Người tu sĩ đồng cảm với Giáo hội qua đức khó nghèo

“Hãy theo tôi” (Mt 4, 19) đó là lời mời gọi của Đức Kitô muốn chúng ta thành môn đệ của Người. Để trở thành môn đệ, Đức Kitô không đòi hỏi chúng ta phải là những ngừơi ưu tuyển. Tương giao giữa ngừơi môn đệ và Thầy không nhất thiết được thiết lập trên phạm vi trí tuệ. “Hãy theo Ta”, chữ “theo” trong Tin Mừng luôn diễn tả sự gắn bó với con ngừơi Đức Kitô. Sự gắn bó đó trứơc tiên chính là trở nên giống như Thầy, Đấng vì hoàn toàn gắn bó với chương trình của Chúa Cha, đã có thái độ siêu thoát đối với của cải trần thế : "Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có" (2 Cr 8,9). “Chiều sâu của sự nghèo khó của Người được tỏ bày trong việc Người dâng trọn vẹn cho Chúa Cha tất cả những gì thuộc về Người.” (Vita consecrata 22).

Sự lựa chọn sống nghèo khó, ngừơi tu sĩ thực sự trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Đấng đã thổ lộ: “Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Ngừơi không có chỗ gối đầu” (Mt 8. 20). Tất cả các môn đệ Đức Ki-tô phải theo sự lựa chọn này; những ai muốn theo Chúa Ki-tô sát hơn để nên giống Người, lại càng không thể không cảm thấy bị lôi cuốn vào sự lựa chọn đó (x Vita consecrata số 82). Bởi vì chính sự khứơc từ dính bén của cải trần gian, ngừơi tu sĩ hòan tòan tín thác cuộc sống mình cho Thiên Chúa. Chính trong sự tín thác nầy ngừơi tu sĩ hòan tòan tự do trong việc lo toan cho cuộc sống của mình, không so đo tính tóan. Vì hòan tòan tín thác vào Chúa, ngừơi tu sĩ đặt mình trong sự yên bình thanh thản. Tại sao Chúa đòi ngừơi môn đệ khi theo Chúa phải từ bỏ mọi sự? Bởi vi khi đôi bàn tay ôm chặt lấy của cải trần thế thì ngừơi môn đệ sẽ không thể giang rộng cánh tay để ôm lấy Chúa, ôm lấy sứ vụ Chúa gởi trao. Trái tim và đôi bàn tay chất chứa đầy tham vọng và của cải thì con đâu còn chỗ để yêu Chúa, yêu sứ vụ.

Thật vậy sứ vụ của Đức Kitô là loan báo Tin mừng cho ngừơi nghèo. Sứ vụ đó cũng được trao cho Giáo hội. Giáo hội chỉ tìm thấy căn tính đích thật của mình trong mối tương quan với ngừơi nghèo. Giáo hội phải là Giáo hội của người nghèo. Nếu như Giáo hội quyết định “sống cho người nghèo”, điều nầy không đơn giản đó chỉ là một quyết định như bao quyết định khác, nhưng “Giáo hội của người nghèo” phải được hiểu đó như là một sư biểu lộ “một sự vâng lời thuộc bản chất” của Giáo hội.

Điều đó có nghĩa là gì? Một điều đáng chú ý trong việc lưu truyền đức tin Do thái-Kitô giáo là: Thiên Chúa vào những hoàn cảnh mang tính quyết định việc mặc khải của Người trong lịch sử luôn đứng về phía người nghèo và đặc biệt là Thiên Chúa đã qui tụ dân của Người từ những người nghèo (như: Truyền thống xuất hành, Lời loan báo của Các tiên tri, sự giải phóng khỏi cảnh lưu đầy, Thánh vịnh, Khải huyền và trước hết chính là lời loan báo về Nước Thiên Chúa của Chúa Giêsu và cái chết của Người trên Thập Giá). Tại Sao Thiên Chúa làm điều đó? Nền tảng nội tại thẳm sâu cảm tình của Thiên Chúa đối với người nghèo và những người đau khổ đó là gì? Theo như nhận thức về sự hiệp thông ba ngôi trong Thiên chúa, thì nguyên nhân có thể nằm ở chỗ là: trong chính Thiên Chúa có – nói theo cách loại suy (analogie)- một cảm nghiệm về sự “nghèo khó”: đó chính là việc “Con” hoàn toàn là qùa tặng tình yêu của “Cha”. “Người Con” tìm được “căn cước” của mình, “sự tự hiện hữu” của mình trong sự đối đương với “Cha”, bởi vì “Con” không tự hiện hữu bởi chính mình và từ chính mình, nhưng Người phát xuất hoàn toàn bởi “Cha”, “Con” hoàn toàn biết ơn “Cha” và tỏ bày tình yêu của Cha (X. Ga 5, 39 tt; 6, 38 v.). Nếu tình yêu của “Cha” được tỏ bày cho thụ tạo trong việc mặc lấy thân xác nhân loại của “Con”, thì Giáo hội cũng mặc lấy hình dáng của một con người nghèo khó trong Chúa Giêsu (Phil 2, 5 tt)

Vì Giáo hội là Giáo hội của ngừơi nghèo nên “Giáo Hội phải luôn luôn quan tâm đến việc hiện diện hữu hình trong đời sống hằng ngày, đặc biệt trong nền văn hoá hiện đại, tuy đã bị tục hoá nhưng vẫn nhạy cảm với ngôn ngữ dấu chỉ. Muốn thế, Giáo Hội có quyền chờ đợi sự góp phần đặc biệt từ phía những người được thánh hiến, được kêu gọi làm chứng tá cụ thể rằng họ đã thuộc về Đức Ki-tô trong hết mọi hoàn cảnh.” (Vita consecrata số 25). Giữa một thế giới đang bị tục hóa, lấy đời sống hưởng thụ làm cứu cánh, và của cải vật chất như là cùng đích của cuộc sống, Giáo hội hiện diện như dấu chỉ của sự thánh thiện qua việc cụ thể hóa đới sống khó nghèo của Đức Kitô, việc cụ thể hóa đó được thể hiện cách đặc biệt nơi đức khó nghèo của đời sống thánh hiến. Qủa thật đức khó nghèo diễn tả bản chất của Tin Mừng, bởi Đức Kitô đến để phục vụ trong tinh thần nghèo khó, cho những ngừơi nghèo khó, bởi đó “ý nghĩa tiên khởi của đức khó nghèo là làm chứng cho Thiên Chúa, kho tàng đích thực của trái tim con người. Đức khó nghèo phản đối quyết liệt việc tôn thờ tiền tài; nó như thể một lời ngôn sứ vang lên cho xã hội tại nhiều nơi thuộc thế giới giàu sang đang có nguy cơ mất ý thức về mực thước và thậm chí về giá trị của sự vật nữa. Vì vậy mà ngày nay, hơn cả mọi thời đại khác, đức khó nghèo Phúc Âm thu hút chú ý của những người ý thức tài nguyên của hành tinh có giới hạn, đang đòi phải tôn trọng và bảo vệ công trình tạo dựng bằng cách giảm bớt tiêu thụ, biết sống thanh đạm và tự đặt cho mình bổn phận kìm hãm những ước muốn của mình.” (Vita consecrata số 90). Đức khó nghèo của ngừơi tu sĩ giúp Giáo hội bén rễ sâu trong những địa phương và trong nhiều hình thức khác nhau như là Giáo hội giữa và với người nghèo. Giáo hội như là “Giáo hội của người nghèo”, nơi mà người nghèo trở thành chủ thể của các hành động Giáo hội. Qủa thật, phương cách sống hiệp thông với người nghèo đã phổ biến cách sâu rộng để Giáo hội trở thành một dụ ngôn của sự chia sẻ với người khác trong một cộng đồng nhân loại đang bị đàn áp xâu xé

Chính vì vậy “người tận hiến được mời làm chứng cho Tin Mừng một cách mới mẻ và mạnh mẽ về sự từ bỏ và tiết độ, bằng một nếp sống huynh đệ với nét nổi bật là đơn sơ và hiếu khách, cũng như làm gương cho những người dửng dưng với nhu cầu của tha nhân. Chứng tá đó đương nhiên đi kèm theo một mối tình dành ưu tiên cho người nghèo, và tỏ ra một cách đặc biệt trong cách chia sẻ điều kiện sống của những người cùng khốn nhất. Biết bao cộng đoàn hiện đang sống và làm việc ở giữa người nghèo và người ngoài lề xã hội, chấp nhận những điều kiện sống của họ và chia sẻ nỗi đau khổ, các khó khăn và hiểm nguy của họ” (Vita consecrata số 90).

Xã hội chúng ta đang sống đang bị thống trị bởi nhu cầu thụ hưởng thái qúa. Ngành kỹ nghệ quảng cáo đang ra sức làm thỏa mãn khuynh hướng “ham muốn”của chúng ta. Ngừơi thời đại hôm nay đang bị lôi cuốn vào cơn lốc của chủ nghĩa duy vật, thúc đẩy lòng thèm khát chiếm hữu, và ra sức bóc lột tài nguyên môi trường, bóc lột sức lao động, dửng dưng với những nhu cầu của ngừơi túng thiếu, không quan tâm đến việc làm quân bình tài nguyên thiên nhiên. Điều đó cũng là một thách đố cho đời sống thánh hiến.

Người tu sĩ tuân giữ đức khó nghèo “không chỉ hạn hẹp trong sự lệ thuộc Bề trên khi xử dụng của cải, nhưng là phải nghèo khó trong thực tế và trong tinh thần để chi lo thu tích một kho tàng trên trời (x. Mt 6, 20)” (PC 13).Đức cha Kobayaski đã nhận xét: “có lẽ chúng ta chỉ có ý tưởng trừu tượng về sự nghèo, chứ không có sự nghèo thật trong thực tế. Ở ngòai cộng đòan chúng ta mới có những người nghèo khó thật. Thật ra, không biết bao ngừơi tu sĩ đã tuyên bố: ‘chúng tôi sống nghèo vì Chúa, nhưng chưa chắc chắn: chúng tôi không phải là những ngừơi khốn cùng thật.’ Nhưng Chúa Giêsu lại là ‘con bác thợ mộc nghèo’. Vì thế, ‘sống theo đức khó nghèo bậc tu trì’ phải đồng nghĩa với ‘sống như người nghèo thật’ mới được”, Đức cha chua xót: “Tôi thấy những tu viện hay tập viện đủ cạnh tranh về phương tiện tiện nghi và thỏai mái, ngay bên cạnh phố phường đầy tràn những ngừơi nghèo túng. Tôi không khòi nghĩ tưởng rằng: điều đó để lộ ra một bộ mặt trông thật gai mắt”.(Đức cha Kobayaski, trả lời cho câu hỏi các nữ tu: xã hội ngày nay chờ mong gì ở các dòng tu?, trích trong: Nữ tu đọc văn thư Tòa Thánh, Saigon 1968, tr. 463 - 464). Đó cũng là vấn đề để các tu sĩ hôm nay suy tư về lời khấn khó nghèo của mình. Khi khóac chiếc áo dòng lên mình ngừơi tu sĩ thể hiện ý chí muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong thái độ dứt khóat với những ràng buộc của vật chật của cải trần thế. Qua đó người tu sĩ thực sự đồng cảm với Giáo hội qua việc thể hiện đức khó nghèo trong việc dấn thân phục vụ cho ngừơi nghéo khó, dấn thân trong các công tác giáo dục nâng cao đời sống dân trí của nhân lọai, phát huy những họat động nhân đạo và chống lại nạn nghèo đói. Giáo hội mời gọi ngừơi thánh hiến hôm nay tiếp tục viết lên những trang sử phục vụ cho ngừơi nghèo mà những vị tiền bối trong đời thánh hiến đã viết. Họ “đã viết lên bao trang sử diệu kỳ về sự liên đới Phúc Âm và anh dũng xả thân, vào những năm đầy những biến đổi sâu đậm và những bất công lớn, những hy vọng lẫn những thất vọng, những chinh phục đáng kể và những thất bại ê chề. Còn những trang sử khác cũng không kém ý nghĩa đã và còn đang được ghi lại bởi vô số những người tận hiến khác, đang sống phong phú một cuộc đời ‘tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa’ (Cl 3,3) để thế giới được cứu độ, mà không cầu lợi lộc nào, vẫn suốt đời dấn thân vì chính nghĩa mà ít ai biết đến và rất ít ai nhận ra giá trị. Dưới những hình thức khác biệt và bổ túc cho nhau, đời thánh hiến san sẻ sự nghèo khó cùng cực mà Chúa đã chấp nhận. Đời thánh hiến chu toàn một vai trò đặc thù trong mầu nhiệm cứu độ của cuộc nhập thể và thương khó cứu chuộc của Đức Ki-tô” (Vita consecrata số 91).

Lm Hà văn Minh