau là kẻ thù. Cụ thể Cain, con trai cả của Adam và Eva chưa hề xem Abel con thứ của ông bà là em ruột. Vì vậy, Cain sẵn sàng giết em chỉ vì ganh tức.
Quân Hezbollah chưa bao giờ xem Israel là anh em và ngược lại. Tương tự đối với các cuộc chiến khác, nơi luôn luôn có sự tồn tại giữa các phe phái. Đã có phe phái có nghĩa là không có hợp nhất, không có tình yêu và đương đó là điều kiện tốt để nảy sinh chiến tranh và chết chóc. Ngày nào vẫn còn “ta” và “nó” mà không có “chúng ta” đúng nghĩa hợp nhất, ngày đó chiến tranh trên thế giới vẫn còn.
II - Mầu nhiệm nhập thể - Giải pháp hoà bình
Con một Thiên Chúa từ bỏ tất cả để nên một với nhân loại ngoại trừ tội lỗi: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5, 21).
Nếu, trong xã hội Do Thái, những kẻ phong hủi bị xem là đồ bị nguyền rủa, đồ bỏ đi, thì Thiên Chúa cũng đã nên một với họ đã trở thành kẻ bị nguyền rủa (dù không có lý do gì để nguyền rủa Ngài) và chết như thứ cặn bã bỏ đi trên thập giá. Có lẽ vì nên một với kẻ phong hủi như vậy, nên Ngài hiểu được sự khốn cùng của họ và hiểu khao khát được nên sạch của họ cháy bỏng như thế nào. Do đó, khi có người bị phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch" Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: "Tôi muốn, anh sạch đi!" Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch (Lc 1, 40-42).
Có lẽ khi nên một với loại người bị bỏ đi, Ngài chịu cảnh hẩm hiu, cô đơn, buồn khổ đến đổ mồ hôi máu và có lúc Ngài dao động: Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: "Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni", nghĩa là "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? " (Mt 27, 46), nên Ngài hiểu được, và thông cảm cho sự hèn yếu hay phản trắc của con người. Có lẽ vì vậy Ngài không giận hoặc oán trách Phêrô, dù Phêrô đã chối Ngài nhiều nhất. Có lẽ vậy nên Ngài mạnh dạn trao cho tông đồ cả của mình chìa khoá nước trời, và đặt vị tông đồ này là viên đá đầu tiên xây nên thành luỹ của Giáo Hội ngày nay. Có ai dám trao chìa khóa kho báu của mình cho một kẻ đã phản bội mình cất giữ không? Các môn đệ khác cũng bỏ mặc Ngài bị nộp, nhưng có lẽ Ngài hiểu, nên Ngài thương cho sự hèn yếu của họ, và vì Ngài xem họ là anh em, nên một với Ngài, nên Ngài không oán trách môn đệ nào. Ngược lại, Ngài còn trao ban Thánh Thần, món quà vô giá từ Thiên Chúa Cha cho các môn đệ.
Có lẽ do Ngài “thấm” sự đau đớn và khổ nhục của ngón đòn lên án, và các loại nhục hình của thời đó, nên Ngài không kết án, cũng không ném đá người đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình (Ga 8, 9-11).
Có lẽ sống trong kiếp người lầm than, nên Ngài hiểu và thương cho những con người trong cảnh lầm than. Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. (Mt 9, 35-38).
Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ (Mt14, 14).
Có lẽ bao nhiêu lần Ngài đói khát, nên Ngài hiểu và thương cho dân chúng bị đói khát, nên Ngài đã hoá bánh ra nhiều để dân chúng được ăn no nê. Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." Đức Giê-su bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn." Các ông đáp: "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!" Người bảo: "Đem lại đây cho Thầy! " Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con. (Mt 14, 15-21)
Đức Giê-su gọi các môn đệ lại mà nói: "Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường." Các môn đệ thưa: "Trong nơi hoang vắng này, chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no? " Đức Giê-su hỏi: "Anh em có mấy chiếc bánh? " Các ông đáp: "Thưa có bảy chiếc bánh và một ít cá nhỏ." Bấy giờ, Người truyền cho đám đông ngồi xuống đất. Rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được bảy thúng đầy. Số người ăn có tới bốn ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con. (Mt 15, 32-39)
Và vì nên giống các môn đệ của mình, nên Ngài hiểu sự khó khăn, đau khổ của con đường thập giá đang chờ đợi các môn đệ của mình. Có lẽ vì vậy, nên trước khi Ngài bị nộp, Ngài không lo cho mình mà lo rữa chân cho các môn đệ và để lại bao nhiêu lời dặn dò yêu thương tha thiết cho các môn đệ. Ngài cô đơn nơi trần gian, nên Ngài lo lắng cho các môn đệ cũng cô đơn, mồ côi khi Ngài ra đi (Ga 14).
Mầu nhiệm nhập thể, nên giống nhân loại chính là giải pháp hoà bình không tiếng súng của Thiên Chúa. Dù con người cố tình loại bỏ Thiên Chúa, nhưng Thiên chúa vẫn yêu thương và nên một với con người để hoà giải với con người. Qua giải pháp này, Thiên Chúa đã xoá bỏ khoảng cách giữa con người với Thiên Chúa, bằng cách hạ mình xuống để nâng con người lên cho con người được nên giống Thiên Chúa. Thiên Chúa đã hạ mình xuống để xoá bỏ cách biệt giữa trời và đất. Thiên Chúa đã hạ mình xuống để xoá bỏ khoảng cách giữa “ta” và “nó”. Ngài không cần làm như thế, nhưng vì yêu thương và muốn con người được trở lạ làm con của Ngài, nên Ngài chấp nhận hạ mình.
Và chính Đức Giêsu vì yêu Cha trong một tình yêu vô hạn, nên đã chập nhận làm sứ giả hoà bình dù cái giá phải trả quá đắt. Chính vì Đức Giêsu nhìn Thiên Chúa là Cha (Ga 14, 11), nên Ngài nhận vai trò làm anh cả của đàn em đông đúc, xem đàn em là chi thể của mình (Ga 15, 4-5), để làm sửa giả hoà giải Cha và đàn em.
III - Kết luận
Nếu các nhà lãnh đạo trên thế giới chấp nhận giải pháp hoà bình không tiếng súng của Thiên Chúa, chắc chắn không nhà lãnh đạo nào dám trở thành người đầu tiên khai hoả và thế giới sẽ có hoà bình. Nếu những người có quyền ra lệnh khai hoả xem dân thường vô tội như chính ruột thịt của mình, họ đã không khai hoả.
Tiếc rằng, họ đã loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời mình, bằng nhiều cách thức tinh vi như: “không để tôn giáo lẫn vào chính trị”, “tôn giáo là thuốc phiện của giai cấp tư sản”, nên các nhà lãnh đạo hiếm khi “nhập thể” để hiểu những nỗi thống khổ của dân thường vô tội. Họ khai hoả nhân danh “danh dự quốc gia” và các lý do chính nghĩa khác, nhưng không lý do nào nhân danh sinh mạng dân thường vô tội. Nếu họ chấp nhận Thiên Chúa là Chúa của họ, có lẽ họ đã “nhập thể” được và hiểu được sự thống khổ của dân chúng, để khoá chặt cửa kho vũ khí của mình.
Ngày xưa, Thánh Mahadma Ghandi của Ấn Độ, tuy không theo Kitô giáo, nhưng Ngài rất tâm đắc Bài giảng trên núi của Đức Kitô “9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5, 9). Vì vậy, Ngài đã đề ra chính sách giải phóng dân tộc Ấn Độ bằng con đường hoà bình. Cuối cùng, với sự dẫn dắt của Ngài, Ấn Độ vẫn được độc lập mà không tốn hao nhân mạng, trong khi đó, hàng triệu người phải chết trong các cuộc đấu tranh giành độc lập vì tin theo các học thuyết “đỉnh cao trí tuệ” của con người.
Hỡi cái giống người, đến khi nào các người mới trở về với Thiên Chúa đây?
Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa là Cha yêu thương của chúng con, xin Cha thương xót cho những nạn nhân đang oằn mình dưới bom đạn chiến tranh. Xin Cha giúp chúng con biết nhìn nhau là anh em, xin cho chúng con hợp nhất yêu thương nhau. Xin Cha giúp các nhà lãnh đạo trên thế giới biết xót xa cho thân phận con người đau đớn của dân thuờng vô tội.
Lễ kính Thánh Gioan Kim và Anna
(Singapore, 26-7-2006)