CHA HAY CHÚA?



Cha hay Chúa đều được cả, vì người công giáo vẫn gọi Thiên Chúa là Cha và xưng với Người là Chúa. Có điều phải tùy chỗ mà gọi hay xưng với Người cho thuận hợp.

Bình thường đối với Ngôi I trong Ba Ngôi Thiên Chúa, người ta quen gọi và xưng với Người là Cha, đúng với danh xưng của Người là Chúa Cha. Đối với Ngôi II, người ta vẫn gọi và xưng với Người là Chúa : Chúa Giê-su Ki-tô. Còn đối với Ngôi III, rõ rệt và giản dị hơn, bao giờ người ta cũng gọi và xưng với Người là Chúa Thánh Thần. Chỉ có từ Chúa là đôi khi có thể lẫn lộn mà hiểu cả về Chúa Cha lẫn Chúa Con.

Vậy, để phân biệt cho rõ, do thói quen và dường như có một sự thoả thuận ngầm không ai bảo ai, khi nói về Ba Ngôi hay Chúa Ba Ngôi, người ta quen dùng từ Thiên Chúa. Còn riêng về mỗi Ngôi thì như nói ở trên, Cha là Chúa Cha, Chúa là Chúa Giê-su Ki-tô, Thánh Thần là Chúa Thánh Thần.

Huấn thị V, số 51 cũng đề cập đến vấn đề này, khi nói về những hình thức thân thưa với Thiên Chúa mà dùng những từ như Domine, Deus, Omnipotens aeterne Deus, Pater. Số này nói là bản văn gốc dùng nhiều từ khác nhau thì trong bản văn dịch, chừng nào có thể, cũng phải dùng những từ khác nhau cho tương xứng. Ví dụ, trong bản dịch chỉ dùng một từ để dịch các đông từ la tinh khác nhau như “satiari”, “sumere”, “vegetari” và “pasci”, hay những danh từ như “caritas”, “dilectio”, hoặc các từ khác như “anima”, “animus”, “cor”, “mens” và “spiritus”, thì việc lặp lại những từ ấy có thể làm cho bản văn ra nhàm chán và nhạt nhẽo. Cũng vậy, khi dịch những từ xưng hô với Chúa như “Domine”, “Deus”, “Omnipotens aeterne Deus”, “Pater” hay những từ khác bày tỏ sự van nài mà dịch thiếu thì có thể làm lu mờ kiểu nói phong phú và đặc biệt trong bản văn la tinh người ta dùng để nói lên mối liên hệ giữa các tín hữu và Thiên Chúa.

Ceterum varietati vocabulorum in textu originali occurrenti respondeat, quantum fieri potest, varietas, qua, translationes sint praeditae. Exempli gratia, usus ejusdem vocabulari vulgaris, quo variae formae verborum latinorum reddantur, sicut “satiari, “sumere”, “vegetari” et pasci ex una parte, aut nomina “caritas” ac “dilectio” ex altera, aut item vocabula “anima”, “animus”, “cor”, “mens” et spiritus, cum iterantur, textum potest extenuare ac tritum efficere. Item defectus in translatione variorum modorum alloquendi, velut “Domine”, “Deus”, Omnipotens aeterne Deus”, “Pater” et cetera, aut variorum verborum supplicationem exprimentium, potest translationem efficere taediosam atque obscurare modum locuplem ac speciosum, quo in textu latino relatio inter fideles ac Deum significatur.” (LA 51)

Tuy nhiên, đến số 53, Huấn thị lại nói :”Mỗi lần một từ la tinh nào có ý nghĩa quan trọng mà khó chuyển sang ngôn ngữ hiện hành trong thời đại chúng ta (như các từ “munus”, “famulus”, “consubstantialis”, “propitius”, etc.), thì trong bản dịch có thể dùng những kiểu khác, hoặc một từ hay nhiều từ kết hợp, hoặc đặt ra một từ mới có thể là thích hợp, hay chuyển đổi bằng một kiểu viết khác đối chiếu với nguyên bản, (xem số 21 ở trên) hoặc đưa vào một từ đã có nhiều nghĩa.”

Quotiescumque vocabulum aliquod latinum significationem habet gravem, quam difficile est in linguam aetate nostra vigentem reddere (veluti verba “munus”, “famulus”, “consubstantialis”, “propitius”, in translatione adhiberi possunt variae rationes, sive eo quod vocabulum uno verbo sive pluribus conjunctis redditur, sive ut vocabulum novum condatur, fortasse aptatum aut transcriptum diverso scribendi modo, respectu habito textus primogenii (cf supra n.21), sive inducendo vocabulum, quod jam habitur pluribus sensibus praeditum.” (LA 53)

Các từ Pater, Dominus, Deus, thường được dùng trong các kinh Tạ Ơn. Trong các kinh này, các từ ấy khi thì nói với Chúa Cha, khi thì nói với Chúa Giê-su Ki-tô. Để phân biệt các Ngôi trong Ba Ngôi Thiên Chúa, thiết tưởng nên dùng hai từ Cha và Chúa. Khi có từ Cha không thì hiểu về Chúa Cha, khi có từ Chúa không thì hiểu về Chúa Giê-su Ki-tô, dù trong bản văn la tinh dùng chữ Dominus hay Deus, nhưng theo nghĩa thì pphải phân biệt là Chúa Cha hay Chúa Con. Về cách xưng hô với Thiên Chúa, trong bản giải thích của Ban Phụng Tự năm 1992 có đề nghị như sau :

“Trong các kinh tạ Ơn, bản la tinh xưng với Thiên Chúa khi thì “Cha” (Pater), khi thì “Chúa” (Dominus), khi lại “Thiên Chúa” (Deus). Trong một kinh đọc liên tục mà thay đổi cách xưng hô như vậy, kể cũng lạ tai, chẳng khác nào khi nói chuyện, một tín hữu xưng với linh mục khi thì “linh mục”, khi thì lại “cha”. Vì cũng ý thức như vậy mà một số bản dịch Phụng vụ nước ngoài như Ý, Bồ đào nha cũng uyển chuyển trong cách xưng hô này.

Thay đổi cách xưng hô trong một kinh như vậy lại càng chói tai trong tiếng Việt.. Trong tiếng la tinh cũng như trong đa số các tiếng khác (kể cả tiếng Trung Hoa) thì sau khi xưng “Cha” (Pater) chẳng hạn, văn phạm các tiếng ấy chỉ dùng đại từ thay thế hoặc hiểu ngầm. Ví dụ trong knh Tạ Ơn IV, lời Tiền Tụng xưng Pater sancte, nhưng rồi đại từ Tibi, Te thay thế Pater, hoặc et fecisti (danh từ Pater hoặc đại từ Tu được hiểu ngầm hoặc diễn tả trong đuôi động từ). Trong tiếng Việt, chúng ta không thể làm như vậy mà phải nói ra, lặp lại. “Lạy Cha chí thánh, tạ ơn Cha, tôn vinh Cha, Cha là Cha, Cha còn…” Mà nếu trong một kinh, chúng ta nghe “Cha, Cha, Cha” rồi “Chúa, Chúa, Chúa” thì đã có người nói : “Bốn Cha, ba Chúa”. Điều ấy lại càng chói tai, vì nội dung tình cảm của hai từ Cha và Chúa khác nhau : con người đang thưa với Thiên Chúa như con thưa với cha, rồi bỗng nhiên, con người ấy lại thưa với Thiên Chúa như người xa lạ.

Để giải quyết những thắc mắc ấy và dựa theo cách dịch của những Giáo Hội Công Giáo một số nước khác Ủy Ban đề nghị : trong các kinh Tạ Ơn, chúng ta xưng hô với Thiên Chúa là Cha, vì một đôi lý do sau đây :

  • *Khi đọc các lời nguyện, trong thánh lễ cũng như ngoài thánh lễ, chúng ta đã kêu Thiên Chúa là Chúa nhiều rồi.
  • * Hơn nữa, theo tinh thần kinh Lạy Cha sẽ đọc sau kinh Tạ Ơn, danh xưng “Cha” giúp người tín hữu nhớ lại rằng nhờ Chúa Ki-tô, chúng ta được diễm phúc gọi Thiên Chúa là Cha, và rằng cùng Chúa Ki-tô, chúng ta dâng lời nguyện và lễ tế lên Chúa Cha. Sau hết và cụ thể hơn, Thiên Chúa mà chúng ta xưng hô trong các kinh Tạ Ơn là Chúa Cha : nhờ Chúa Ki-tô là Chúa Con, chúng ta cầu xin Chúa Cha đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống để thánh hóa lễ phẩm. Do đó, chúng ta nên nói rõ để mọi người dễ ý thức trong phần quan trọng này của Thánh lễ.” (Chú thích bản dịch Nghi thức Thánh lễ 1992 của Ủy Ban Phụng Tự trang 88-89)
Như vậy, gọi hay xưng hô với Thiên Chúa là Cha hay Chúa đều được cả. Có điều, như đã nói ở trên, là nên phân biệt (như trong các kinh Tạ Ơn chẳng hạn), để việc xưng hô với từng Ngôi Vị được rõ ràng và do đấy, biểu lộ được mức độ tình cảm và lòng trọng kính phải có trong mỗi trường hợp.