Thứ bảy ngảy 8/07/06 Ban Mục vụ Di dân tổ chức buổi học Giáo lý cho giới công nhân tại Bình dương, với chủ đề Đức Khiêm Nhường.

1. Ðể đả phá sự kiêu ngạo, người Nhật Bản thường kể câu chuyện sau:

Có một nhà hiền triết nọ nổi tiếng về sự khôn ngoan và kiến thức. Ai ai cũng tìm đến vấn kế.

Ðể kiểm chứng điều đó, một hôm có một giáo sư đại học đến xin tiếp kiến nhà hiền triết. Ông trang bị cho mình không biết bao lý lẽ và kiến thức.

Khi ông giáo sư đại học an tọa trong phòng khách, nhà hiền triết mới đưa một bình trà thật nóng ra tiếp khách. Ông bắt đầu rót nước vào tách của ông giáo sư. Những giọt nước trà nóng hổi không mấy chốc đã tràn ra tách, nhưng nhà hiền triết vẫn điềm nhiên rót tiếp. Nước tràn ra cả khay... Ông giáo sư nhìn nước tràn ra khay rồi nghĩ thầm trong lòng: thì ra con người mà thiên hạ tôn thờ như bậc thánh hiền chỉ là một con người lơ đễnh, bất chấp... Không còn đủ kiên nhẫn nữa, vị giáo sư mới nói lớn: "Thưa ngài tách trà đã đầy tràn, nước đang chảy lai láng ra bên ngoài cả khay kìa".

Lúc bấy giờ nhà hiền triết mới dừng tay lại và nói: "Cũng giống như tách này, đầu óc của ông tràn đầy văn hóa, kiến thức, tư tưởng và những định kiến. Nếu ông không dốc cạn tách trà của ông, thì làm sao tôi có thể nói với ông về triết thuyết của tôi, bởi vì triết thuyết của tôi chỉ dành cho những con người đơn sơ và cởi mở".

2. Kiêu ngạo nẩy sinh từ đấy, từ một con ngừơi tràn đầy văn hóa, kiến thức, tư tưởng, định kiến. Đó là những viên gạch xây dựng pháo đài mang tên “tôi”. Thật vậy “Ngay từ khi lọt lòng mẹ, hai bàn tay tôi nắm lại, để khẳng định rằng tôi” mới là quan trọng.

Ngay cuốn sách đầu tiên của Thánh kinh đã nói đến “cái tôi” của Nguyên tổ, để từ đó cắt nghĩa tại sao con ngừơi phải chịu đau khổ. Trong Phật giáo, Đức phật cũng nhận ra “cái tôi” là nguyên cớ của muôn vàn cay cực mà nhân lọai phải đón nhận, Ngài đã thốt lên: “đời là bể khổ”. Thật ra, cuộc đời con người từ nguyên thủy không có khổ đau, Sách Sáng thế đã tường thuật lại cảnh hạnh phúc mà con ngừơi sống trong vườn địa đàng: con ngừơi sống hòa thuận đần ấm với thiên nhiên trong mối dây liên kết thân mật với Thiên Chúa. Thế nhưng, sự sống hạnh phúc đó bị phá hủy bởi “cái tôi” xuất hiện. Tại sao tôi lại phải lệ thuộc vào Thiên Chúa ? Tại sao tôi không là Thiên Chúa? Không, tôi phải dành cho được cái quyền tối ưu, chỗ đứng tôi mới là quan trọng., tôi không lệ thuộc vào ai cả, tôi sẽ biết thiện và ác, tôi không phải vâng lời ai cả. Tôi cứ ăn trái cấm, coi Thiên Chúa sẽ làm gì được tôi. Và hậu qủa của sự cao ngạo đó là con ngừơi bị lọai ra khỏi cuộc sống hạnh phúc, và qủa thật con ngừơi đã nhận ra thế nào là thiện, thế nào là ác. Thiện chính là khiêm nhường nhận ra mình là ai, và Thiên Chúa là ai, còn ác phát xuất từ hành vi cao ngạo của “cái tôi”.

Để phục hồi lại sự sống hạnh phúc nguyên thủy nầy, Đức Giêsu Kitô đã tự nguyện đến trẩn gian qua việc Nhập thể khiêm hạ trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria, một thiếu nữ Do thái đơn hèn sống trong một gia đình thấp bé tại ngôi làng Nazareth nhỏ nhất của nuớc Do thái, Ngài sinh ra trong cảnh nghèo nàn nơi hang đá mà dân du mục chọn lấy để trú ngụ qua đêm hoặc trong mùa gía rét. Thật vậy, Đức Kitô được gọi là Đấng Messia khiêm nhường mà tiên tri Zêcaria đã loan báo (x. Mt 21, 5). Ngài đã từng tuyên bố: “Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29). Ngài đến trần gian không để tìm vinh quang cho mình (Ga 8, 50). Là Thầy, là Chúa, Ngài đã hạ mình xúông rửa chân cho các môn đệ để dạy các ngài bài học khiêm nhường (Ga 13, 14tt). Chúa Giêsu đã phá hủy “cái tôi”, Ngài vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không khư khư giữ lấy địa vị ngang hàng Thiên Chúa, Ngài đã tự hạ mình, để vâng lời cho đến chết và chết trên Thập gía (x. Pl 2, 6tt). “Cái tôi” cao ngạo đã bị Đức Kitô tiêu hủy, để từ đó nẩy sinh một sự sống mới, sự sống hạnh phúc vĩnh hằng với Thiên Chúa.

3. Từ đó, chúng ta có thể nhận ra rằng, đời sẽ không là bể khổ khi chúng ta học nơi Đức Kitô bài học về sự khiêm nhường, vì đấy là con đường dẫn tới yêu thương, như Augustinô đã nói: “đâu có khiêm nhường, ở đấy có bác ái”. Mà đức ái là nguồn mạch của hạnh phúc. Bởi chính nhờ yêu thương mà chúng ta nhận biết Thiên Chúa (1 Ga 4, 7). Từ việc nhận biết đó chúng ta thiết lập mối tương giao với Thiên Chúa, trong mối tương giao nầy chúng ta nhận biết Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống và hạnh phúc đích thật. Chúng ta nhận ra thân phận mỏng dòn và giới hạn của chúng ta. Chúng ta nhận ra “cái tôi” chẳng là gi, chẳng có thiện hảo nào xuất phát từ nơi “tôi”, tất cả những gì tôi có đều nhận lãnh từ nới Thiên Chúa. Để từ đó chúng ta tín thác cuộc đời chúng ta cho Thiên Chúa, chúng ta không còn cậy dựa vào “cái tôi”, nhưng là vào Thiên Chúa. Đức khiêm nhường đựơc xây dựng trên sự nhận biết nầy

Thật vậy Kinh thánh đã trình bày đức khiêm nhường trứơc tiên là nhận biết mình là ai để không cậy dựa vào “tôi” (x. Cn 3, 7; Tv 131, 1: Lòng con chẳng dám tự cao, mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi; Rm 12, 3. 16). Từ đó đức khiêm nhường chỉ cho biết mọi sự mình có đều do bởi Thiên Chúa trao ban (1 Cor. 4, 7); và nhận ra rằng mình chỉ là tội nhân (Is 6, 3tt) là tôi tớ vô dụng (Lc 17, 10).

4. Từ sự nhận biết đó đức khiêm nhường dẫn đưa chúng ta nối gót theo đức Kitô, phá hủy cái tôi cao ngạo, để dấn thân phục vụ anh em trong tinh thần khiêm hạ (Lc 22, 26tt). Chính khi khiêm nhường phục vụ như thế chúng ta đang mở rộng tâm hồn để đón nhận những ân huệ của Thiên Chúa. Ân huệ đầu tiên đức khiêm nhường mang lại chính là sự khôn ngoan đích thật, làm cho ngừơi khiêm nhường phân biệt được điều lành và điều dữ (1 V 3, 9). Trong cựu ứơc sách Samuel cuốn thứ nhất 25, 2 -43 đã nói tới hành vi của bà Avigagin, vợ ông Navan. Biết chồng mình đối xử tệ với Davit, và chắc chắn Navan sẽ bị giết chết. Bà đã nhanh chân đến quí dứơi chân Davit và thẳng thắn xin chịu tội, và nài nỉ sự ân xá của Davit. Và bà đã thành công. Chính sự khiêm nhường đã giúp bà nhận ra điều lành và điều dữSự khôn ngoan làm cho chúng ta khám phá gía trị lớn lao của luật Chúa để tuân giữ. Đức khôn ngoan làm cho chúng ta nhìn thế giới chung quanh bằng cặp mắt sáng súôt và không ảo tưởng. Nhìn ra những điều xấu để tránh xa, chỉ dạy chúng ta thận trọng, điều độ trong ứơc muốn, chân thành trong lời nói, yêu chuộng công bình, ghét hận thù và yêu thương những ngừơi nghèo khó.

Đức khiêm nhường còn cho chúng ta cảm nhận ra thân phận yêu đuối, tội lỗi của mình để thống hối và tín thác vào Thiên Chúa. Câu chuyện được kể lại trong Phúc âm Luca 18, 9-14 về người thu thuế vào đền thờ cầu nguyện. Với thái độ khiêm cung, không dám ngước mặt lên trời, đấm ngực và than thở: “lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội”. Ông đã được nhận được ơn tha thứ. Người thu thuế nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa vì ông nhận ra chính con người của ông, ông đi ra khỏi “cái tôi”, phơi bày tất cả thân phận yêu hèn trước mặt Thiên Chúa. Thiên Chúa không kết án kẻ có tội, Ngài chỉ kết án thái độ cao ngạo, cố chấp; Ngài kết án những con ngừơi dám nhận những ân huệ của Thiên Chúa trao ban làm của mình, để từ đó phê phán, kết án anh em mình. Người khiêm nhường không bao giờ dám xét đóan một ai. Bời họ nhận ra rằng họ cũng chẳng có gì, cũng chẳng hơn ai. Đức khiêm nhường dạy ngừơi ta nhận ra mọi tài năng, khả năng là ân huệ của Thiên Chúa trao ban để phục vụ cho Thánh ý. Bởi vậy ngừơi khiêm nhường không buồn phiền vì những thất bại sau bao nỗ lực, cũng không lấy làm vinh dự cho riêng mình vì những thành công trong công việc.

5. Khiêm nhường không là nhu nhược. Người nhu nhược luôn sợ hãi, tránh né, không đủ can đảm đón nhận sự thật. Nhu nhược là trạng thái bệ rạc của một con ngừơi không có khả năng nhận ra chân lý và luôn bị khuất phục bởi những tính hự tật xấu, bởi sự dữ, bởi bất công, bạo tàn. “Người nhu nhược để ý chí lăng loàn như anh nài không cầm được voi. Người vâng lời khắc phục được ý chí như nhà xiệc điều khiển mãnh hổ.” (Đường Hy vọng số 390). Trái lại ngừơi khiêm nhường luôn nhận ra sự thật, lắng nghe sự thật và bước theo sự thật. Khiêm nhường dạy ngừơi ta dấn thân phục vụ vì thiện ích của tha nhân. Đức Kitô, “Đấng khiêm nhường”, đến để phục vụ phần rỗi cho nhân lọai qua lời mời gọi sống yêu thương, nhưng Người cũng mạnh dạn tố cáo bất công, gỉa hình. Người mạnh mẽ lên án quyền lực, nếu quyền lực đó không phục vụ thiện ích cho dân chúng, đặc biệt cho những người thân cô thế yếu, những ngừơi bị xã hội lọai trừ vì nghèo, vì bệnh tật. Khiêm nhường luôn hướng đến chân lý. Đó là con đường mà những ai muốn làm môn đệ Chúa Giêsu phải bứơc vào. Không thể yêu thương nếu không khiêm nhường. Bởi tình yêu luôn phát xuất từ một trái tim rộng mở, một trái tim sống cho ngừơi khác, chứ không cho chính mình, một trái tim phục vụ cho hạnh phúc của tha nhân chứ không qui hướng về minh. Trái tim đó chỉ có thể đúc nắn nơi một con người sống khiêm nhường đích thật, nơi đó “cái tôi” hòan tòan bị phá đổ.

Vâng, ngừơi khiêm nhường luôn lấy sự phục vụ tha nhân như phương thế để phục vụ cho sự thật. Vì sự sống con ngừơi là ân huệ cao qúi, và phẩm giá con ngừơi được dệt nên bởi “giống hình ảnh Thiên Chúa”. Sự khiêm nhường luôn là một lời mời gọi dấn thấn phục vụ, chứ không là “ nhốt” mình không dám làm gì vì “không xứng đáng, không có khả năng”. Đó chỉ là ngụy biện của một con ngừơi cao ngạo và nhu nhược. Mẹ Têrêsa Calcutta, con ngừơi nhỏ bé, yếu đuối, nhưng mẹ không để hình dáng bên ngòai cản trở mẹ dấn thân phục vụ. Mẹ đã tận tụy với công việc cứu giúp những kẻ bất hạnh với thài độ của ngừơi môn đệ Chúa Kitô: phục vụ và phục vụ hết mình, phục vụ cho đến hơi thở cuối cùng. Phục vụ không vì danh lợi trần thế, không vì vinh quang người thế mặc cho, nhưng vì “là cây viết chì trong bàn tay Thiên Chúa”. Chúa Giêsu cũng đã khẳng định: Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ minh vác Thập giá mà theo Thầy. Như vậy rõ ràng để trở thành môn đệ của Chúa, phải ra khỏi chính mình, phải từ bỏ “cái tôi” để mang vác Thập gía. Thập gía đó là gì? Đó không phải là Thánh ý của Cha và phần rỗi của nhân lọai đó sao? Qủa thật, theo Chúa Kitô chính là phục vụ trong tinh thần khiêm nhường, phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Thập gía Chúa Giêsu mang vác không gì khác ngoài Tình yêu dành cho Cha và cho nhân trần. Đó cũng là Thập gía mà Chúa muốn người môn đệ tiếp tục vác lấy mỗi ngày: Yêu Thiên Chúa hết sức hết linh hồn và yêu tha nhân như chính mình.

6. Thế nhưng nhiều người họ không nhận ra những ân huệ lớn lao mà đức khiêm nhường mang lại. Họ coi sự khiêm nhường là đánh mất chính mình, là khờ khạo, là chối bỏ sự hiện hữu của chính mình. Họ là những ngừơi kiêu ngạo. Họ chối bỏ mọi sự lệ thuộc vào bất cứ một ai, ngay cả với Thiên Chúa (Stk 3, 5). Người kiêu ngạo thường huênh honag và luôn cầu dnah vọng (Lc 14, 7; Mt 23 6tt), hay ghen tị (Gal 5, 26) vênh váo hay thích phô trương (Am 6, 8), họ tự đắc về sự giàu sang (Gac 4, 16; 1 Ga 2, 16)… Họ là những ngừơi không bao giờ chấp nhận sự thật, ngay cả sự thật về chính con người của họ. Kẻ kiêu ngạo xây dựng pháo đài “cái tôi” bằng chính những phô trương gỉa tạo. Và sẽ đỏ mặt tía tai nếu ai đụng đến pháo đài đó. “Tôi” là tất cả, không bằng “tôi” và chỉ có “tôi” mới là đáng kể, ngoài ra không có gì đáng phải quan tâm.

Lòng kiêu ngạo là nguyên cớ của bao mối bất hòa, hận thù và chiến tranh. Nó còn gây ra những hà hiếp bất công, vì người kiêu ngạo luôn lấy cái của người khác làm của mình. Bất công đối với Thiên Chúa và bất công đối với tha nhân. Kiêu ngạo là nguyên do đưa đến những sự dữ trong thế gian, trong cuộc sống. Và đó “căn” của “bể khổ”. Bao nhiêu tội ác xảy ra trong thế giới đều phát xuất từ tính khí kiêu ngạo. Nó là cha đẻ của sự đố kỵ ghen tương. Lịch sử nhân lọai, và lịch sử cứu độ đã kể ra bao nhiêu tội ác do tính đố kỵ nầy. Ngay những trang đầu của sách Sáng Thế Ký, Cain đã đổ máu em mình là Abel vi sự đố kỵ nầy, và chuyện đổ máu không chỉ xảy ra một lần, nhưng đã kéo dài trong súôt chiều dài của lịch nhân lọai vì tính đó kỵ.

Người kiêu ngạo không bao giờ muốn có hòa bình. Vì hòa bình là hoa qủa của lòng khiêm nhu, hiền hòa. Do đó kè kiêu ngạo luôn nghĩ đến bất hòa. Gieo tiếng xấu cho nhau là hành vi luôn được kẻ kiêu ngạo chuyên chăm thi hành. Hành vi nầy bắt nguồn từ sự ghen tương và thù hận. Họ chẳng muốn ai hơn mình bất cứ về điều gì tinh thần cũng như vật chất. Kẻ thù của những kẻ kiêu ngạo chính là những người công chính, ăn nói thẳng ngay, nhưng ngừơi tạo ra mối hòa thuận…. Và họ luôn tìm mọi mưu kế để triệt hạ kẻ “hơn họ”.

7. Thiên Chúa luôn chống lại những kẻ kiêu căng. Đuổi Nguyên Tổ ra khỏi địa đàng như là hành vi chống lại kẻ kiêu căng. Thật vậy “Chúa giơ ta biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trì kiêu căng” (Lc 1,51). Trong các Thánh vịnh, chúng ta được nghe tác gỉa kể lại những việc làm Chúa dành cho những kẻ cao ngạo: họ đã chuốc lấy bao tủi hổ, cánh tay dũng lực của Thiên Chúa luôn đè nặng trên họ. Và trong Tân ứơc, sự Phục sinh của Đức Kitô là hành vi chiến thắng tính kiêu ngạo của Satan.

Qủa thật Thiên Chúa không bao giờ để cho những ngừơi cao ngạo đựơc hạnh phúc Bởi họ đã được ru ngủ trong lâu đài “cái tôi” cao ngạo của họ. Do đó cuộc đời của họ luôn đối diện với những bất an do thù hận, ghen tương. Trong đầu óc của họ luôn chìm ngập trong bóng tối của những mưu mô xảo quyết nhằm ám hại những kẻ ăn ở ngay lành.

8. Chúng ta những Kitô hữu luôn được mời gọi: hãy học cùng Chúa Giêsu, vì Ngừơi hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Bài học nầy chỉ có thể lãnh hội được không chì nghe về Chúa, về cuộc đời của Chúa, nhưng còn phải sống như Chúa.

Hãy học cùng Chúa về sự vâng phục: “lạy Cha, xin đừng theo ý con mà hãy theo ý Cha”. Vâng phục là bài học khiêm nhường đầu tiên. Với bài học nầy đòi hỏi chúng ta phải khứơc từ ý riêng của mình, nhưng theo ý Chúa qua Giáo hội, qua các phẩm trật Giáo hội, qua các vị chủ chăn, thầy dạy. Công đống Vat. II đã nhắn nhủ: “Như mọi tín hữu khác, với tinh thần vâng lời của ngừơiKitô hữu, giáo d6an cũng hãy mau chấp nhận những điều các chủ chăn có nhiệm vụ thánh, đại diện Chúa Kitô, đã quyết định với tư cách thầy dạy và lãnh đạo trong Giáo hội” (LG 37).

Khiêm nhường con là phục vụ như Chúa phục vụ: Chúa đến để phục vụ chứ không để được phục vụ. Tình thần phục vụ của Đức Kitô chính là quan tâm đến những ngừơi nghèo khó, bệnh tật, nhữg kể yếu đuối tội lỗi. Người phục vụ đến hiến dâng mạng sống mình. Đây là bài học thứ hai của đức khiêm nhường. Ơn gọi của kitô hữu chính là loan báo tin mừng không chỉ bằng lời, nhưng còn bằng chính sự dấn thân trong đời sống bác ái. Như Đức Phaolô VI đã nói: những người đồng thời sẽ sẵn sàng lắng nghe những chứng nhân hơn là những vị thầy; và nếu họ lắng nghe những vị thầy, thì đó là vì những vị thầy này là những chứng nhân. Chứng nhân mà ngừơi thời đại đang mong mỏi đó chính những hành vi phát xuất từ một trai tim yêu thương. Người thời đại đang khao khát một tình yêư trao ban đích thật, bởi xã hội hôm nay chất chứa quá nhiều tham vọng ích kỷ, ngừơi ta có nói đến tình yêu đấy, nhưng cuối cùng tình yêu trở thánh phương tiện để tuyên truyền hầu đạt tới mục đích tư riêng ích kỷ. Ngay trong tình yêu hôn nhân và gia đình cũng đang bị vẩn đục bởi cuộc sống thực dụng và hưởng thụ cho riêng bản thân mình. Đức khiêm nhường mời gọi chúng ta yêu thương nhau như Người đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13,34). Tình yêu đã đưa Đức Ki-tô đến trao hiến thân mình, hy sinh tận cùng trên thập giá. Một tình yêu đòi hỏi phải sẵn sàng phục vụ không tính toán, sẵn sàng đón tiếp người khác dù họ thế nào đi nữa, không "xét đoán" họ (x. Mt 7,1-2), có khả năng tha thứ dù cả tới "bảy mươi lần bảy" (Mt 18,22).

Bài học thứ ba của đức khiêm nhường chính là sự hiệp thông với nhau nhằm xây dựng một cộng đoàn huynh đệ thực sự. Thế nhưng hiệp thông huynh đệ không là một bắt chứơc giống nhau,một rập khuôn theo kiểu đồng phục. Hiệp thông chính là thể hiện tinh thần liên kết trong tình yêu trao tặng. Sự hiệp thông mang lại nhiều sáng kiến có tính xây dựng cho sự duy nhất. Sự hiệp thông không bao giờ bóp chết sáng kiến thể hiện tình yêu. Cho nên một cộng đỏan hiệp thông là một cộng đòan biết lắng nghe ý kiến, biết tỏ bày ý kiến và biết đúc kết ý kiến để thăng tiến cộng đòan. Trong cộng đòan hiệp thông từng thành viên sống không cho mình nhưng cho cộng đòan. Những tự ái, những thiên kiến hẹp hòi, cá nhân chủ nghĩa sẽ bị lọai bỏ, bù vào đó là tấm lòng khoan dung, độ lượng, cảm thông và tôn trọng lẫn nhau. Sự hiệp thông cộng đòan không bao giờ để xuất hiện một quyền lực phục vụ cho ý đồ của cá nhân, nhưng mọi dự tính phải hứơng đến sự thăng tiến và ích lợi của cộng đòan.