Gia-ia = Thiên Chúa chiếu sáng và Thiên Chúa kêu dậy
21 Đức Giê-su xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ.22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người,23 và khẩn khoản nài xin: "Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống."24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.
25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm,26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác.27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người.28 Vì bà tự nhủ: "Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu."29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi? "31 Các môn đệ thưa: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: „Ai đã sờ vào tôi? "32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó.33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.34 Người nói với bà ta: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."
35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? "36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi."37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an.38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ.39 Người bước vào nhà và bảo họ: "Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy! "40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.41 Người cầm lấy tay nó và nói: "Ta-li-tha kum", nghĩa là: "Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi! "42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ.43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn. (Mc 5, 21-43)
........................................................................
• Vài hàng sơ lược
- Bài phúc âm này kể về hai phép lạ trong bốn phép lạ lớn mà Đức Giêsu làm, sau khi Ngài đã giảng dạy dân chúng với những dụ ngôn trong chương 4. Phép lạ đầu là phép lạ làm cho gió tắt và biển lặng (Mc 4, 35-41), sau đó là phép lạ bắt thần ô uế xuất khỏi người bị ám (Mc 5, 1-20)
- Bài phúc âm có thể chia làm 3 phần: (1) Ông Gia-ia xin Chúa Giêsu giúp đỡ (35-24); (2) Chúa Giêsu chữa lành bà bị bệnh băng huyết 12 năm (25-34) và (3) Chúa Giêsu cứu sống con gái của ông Gia-ia (35-41) Trong ba phần này Mác-cô kể cho chúng ta nghe về 2 câu chuyện. Vì thế, mà ở đoạn này có thể tách ra làm hai câu chuyện rõ ràng, nhưng theo các nhà chú giải thì khi tách ra như vậy, sẽ mất đi vẻ đặc biệt của nó. Vì vậy, nên đọc cả hai câu chuyện một lúc. Vậy vẻ đặc biệt của hai câu chuyện được nối kết với nhau là gì?
- Vẻ đặc biệt của hai câu chuyện là sự thống nhất qua hai nhân vật nữ được Giêsu chữa lành. Đó là em bé gái 12 tuổi, con của Gia-ia và người phụ nữ bị bệnh băng huyết. Cả hai người nữ đều đang bị tử thần „gõ cửa nhà“. Cả hai một cách nào đó đều „đụng“ vào Giêsu. Người phụ nữ bị băng huyết thì chủ ý đụng, còn em gái 12 tuổi thì được Giêsu cầm lấy tay và nâng dậy. Ngoài ra, trong cả hai câu chuyện đều nhấn mạnh đến niềm tin. Đó là chủ đề chính yếu. Người phụ nữ bị bệnh băng huyết trở thành người kiểu mẫu về niềm tin cho những người có chức vị trong đền thờ Do-thái, cũng giống như người đại đội trưởng tin vào Đức Kitô: „"Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Ít-ra-en nào có lòng tin như thế.“(Mt 8,10) Ngoài ra một điểm khác mà Adolf Pohl cũng đề cập đến đó là việc Giêsu chữa lành cho cả hai. Giêsu không vì người phụ nữ mà bỏ mặc em bé gái 12 tuổi, và ngược lại cũng thế. Qua việc làm của Giêsu, Ngài đã làm cho giao ước cũ được hoàn tất, nghĩa là Ngài hơn cả Ê-li-a và Ê-li-schê, cầm tay em bé „đã chết“ và nâng em chỗi dậy. (ss. 1V 17, 17tt; 2V 4, 32tt)
• Suy niệm
„21 Đức Giê-su xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ.“
Giêsu trở lại với dân của Ngài, về lại với nơi quen thuộc trong vùng Ca-phá-na-um, mà Ngài thường giảng dạy. Theo Eduard Schweizer thì Giêsu xuống thuyền nơi nào và khi nào, đối với Mác-cô không quan trọng. Điều chính yếu là Giêsu lại trở về bên bờ hồ và dân chúng đông đúc tụ tập quanh Ngài như những lần trước đây (x. Mc 2, 13; 3, 7; 4,35)
„22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người“
Mỗi một hội đường có một người trưởng hội đường. Trong miền Ca-pha-na-um có nhiều hội đường, nên ở đây là một trong số nhiều trưởng hội đường. Công việc ông là gì? Điều khiển các buổi lễ nghi phụng vụ, phân chia trách nhiệm trong buổi lễ. Ông cũng là người chịu trách nhiệm xây dựng và cai quản hội đường. Bình thường, người trưởng hội đường là người giáo dân xuất thân từ gia đình giàu có, giữ lề luật nghiêm ngặt và được mọi người tín nhiệm. Về sự giàu có của ông, có thể nhận ra qua hình ảnh nhiều người hầu (câu 35) và nhà cửa với sân bên trong (câu 38 và 39). Ghế trưởng hội đường có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một gia đình.
Tên của ông trưởng hội đường ở đây được Mác-cô nhắc đến: Gia-ia. Vâng, Mác-cô vẫn thường thích những chi tiết. Gia-ia, tên theo tiếng Hy-lạp, có gốc rễ trong tiếng Do-thái là Jair, như trong Dân Số 32, 41: „Ông Gia-ia, con ông Mơ-na-se, đi chiếm các trại của họ và đặt tên là trại của Gia-ia“ (ss. thêm trong sách Thủ lãnh 10, 3). Theo Paul Billerbeck thì tên Jair trong tiếng Do-thái cổ có nghĩa là “Thiên Chúa chiếu sáng”. Theo Rudolf Pesch thì Jair trong tiếng Do-thái cũng còn có thể hiểu theo nghĩa: „Thiên Chúa sẽ kêu dậy“. Ngoài ra, theo một hình thức trong tiếng Do-thái vẫn còn sử dụng, theo Eduard Schweizer và R.Pesch có nghĩa là „lời hứa“. Như vậy, tên của cha em gái mang một ý nghĩa thật đặc biệt trong câu chuyện. Có lẽ chúng ta cần chú ý đến các ý nghĩa này, khi đọc và chiêm ngắm phép lạ mà Giêsu làm ở đây.
Thái độ sụp xuống dưới chân Giêsu của ông Gia-ia nói lên tính cách cấp thiết của lời kêu xin. Bên cạnh đó thái độ này cũng nói lên lòng kính trọng và việc công nhận Giêsu.
„23 và khẩn khoản nài xin: Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.“
Sau thái độ sụp xuống là lời khẩn khoản nài xin. Nhưng điều này có ý nghĩa gì vậy? Tại sao ông ta lại khẩn khoản nài xin? Ông ta đang ở trong hoàn cảnh nào? Theo Adolf Pohl thì nếu xét một cách gắt gao trong cái nhìn của người Do-thái, thì cái chết của đứa con không chỉ là sự mất mát của cha mẹ, mà hơn nữa đó còn là hình phạt giành cho cha mẹ. Giờ đây điều này xảy ra với một trưởng hội đường. Đặt mình vào trong vị trí của ông, chúng ta có thể tự hỏi rằng: „Tôi, một trưởng hội đường, đang bị phạt gì vậy?“ Điều này thực là một sự lo lắng lớn đối với ông. Hơn nữa, ông ta đâu có quen tự hỏi mình như vậy.
Ngoài ra, nếu con của ông thực sự chết đi, thì tình phụ tử của ông sẽ „chết“ theo, vì đó là con gái duy nhất của ông, như được nói rõ trong Lc 8,42: „vì ông có một đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi, mà nó lại sắp chết.“ Thêm vào đó, chức vụ tôn giáo của ông cũng bị lung lay. Và người ta sẽ coi ông là người bị Gia-vê Thiên Chúa phạt. Như vậy thì thật là thê thảm! Ông trưởng hội đường thực sự đang đứng trước một tai họa lớn. Nên lời ông xin thật sự là khẩn khoản: „Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.“
Việc đặt tay có ý nghĩa truyền sức mạnh chữa lành trong các phép lạ (x.6,5; 7,32; 8,23.25; 16,18). Eduard Schweizer chú ý một điều, là theo Mác-cô thì việc đụng vào hay đặt tay trong các phép lạ là điều quan trọng (x. Mc 5, 30-34)
"24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.“
Trước lời xin khẩn khoản, Giêsu lập tức đi với ông trưởng hội đường. Ở đây có hai điều cần chú ý. Thứ nhất là thái độ không chần chừ của Giêsu. Thứ hai là hai từ „đi với“. Bình thường thì hai từ này chỉ các môn đệ hay dân chúng đi theo và ở với Giêsu (x. Mc 3,14; 4, 36; 5, 18.40; 14,18.20). Còn ở đây thì Giêsu „đi với“ ông trưởng hội đường. Điều này có ý nghĩa gì vậy? Với thái độ không chần chừ trên và với việc Giêsu „đi với“, chúng ta nhận ra rằng, Giêsu biểu lộ tinh thần đoàn kết với ông trưởng hội đường. Giêsu đứng về phía những anh chị em đang gặp tai họa, và Ngài không chần chừ sẵn sàng lên đường đi với những người đau khổ. Đây là một hình ảnh thật tuyệt vời. Thực, Thiên Chúa vẫn chiếu sáng (ý nghĩa tên Jair – Gia-ia)
Có lẽ chúng ta dừng bước nơi đây và nhìn lại cuộc đời mình một chút: „Trong những biến cố hay sự kiện nào trong đời, chúng ta cảm thấy rõ ràng Giêsu đi với chúng ta và Ngài chiếu sáng vào cuộc đời tăm tối của chúng ta?“ „Thái độ không chần chừ và đoàn kết của Ngài giành cho chúng ta có ý nghĩa gì vậy?“ „Giêsu là ai trong những biến cố và sự kiện đó?“
„25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm „
Trên đường đến nhà Gia-ia, có rất nhiều nguời đi theo Giêsu và họ chen lấn Người. Và vì thế xảy ra một sự kiện mới ở trên đường. Đó là trường hợp một người phụ nữ „bị băng huyết đã mười hai năm“ Ở đây, tên của người phụ nữ không được nhắc đến. Theo Adolf Pohl và Eduard Schweizer, thì sau đó người ta đã xác định bà có thể tên là Be-rê-ni-cê, hay Vê-rô-ni-ca, đến từ miền Cê-sa-rê Phi-lip-phê.
Về chi tiết bệnh băng huyết của người phụ nữ, Mác-cô không nói rõ. Các nhà chú giải giả thiết, có thể là vì kinh nguyệt rối loạn và chảy máu thương xuyên, có thể vì chứng chảy máu kinh niên trong tử cung. Chứng băng huyết chảy máu này là một chứng bệnh mà người Do-thái rất sợ, vì nó làm ô uế. Vâng, không chỉ người đó bị ô uế, mà cả giường bà nằm, mọi đồ vật bà ngồi lên và bất cứ ai đụng vào những thứ đó cũng bị ô uế, như trong sách Lê-vi nhắc tới: „Khi một người đàn bà bị rong huyết trong vòng nhiều ngày, ngoài thời kỳ kinh nguyệt, hoặc rong huyết quá thời kỳ kinh nguyệt, thì sự ô uế sẽ kéo dài suốt thời gian bị rong huyết; nó sẽ ra ô uế như trong thời gian có kinh. Mọi giường nó nằm trong suốt thời gian rong huyết, sẽ ra ô uế như cái giường trong thời gian nó có kinh; mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế, như bị ô uế trong thời gian nó có kinh. Bất cứ ai đụng vào những thứ đó, sẽ ra ô uế; nó sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.“ (15, 25-27)
Giống như người bị phong hủi, 12 năm trời bị ô uế là 12 năm người phụ nữ không được phép ôm người thân yêu vào lòng, là 12 năm người phụ nữ không được phép bước vào hội đường để thờ lạy Gia-vê. Bà sống đấy nhưng như là không có mặt. Xã hội sợ sệt bà và loại bà ra ngoài. Thê thảm quá! Thê thảm hơn, nếu bà tự hỏi rằng: „Tại sao Gia-vê Thiên Chúa chống lại tôi? Tôi đã phạm tội gì để đến nông nỗi này?“ „Thiên Chúa đâu rồi? Ngài có còn chiếu sáng không? Ngài có còn là Ngài nữa hay không?“
„26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác.“
Trong câu này có ba phần: (1) đến với nhiều thầy thuốc, (2) tán gia bại sản, (3) bệnh tình vẫn không giảm mà còn nặng thêm. Ba phần này diễn tả hoàn cảnh đau thương của người phụ nữ. Vào xã hội thời đó ở Do-thái, chỉ có người giàu có mới có thể đi „thăm“ thầy thuốc, vì tốn phí nhiều. Vì vậy mà người phụ nữ nhắc ở đây là người giàu có. Nhưng bệnh tật của bà đã làm cho bà tán gia bại sản và trở nên nghèo nàn. Khi thầy thuốc bó tay, và bà đã trở nên thật khốn quẫn, thì bà đi tìm Giêsu và hy vọng vào Ngài. Có lẽ bà đã nghe danh tiếng về Ngài không chỉ là người giảng dạy bình thường, mà có nhiều quyền năng (ss. Mc 6, 2)
„27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. 28 Vì bà tự nhủ: "Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.“
Đúng vậy, tiếng đồn lành lan xa, người người đổ về để tìm người tốt lành kia, đến nỗi người phụ nữ ô uế, lẽ ra phải xa tránh mọi người, cũng quyết tâm chen lấn cho được để có thể đến với Giêsu. Vâng, thái độ „tiến đến phía sau“ của bà nói lên sự mặc cảm và xấu hổ của bà về thân phận ô uế của mình. Nhưng không sao, cứ đến! Thiên Chúa chắc là không gạt bỏ những ai đang bị ô uế đâu. Hơn nữa, ai càng ô uế, thì Thiên Chúa lại càng thích gần gũi nữa à! Lấy hết can đảm, bà chen và chen với một niềm ước ao thật là khiêm tốn, làm sao sờ được vào áo của Người mà thôi. Thế cũng là đủ cho bà rồi. 12 năm trời bà đã để cho biết bao thầy thuốc sờ tới bà, nhưng chẳng ai có thể chữa lành cho bà cả. Giờ đây bà chỉ muốn sờ vào áo của Giêsu thôi. Bao nhiêu đó là đủ cho bà rồi: „"Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.“ Lạ thật! Một ước ao lạ lùng! Một ước ao khiêm tốn nhưng tương hợp với một niềm tin thật mạnh mẽ. Nhưng mới nghe sao đã tin rồi? Vâng, niềm tin đến qua nhiều ngõ ngách lắm. Ở đây, niềm tin đã đến với bà qua những gì bà đã lắng nghe về Giêsu. Vâng, niềm tin cũng đến từ sự lắng nghe nữa, như thánh Phao-lô đã nói: „Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô.“ (Rm 10,17) Hơn nữa, niềm tin của bà vào Giêsu không có gì có thể cản trở được. Sự ô uế trong chính bà cũng không thể cản trở bà đụng đến vạt áo của Giêsu. Sự xấu hổ và sợ hãi không làm bà „chết chân“ một chỗ được. Niềm tin đã giải thoát tất cả. Sợ hãi, xấu hổ và ngại ngùng không có chỗ trong căn nhà của niềm tin. Niềm tin của Bà đã được Giêsu nhận ra rõ ràng trong câu 34. Giờ đây, trở về lại với bối cảnh của câu chuyện, để xem việc bà sờ áo có giúp bà điều gì không?
„29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.“
Điều ước ao của bà đã trở thành hiện thực. 12 năm trời chờ mong. 12 năm trời đau khổ trong tủi nhục. 12 năm trời tiền mất mà tật vẫn mang. Giây phút này xóa đi tất cả. Giây phút này bà như trở thành con người mới. Con người bình thường với dòng máu chảy điều độ, có chu kỳ hẳn hoi. Giòng máu kia giờ đây phải vâng lời để trở về lại với trật tự. Thật tuyệt vời! Đúng là Thiên Chúa đã chiếu sáng rồi (ý nghĩa của tên Jair, Gia-ia).
„30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi?"
„Giêsu thấy năng lực tự nơi mình phát ra“. Như vậy năng lực đã truyền qua người phụ nữ bị bệnh, khi bà ta sờ vào áo của Giêsu. Năng lực này phát xuất từ quyền năng mà Giêsu có để chữa bệnh như Luca đã nói: „Quyền năng Chúa ở với Người, khiến Người chữa lành các bệnh tật.“ (5,17b) và vì vậy: „Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.“ (6, 19) Về hình ảnh năng lực được truyền từ người chữa bệnh sang người bị bệnh qua việc sờ và đụng chạm, kể cả đụng tới quần áo hay khăn cà áo, trong thời cổ đại và thời của Chúa Giêsu cũng được nhắc tới, như trong tông đồ công vụ 19,11-12: „Thiên Chúa dùng tay ông Phao-lô mà làm những phép lạ phi thường, đến nỗi người ta lấy cả khăn cả áo đã chạm đến da thịt ông mà đặt trên người bệnh, và bệnh tật biến đi, tà thần cũng phải xuất.„ Không chỉ thế, cả bóng người thầy thuốc cũng có thể giúp chữa bệnh: „Người ta còn khiêng cả những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phê-rô đi qua, ít ra cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó“ (Tđcv 5,15) Việc truyền năng lực qua người ta có thể mường tượng như việc lây nhiễm bệnh tật.
Sau đó, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi?" Người đàn bà lén lút kia, cần được mọi người nhận ra. Sự ô uế bắt người ta phải trốn chạy, nhưng việc chữa lành và giải thoát khỏi sự ô uế phải được công bố rõ ràng giữa ban ngày, để ai ai cũng nhận ra. Có lẽ để cho tất cả công nhận sự khỏi bệnh của người phụ nữ và đón nhận bà trở về lại với đời sống xã hội, đời sống cộng đoàn, để bà có thể can đảm phá tan sự mặc cảm bà có trước mọi người từ 12 năm qua. Ngoài ra, việc bà được chữa lành cũng là dấu hiệu về vinh quang của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa chiếu sáng vinh quang ngay tại nơi mà con ngươi chê bai, nơi mà con người đang tủi nhục khổ đau.
Vì thế, thái độ quay lại của Giêsu là thái độ như muốn đi tìm người phụ nữ đau khổ tủi nhục kia, và cứu bà thoát ra khỏi bóng đêm đã bao phủ bà từ hơn mười năm qua. Bóng đêm dù đen đến mấy nhưng không bao giờ phủ lấp được Ánh Sáng. Thiên Chúa vẫn chiếu soi, chiếu soi không chỉ đàng trước, mà Thiên Chúa còn quay lại để chiếu soi cả đàng sau nữa. Vâng, đúng như thánh Gioan nói trong 1, 5: „Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.“
"Ai đã sờ vào áo tôi?" Câu hỏi của Đức Kitô có tính cách thật cương quyết. Ngài quyết tìm cho ra người đã đụng vào Ngài, dù người đó có lén lút sờ, có mắc cở vì bị ô uế không dám công khai xin Ngài. Vâng, dù người đó có bị bóng đêm của cuộc đời đang chế ngự và giới hạn. Nước Thiên Chúa đã đến gần và tình yêu của Thiên Chúa đang tuôn tràn qua Giêsu đến với tất cả mọi người, vì vậy không cần phải lấp lé và lén lút nữa. Trước Ánh Sáng dịu dàng không làm chói chang đời người, con người yếu đuối và bệnh hoạn cần phải bước ra để hưởng Ánh Sáng tình yêu này.
„31 Các môn đệ thưa: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: „Ai đã sờ vào tôi?"
Phản ứng và câu hỏi của các môn đệ thật là nông cạn. Adolf Pohl đã có tư tưởng rất hay: „Trong khi Giêsu đang nói về sự đụng chạm của niềm tin và của sự sống, thì các môn đệ lại nghĩ về sự sờ mó đụng chạm đến một tấm vải.“ Đụng vào áo thì có gì quan trọng để mà nói. Nhiều lắm là áo dơ một chút, hay hơn nữa thì có thể áo phai màu hay toạc một đường. Nhưng ở đây đụng vào niềm tin và vào sự sống sẽ làm cho sự sống đang phai màu được nhuộm lại, hay nói đúng hơn được đổi mới hoàn toàn. Đụng vào niềm tin, thì niềm tin dù có bị đêm đen bao phủ từ 12 năm qua, nhưng vẫn không thể bị tiêu diệt. Vâng, bóng tối không diệt được Ánh Sáng, thì bóng tối không diệt được niềm tin.
32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó.
Chẳng màng chi đến thái độ và câu trả lời của các môn đệ, Giêsu ngó quanh, và Mác-cô nói rất rõ: „để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó“. Nghĩa là Giêsu biết rõ ai đã đụng tới Ngài. Phải chăng đúng như lời của Gioan đã nói về người mục tử nhân lành: „Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi“ (10, 14b) Giờ đây câu chuyện đạt tới đỉnh cao của nó:
„33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.“
Năng lực đã truyền qua bà và chữa bệnh cho bà, vì niềm tin của bà, giờ đây thúc đẩy khuyến khích bà can đảm lên, để nói ra sự thật, để thú thật với Giêsu là bà đã đụng vào Ngài. Như vậy, chính người phụ nữ được chữa lành này cũng sẽ là chứng tá và lời ca ngợi về phép lạ của Giêsu.
Nhưng trước hết, bà sợ hãi phát run lên. Hai tình trạng sợ hãi và phát run lên ở đây thuộc về kinh nghiệm của nhiều người gặp gỡ Thiên Chúa sống động, và được Ngài nâng đỡ và giải thoát. Điều này rất thường gặo trong Kinh Thánh (ss. St 9,2; Xh 15,16; Đnl 2,25; Tv 2, 11; 1Cor 2,3; 2 Kor 7,15; Pl 2,12; Ep6,5)
Sau đó bà phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Thái độ này có nhiều ý nghĩa. Có thể bà muốn thú nhận Giêsu, là bà đã lỗi đến luật thanh sạch, đụng vào Giêsu. (Về luật thanh sạch xin coi Lêvi 12-15). Tuy nhiên, cách giải thích này theo R.Pesch có phần đúng, nhưng không thuyết phục. Cách giải thích khác có lẽ xác quyết hơn, khi dựa vào niềm tin mạnh mẽ của bà trong câu 28: „"Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.“ Vâng, niềm tin của bà vào Giêsu đã thúc đẩy bà sờ vào Giêsu, dù sờ lén lút. Và bà tin rằng, Giêsu sẽ giải thoát bà khỏi bệnh tật làm bà đau khổ nhục nhã, mà Giêsu vẫn không bị ô uế, không bị tổn thương gì cả. Như vậy, niềm tin của bà ở đây không phải là sự tin tưởng vào phép màu, không phải là thứ mê tín dị đoan, mà là niềm tin mạnh mẽ với sự ý thức rõ ràng, niềm tin này vượt qua hàng rào mà con người dựng lên, hay chướng ngại cản trở con người. Vâng, một niềm tin xuyên suốt qua mái nhà để đưa người bất toại đến với Giêsu (ss. Mc 2, 3-5), một niềm tin lớn hơn cả lời trách mắng lớn tiếng của người khác, để rồi anh mù Bác-ti-mê được Giêsu nghe đến tiếng kêu gào của anh (ss. Mc 10, 46-52)
Trước niềm tin lớn lao này và lòng can đảm thú nhận về sự thật của bà, Giêsu lên tiếng:
„34 Người nói với bà ta: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."
Lời nói của Giêsu thật tuyệt vời! Chẳng một lời trách cứ về thái độ lén lút của bà, mà ngược lại, khi nghe bà thú nhận, thì Giêsu đã gọi bà: „này con“. Dịch sát hơn nữa sẽ nói: „quga,thr - này con gái“ Một lời thật trìu mến và tin tưởng, như có lần Giêsu cũng đã gọi người bại liệt, trước khi ra tay chữa lành cho anh: „này con,“ (ss. Mc 2,5). Vâng, đây không phải là một lời an ủi rỗng tuếch của một chủ chăn, mà là lời thân thương làm nảy sinh tương quan thật gần gũi giữa Giêsu và bà. Phải chăng qua niềm tin của ba, Giêsu đã nhìn bà như là người con gái yêu dấu của Thiên Chúa? Đúng là vậy! Hơn nữa, niềm tin của bà đã thúc đẩy Giêsu phải lên tiếng. Và tiếng nói thân thương của Giêsu đã đón nhận bà vào trong gia đình của Ngài.
Như vậy, niềm tin của người phụ nữ ở đây là một điều thật quan trọng cho việc bà được chữa lành. Có thể nói đó là niềm tin có sức chữa lành được Giêsu xác nhận, như có lần Giêsu nói với anh mù Bác-ti-mê: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh! " (Mc 10, 52) và với người phụ nữ của chúng ta cũng vậy: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.“
Ở đây, theo Adolf Pohl thì câu nói „lòng tin của con đã cứu chữa con“ cũng là câu nói: „Giêsu đã cứu chữa con“, vì niềm tin của người phụ nữ kia hướng về Giêsu, Đấng Cứu Độ, Đấng không bao giờ để cho những kẻ tin phải gục ngã hoàn toàn, Đấng không bao giờ để cho người tin phải chết thê thảm trong bóng đêm u tối. Vâng, Giêsu là Đấng Cứu Độ, Thiên Chúa luôn chiếu sáng (ý nghĩa tên Jair – Gia-ia)
Ngoài ra, niềm tin luôn được Giêsu khiêu khích, vực dậy và xác nhận. Trong phúc âm nhất lãm, theo R. Pesch thì niềm tin của người được chữa lành luôn gắn liền với Giêsu. Và trong Tân Ước thì niềm tin là một thái độ nội tại sẵn có của người bệnh liên quan đến phép lạ xảy ra. Vâng, tin vào Đấng có thể làm người câm nói được, người mù thấy được và người điếc nghe được (x. Mc 7,37)
Ngoài ra, lời của Giêsu không làm cho phép lạ và niềm tin nghịch lý với nhau, mà hơn nữa đưa suy nghĩ về sự kỳ lạ vào trong niềm tin. Giêsu đã „giải thoát“ khả năng làm phép mầu của con người, bằng cách Ngài đã gắn chặt khả năng này vào trong quyền năng của Thiên Chúa.
Cuối cùng, Giêsu nói với người phụ nữ: „Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."
Lời chào của Giêsu trước hết là là lời chào tạm biệt bình thường mang tính cách Do-thái. Theo Adolf Pohl thì lời chào Schalom của Giêsu không chỉ là lời chào tạm biệt bình thường. Qua lời chào này, người phụ nữ đã đón nhận một điều thật giá trị. Đó là sự chở che của Thiên Chúa cho cả cuộc sống của bà, dù bà có đi đâu chăng nữa. Lời chào Schalom này chính là món quà quý báu đến từ niềm tin. Ngoài ra, Schalom ở đây có ý nghĩa là người phụ nữ của chúng ta giờ đây đã được khỏi và có thể sống dồi dào. Vâng, khỏi hẳn bệnh thực sự rồi. Adolf Pohl giải thích thêm rằng, „khỏi hẳn bệnh“ có nghĩa là được khỏe lại và khỏe mãi mãi! Thiên Chúa không phải là một người thất thường. Nỗi nhục nhã và đau khổ đã dứt khoát biến mất và ân sủng đã xuất hiện rồi. Bóng đêm đã lùi bước và Thiên Chúa đã chiếu sáng rồi.
Đó là câu chuyện giữa đường của Giêsu với người phụ nữ. Giờ đây khi người phụ nữ đã khỏi bệnh và ra đi bình an, chúng ta lại tiếp tục theo bước Giêsu. Nhưng trước khi đi tiếp với Giêsu, chúng ta cũng có thể nói với nhau rằng. Mục đích chính của Giêsu là lên đường đi chữa bệnh cho con gái ông trưởng hội đường. Giữa đường Ngài lại dừng lại và tốn nhiều thời gian cho người phụ nữ kia. Không biết cô con gái của ông trưởng hội đường có còn sống nữa không, hay đã chết rồi? Hơn nữa, sau khi Giêsu đã để cho người phụ nữ bị băng huyết kia đụng vào, thì chính Ngài cũng đã trở nên ô uế. Vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là, ông trưởng hội đường có để Giêsu vào nhà mình nữa không?
„35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? "
Câu chuyện được kể tiếp với sự xuất hiện của mấy người làm của ông trưởng hội đường. Họ nói với ông: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? " Câu nói có tính cách nghi ngờ dè dặt. Tử thần đã tới „thăm“ thật rồi. Bây giờ lại làm phiền Giêsu nữa sao? Gia-ia, có nghĩa là Thiên Chúa chiếu sáng và ý nghĩa thứ hai là Thiên Chúa kêu dậy, có còn hy vọng vào Ánh Sáng sẽ đến từ Thiên Chúa, vào bàn tay nhân từ nâng dậy của Thiên Chúa nữa không? Thực tình nếu đặt mình trong hoàn cảnh của Gia-ia, có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận được cái hố sâu thăm thẳm, thật cô đơn và buồn tủi biết bao, mà ông vừa rơi xuống, sau khi nghe những lời của người nhà ông.
„36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi."
Có lẽ thấu hiểu được nỗi đau và cô đơn của ông trưởng hội đường, nên không để ông ta trả lời hay tỏ thái độ nào trước những lời vừa qua, Giêsu đã lên tiếng. Lại một lời an ủi thật trìu mến của vị Mục Tử nhân lành, chứ không phải lời an ủi rỗng tuếch. Vâng, Giêsu đã nghe được lời mang tính cách quá nghi ngờ và dè dặt. Lời mang hình bóng của sự chết. Nhưng Giêsu đâu có chấp nhận lời đó. Với Giêsu sự chết không phải là chữ cuối cùng của cuộc sống nhân loại. Vì vậy, mà Giêsu đã đặt hai chữ „tin tưởng“ đối diện với hai chữ „sự chết“. Và Ngài đã nói lời thật ủi an: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi." Lời an ủi này mang tính cách hiện diện của Giêsu, một Thiên Chúa sống động: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! " (Mc 6,50)
Nhưng phải hiểu thế nào nữa lời của Giêsu: „Đừng sợ, chỉ cần tin thôi“ ?
„Đừng sợ“ thường được Giêsu nhắc đến, và ở đây được đặt chung với lời kêu gọi tin tưởng. Hai từ „tin tưởng“, theo Adolf Pohl trong tiếng Do-thái có nghĩa là tìm được sự kiên tâm, tự cột chặt lại, tự đi vào trong thinh lặng, bình tâm. Trái ngược với các ý nghĩa này là run rẩy, sợ hãi và bất an.
Như vậy, khi tin tưởng là người ta trở nên thinh lặng và bình tâm trước Thiên Chúa với tấm lòng yêu thương sẵn sàng giúp đỡ của Ngài.
Nhưng đối diện với niềm tin là sức mạnh của sự thất vọng. Sức mạnh này có thể làm chao đao niềm tin, làm cho người ta phải đứng giữa niềm hy vọng và sự nghi ngờ. Đó là trường hợp của Gia-ia và như trường hợp của một người cha khác đã cầu nguyện rằng: "Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi! " (Mc 9,24)
Theo R. Pesch thì ông trưởng hội đường trong hoàn cảnh này, dù nghe tin con mình đã chết, nhưng cần phải tiếp tục kiên tâm, đừng bao giờ bán tín bán nghi, đừng để niềm tin của mình vào Đấng có thể làm phép lạ bị lung lay. Niềm tin lại đứng trước thử thách rồi. Nhưng dù sao, thì Gia-ia cần tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa, lời hứa hợp với chính tên của ông: „Thiên Chúa chiếu sáng, Thiên Chúa kêu dậy.“
Hơn nữa, Giêsu cũng thấu hiểu được niềm tin yếu đuối dễ lung lay của con người, nên Ngài đã lên tiếng, và ở đây Giêsu đã dẫn Gia-ia đến với một niềm tin trọn hảo, như người phụ nữ bị bệnh trong câu chuyện trên. Vâng, Giêsu dẫn ông tới tâm tình „chỉ cần Tin“ vào Thiên Chúa duy nhất. Gia-ai cần tin vào Thiên Chúa, và chỉ Thiên Chúa này mà thôi. Khi tin tưởng như vậy thì mọi sự đều có thể xảy ra: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được." (Mc 10,27)
„37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an.“
Chỉ có các ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an được theo Giêsu để chứng kiến việc Ngài chuẩn bị làm. Ba ông này là những môn đệ đầu tiên của Giêsu. Ba ông đã chứng kiến những phép lạ đầu tiên Giêsu làm theo Mác-cô (x. 1, 21-31). Ba ông cũng là những người đầu tiên được nêu tên trong danh sách 12 tông đồ (x. 3, 16tt). Rồi trong biến cố Giêsu biến hình, ba ông cũng được Giêsu cho chứng kiến (x. 9,2). Khi Giêsu đứng trước thử thách và Ngài đi cầu nguyện trong vười Giệt-si-ma-ni, thì ba ông này cũng được chọn để theo Giêsu (x. 14,33). Hầu như sau mỗi lần như vậy, các ông đều đụng tới câu hỏi: „Giêsu là ai vậy?“. Vâng, các ông chính là những người được mạc khải về căn tính của Giêsu, và các ông cũng có trách nhiệm làm chứng cho Giêsu sau này.
„38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ.“
Hình ảnh người ta khóc lóc và kêu la ầm ĩ ở đây diễn tả tình trạng đau thương tang tóc trong gia đình. Điều này chứng mình cho cái chết thực sự của em bé gái, và cũng phá tan đi suy nghĩ là em bé chết giả mà thôi. Nhưng đó là cái nhìn của con người, còn Giêsu nhìn như thế nào và Ngài phản ứng sao trước hoàn cảnh tang tóc kia?
„39 Người bước vào nhà và bảo họ: "Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy! "
Giêsu đã coi sự khóc lóc kêu la ầm ĩ là không hợp trong lúc này. Như hoàn cảnh đau thương tăng dần lên (x. Câu 23 và 35) thì hai lần Giêsu kêu gọi phải có lòng tin (câu 36 và gián tiếp ở đây câu 39). Tuy nhiên, lời nói của Giêsu trong câu này thật khó mà giải thích, vì dựa theo câu 35, 38 và sau đó là câu 40, thì đứa bé gái thực sự đã chết, chứ không phải chết giả hay là ngủ. Như vậy phải hiểu làm sao câu nói của Giêsu: „Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy! " Theo R.Pesch thì câu nói của Giêsu trước hết mang tính cách tượng hình. Từ ngữ „kaqeu,dw – ngủ„ cũng là cách diễn tả đẹp của sự chết. (ss. 1 Tx 5,10). Và khi diễn tả như vậy, thì thường có ý hướng làm mất đi sự sợ hãi trước cái chết, và hướng về thế giới tốt đẹp bên kia. Như vậy, ở đây sự chết được coi như là bước chuyển tiếp, là giấc ngủ của sự Phục Sinh.
Điều này diễn tả cách giải thích thứ hai. Đó là tính cách cánh chung (eschatologie) trong câu nói của Giêsu. Từ khi Giêsu xuất hiện thì cái chết đã thực sự bị tận diệt. Trong cái chết của em bé gái, Giêsu đã cảm nhận một sự sống mới được chính Ngài kêu gọi. Và chỉ khi Giêsu có thể kêu em bé đã chết dậy, thì ở đây giấc ngủ kia đúng thực là giấc ngủ để hướng về sự „mạnh khỏe hoàn toàn và mãi mãi“. Vâng, trước cái chết của em bé gái, Giêsu đã chối từ quyền lực của sự chết. Và trong lời nói của Ngài đã diễn tả thật hùng hồn về một Thiên Chúa mà Mác-cô nhắc đến trong 12, 26b-27: „Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to! " Thêm vào đó, Balthasar giúp chúng ta nhận ra được ở nơi Giêsu có một năng lực không chỉ chữa lành người phụ nữ, mà năng lực đó chính là sự sống thực sự, như Giêsu có lần thốt lên rằng: „Đức Giê-su liền phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống“ (Ga 11, 25) và "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.“ (Ga 14, 6)
„40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.“
Họ cười chế nhạo Giêsu. Sao lại có thể cười cợt và chế nhạo trong đám tang. Điều này nói về sự nông cạn của đám đông trong việc tang tóc. Nhưng sự nông cạn hời hợt của đám đông trong đám tang không phải là trung tâm điểm cần chú ý. Trong Lc 85, 53 nói rõ rằng: „Họ chế nhạo Người, vì biết nó đã chết.“ Như vậy, họ chỉ biết đứa bé chết, nhưng họ đâu biết đến Giêsu và quyền năng của Ngài. Họ đâu biết đến Thiên Chúa là Chúa của sự sống. Tiếng cười chế nhạo của họ cũng chính là tiếng cười của người không tin. Vâng, như tiếng cười của Xa-ra ngày xưa. (ss. St 18,12-15)
Vì vậy mà Giêsu đã bắt họ ra ngoài hết. Chỉ có năm người được Giêsu cho phép đi vào chỗ em bé đang nằm. Đó là ba môn đệ nhắc ở trên, cha của em bé, người có niềm tin đi xin Giêsu chữa lành cho con mình, và mẹ em, người cùng đi với chồng trên con đường của niềm tin.
„41 Người cầm lấy tay nó và nói: "Ta-li-tha kum", nghĩa là: "Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi! "
Đúng như ý nghĩa tên của cha em (Gia-ia), Giêsu gọi em bé dậy qua hành động cầm tay và qua lời quyền năng của Ngài. Vâng, quyền năng này tỏ lộ rõ ràng qua lời nói: „Này bé,“ Tiếp đến là một mệnh lệnh để chữa lành, để kêu em bé dậy. Vâng, Thiên Chúa kêu dậy, Thiên Chúa chiếu sáng em bé đang ở trong bóng đêm. Hơn nữa, Giêsu chỉ cần nói lời quyền năng mà thôi, chứ Ngài đâu cần phải „lên võ đài“, đâu cần đến một ma thuật hay một phương pháp nào, và cũng không cần đến lời cầu nguyện nào cả. Điều này chứng tỏ rằng, Giêsu đã trực tiếp hành động trong sức mạnh của Thiên Chúa.
Trong khi đó chúng ta có thể nhớ đến những lần giúp cho người chết sống lại của tiên tri Ê-li-a (1V 17, 21tt), tiên tri Ê-li-sha (2V 4, 33-37, hay Phêrô (Tđcv 9, 40), thì họ đều phải kêu cầu danh Gia-vê Thiên Chúa, và làm hết thái độ này đến thái độ khác.
Ngoài ra, động từ „trỗi dậy“ ở đây, giống như trong Mc 2, 11, cũng diễn tả về sự phục sinh. Vâng, Thiên Chúa chính là Thiên Chúa kêu dậy, Thiên Chúa chiếu sáng. Và đứa bé phản ứng thế nào trước lời quyền năng của Giêsu?
„42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ.“
Từ ngữ „lập tức“ được nhắc đến ở đây 2x, giống như trong câu 29 và 30. Từ ngữ chỉ thời gian này thường được diễn tả trong các phép lạ Giêsu làm (ss. 1, 42), tương hợp với quyền năng của Giêsu. Vâng, quyền năng vực em bé dậy để em đi đi lại lại.
Ở đây, Mác-cô dùng từ „con bé gái“, trong khi ở những câu vừa rồi (39,40,41), thì Mác-cô lại dùng từ „paidi,on - đứa bé“. Mà từ „paidi,on - đứa bé“, như trong Mc 10,13, chỉ về đứa bé nhỏ còn được ẵm trên tay. Vì thế, từ „paidi,on - đứa bé“ được dùng trước đó có thể làm cho người đọc hiểu lầm, nên Mác-cô đã thêm vào câu „vì nó đã mười hai tuổi.“
Đó là một sự giải thích theo lô-gíc.
Ngoài ra, Adolf Pohl đưa ra một giả thiết thật thú vị. Hay hai từ ngữ khác nhau mà Mác-cô dùng một cách nào đó đưa người đọc vào trong tinh thần của ơn cứu rỗi. Vâng, ơn cứ rỗi giờ đây được thực hiện. Ở đây hãy nghe lại những lời của tiên tri Giê-rê-mi-a nhắc về cô trinh nữ Ít-ra-en:
„Ta sẽ lại xây ngươi lên, và ngươi sẽ được xây lại,
hỡi trinh nữ Ít-ra-en.
Ngươi sẽ lại nên xinh đẹp;
với những chiếc trống cơm,
ngươi sẽ xuất hiện giữa đám nhảy múa tưng bừng.“ (Gr 31,4)
„Thiếu nữ bấy giờ vui nhảy múa,
trẻ già cùng mở hội tưng bừng.
Tang tóc họ, Ta biến thành hoan hỷ,
và sau cảnh sầu thương,
sẽ cho họ được an ủi vui mừng.“ (Gr 31, 13)
„Hãy cắm mốc, dựng cột chỉ đường,
và để ý tới con đường ngươi đã qua.
Trở về đi thôi, trinh nữ Ít-ra-en hỡi,
trở về các thành cũ của ngươi.“ (Gr 31, 21)
Trinh nữ Ít-ra-en được kêu gọi để đứng lên, nhảy múa, lên đường và trở về. Như vậy, tang tóc sẽ được Gia-vê biến thành hoàn hỉ. Và sau cảnh sầu thương là an ủi vui mừng. Phải chăng em bé gái 12 tuổi và người phụ nữ bị bệnh băng huyết 12 năm là biểu tượng cho cô trinh nữ Í-ra-en này?
Chứng kiến em bé gái sống lại, thì lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Không phải là niềm vui mừng và lòng biết ơn của cha mẹ em gái là trung tâm điểm cần chú ý, mà trung tâm đó chính là Thiên Chúa. Vâng, sự kinh ngạc sững sỡ ở đây chính là cách diễn tả về sự hoảng sợ Thiên Chúa, như trong Mc 4,41: „Các ông hoảng sợ và nói với nhau: "Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh? " Vâng, trong Đức Kitô người ta nhận biết Thiên Chúa. Và các phép lạ đều mang tính cách Kitô học, và đều hướng về căn tính của Ngài.
„43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.“
Nhưng Giêsu lại cấm không cho tiết lộ căn tính của Ngài. Việc nghiêm cấm này có ý nghĩa gì? Hơn nữa, dù Giêsu có cấm không được nói về việc ấy, nhưng em bé đã sống lại, và người ta chắc chắn sẽ biết về việc này. Trong những đoạn khác Giêsu cũng cấm như vậy, (x.Mc 7,36 và 9,9). Việc nghiêm cấm đều liên hệ đến sự kiện xảy ra trước đó. Sự kiện mà trong đó Con Người Giêsu được bộc lộ, được mạc khải cách sâu sa hơn. Trong câu chuyện này cũng vậy. Giêsu đã bộc lộ ra rằng, trong Ngài quyền năng của Thiên Chúa đang hiện diện. Trong ý nghĩa này, theo Adolf Pohl thì Giêsu không muốn căn tính của mình được tỏ lộ quá sớm. Đầu tiên toàn thể công trình cứu độ của Ngài cần được tỏ lộ. Vâng, trước tiên Giêsu muốn sống hoàn toàn căn tính của mình, quyết định hơn cả là cái chết trên thập tự và sự Phục Sinh của Ngài. Sau đó thì căn tính của Ngài được truyền rao một cách tròn đầy. Còn trước đó thì cần tránh tất cả những hiểu lầm và sai lệch. Vì vậy, mà các môn đệ cũng phải tuân theo sự nghiêm cấm của Giêsu.
Sau khi nghiêm cấm, Giêsu bảo họ cho con bé ăn. Tại sao Giêsu lại nói như vậy? Như Giêsu khi sống lại cũng ăn uống trước mặt các môn đệ của mình, thì giờ đây em bé gái sống lại cũng ăn uống trước mặt cha mẹ em. Theo các nhà chú giải, thì ai ăn, người đó không chết, và ai ăn cũng không phải là quỷ ma. Người đó sống như là một thụ tạo thực sự của Thiên Chúa. Và theo Paul Billerbeck, thì việc ăn uống của người bệnh là chứng minh sự khỏe mạnh của họ.
Tham khảo
- Rudolf Pesch, Das Markusevangelium, Herder Verlarg, Freiburg 2000. Sonderausgabe, Band II/1
- Adolf Pohl, Das Evangelium des Markus, R. Brockhaus Verlag Wuppertal 2005, Wuppertaler Studienbibel NT 1.
- Eduard Schweizer, Das Evangelium nach Markus, Neues Goetinnger Bibelwerk, Vandenhoeck & Ruprecht Verlag, Göttingen 1978
- Hermann L. Strack & Paul Billerbeck, Kommentar zum neuen Testament aus Talmud und Midrasch, 2.Band, C.H. Beck Verlag, Münche 1978
- Hans Urs von Balthasar, Licht des Wortes, Johannes Verlag Einsiedeln, 3. Aufl., Freiburg 2001.
21 Đức Giê-su xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ.22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người,23 và khẩn khoản nài xin: "Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống."24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.
25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm,26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác.27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người.28 Vì bà tự nhủ: "Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu."29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi? "31 Các môn đệ thưa: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: „Ai đã sờ vào tôi? "32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó.33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.34 Người nói với bà ta: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."
35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? "36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi."37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an.38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ.39 Người bước vào nhà và bảo họ: "Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy! "40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.41 Người cầm lấy tay nó và nói: "Ta-li-tha kum", nghĩa là: "Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi! "42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ.43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn. (Mc 5, 21-43)
........................................................................
• Vài hàng sơ lược
- Bài phúc âm này kể về hai phép lạ trong bốn phép lạ lớn mà Đức Giêsu làm, sau khi Ngài đã giảng dạy dân chúng với những dụ ngôn trong chương 4. Phép lạ đầu là phép lạ làm cho gió tắt và biển lặng (Mc 4, 35-41), sau đó là phép lạ bắt thần ô uế xuất khỏi người bị ám (Mc 5, 1-20)
- Bài phúc âm có thể chia làm 3 phần: (1) Ông Gia-ia xin Chúa Giêsu giúp đỡ (35-24); (2) Chúa Giêsu chữa lành bà bị bệnh băng huyết 12 năm (25-34) và (3) Chúa Giêsu cứu sống con gái của ông Gia-ia (35-41) Trong ba phần này Mác-cô kể cho chúng ta nghe về 2 câu chuyện. Vì thế, mà ở đoạn này có thể tách ra làm hai câu chuyện rõ ràng, nhưng theo các nhà chú giải thì khi tách ra như vậy, sẽ mất đi vẻ đặc biệt của nó. Vì vậy, nên đọc cả hai câu chuyện một lúc. Vậy vẻ đặc biệt của hai câu chuyện được nối kết với nhau là gì?
- Vẻ đặc biệt của hai câu chuyện là sự thống nhất qua hai nhân vật nữ được Giêsu chữa lành. Đó là em bé gái 12 tuổi, con của Gia-ia và người phụ nữ bị bệnh băng huyết. Cả hai người nữ đều đang bị tử thần „gõ cửa nhà“. Cả hai một cách nào đó đều „đụng“ vào Giêsu. Người phụ nữ bị băng huyết thì chủ ý đụng, còn em gái 12 tuổi thì được Giêsu cầm lấy tay và nâng dậy. Ngoài ra, trong cả hai câu chuyện đều nhấn mạnh đến niềm tin. Đó là chủ đề chính yếu. Người phụ nữ bị bệnh băng huyết trở thành người kiểu mẫu về niềm tin cho những người có chức vị trong đền thờ Do-thái, cũng giống như người đại đội trưởng tin vào Đức Kitô: „"Tôi bảo thật các ông: tôi không thấy một người Ít-ra-en nào có lòng tin như thế.“(Mt 8,10) Ngoài ra một điểm khác mà Adolf Pohl cũng đề cập đến đó là việc Giêsu chữa lành cho cả hai. Giêsu không vì người phụ nữ mà bỏ mặc em bé gái 12 tuổi, và ngược lại cũng thế. Qua việc làm của Giêsu, Ngài đã làm cho giao ước cũ được hoàn tất, nghĩa là Ngài hơn cả Ê-li-a và Ê-li-schê, cầm tay em bé „đã chết“ và nâng em chỗi dậy. (ss. 1V 17, 17tt; 2V 4, 32tt)
• Suy niệm
„21 Đức Giê-su xuống thuyền, lại trở sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ.“
Giêsu trở lại với dân của Ngài, về lại với nơi quen thuộc trong vùng Ca-phá-na-um, mà Ngài thường giảng dạy. Theo Eduard Schweizer thì Giêsu xuống thuyền nơi nào và khi nào, đối với Mác-cô không quan trọng. Điều chính yếu là Giêsu lại trở về bên bờ hồ và dân chúng đông đúc tụ tập quanh Ngài như những lần trước đây (x. Mc 2, 13; 3, 7; 4,35)
„22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người“
Mỗi một hội đường có một người trưởng hội đường. Trong miền Ca-pha-na-um có nhiều hội đường, nên ở đây là một trong số nhiều trưởng hội đường. Công việc ông là gì? Điều khiển các buổi lễ nghi phụng vụ, phân chia trách nhiệm trong buổi lễ. Ông cũng là người chịu trách nhiệm xây dựng và cai quản hội đường. Bình thường, người trưởng hội đường là người giáo dân xuất thân từ gia đình giàu có, giữ lề luật nghiêm ngặt và được mọi người tín nhiệm. Về sự giàu có của ông, có thể nhận ra qua hình ảnh nhiều người hầu (câu 35) và nhà cửa với sân bên trong (câu 38 và 39). Ghế trưởng hội đường có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một gia đình.
Tên của ông trưởng hội đường ở đây được Mác-cô nhắc đến: Gia-ia. Vâng, Mác-cô vẫn thường thích những chi tiết. Gia-ia, tên theo tiếng Hy-lạp, có gốc rễ trong tiếng Do-thái là Jair, như trong Dân Số 32, 41: „Ông Gia-ia, con ông Mơ-na-se, đi chiếm các trại của họ và đặt tên là trại của Gia-ia“ (ss. thêm trong sách Thủ lãnh 10, 3). Theo Paul Billerbeck thì tên Jair trong tiếng Do-thái cổ có nghĩa là “Thiên Chúa chiếu sáng”. Theo Rudolf Pesch thì Jair trong tiếng Do-thái cũng còn có thể hiểu theo nghĩa: „Thiên Chúa sẽ kêu dậy“. Ngoài ra, theo một hình thức trong tiếng Do-thái vẫn còn sử dụng, theo Eduard Schweizer và R.Pesch có nghĩa là „lời hứa“. Như vậy, tên của cha em gái mang một ý nghĩa thật đặc biệt trong câu chuyện. Có lẽ chúng ta cần chú ý đến các ý nghĩa này, khi đọc và chiêm ngắm phép lạ mà Giêsu làm ở đây.
Thái độ sụp xuống dưới chân Giêsu của ông Gia-ia nói lên tính cách cấp thiết của lời kêu xin. Bên cạnh đó thái độ này cũng nói lên lòng kính trọng và việc công nhận Giêsu.
„23 và khẩn khoản nài xin: Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.“
Sau thái độ sụp xuống là lời khẩn khoản nài xin. Nhưng điều này có ý nghĩa gì vậy? Tại sao ông ta lại khẩn khoản nài xin? Ông ta đang ở trong hoàn cảnh nào? Theo Adolf Pohl thì nếu xét một cách gắt gao trong cái nhìn của người Do-thái, thì cái chết của đứa con không chỉ là sự mất mát của cha mẹ, mà hơn nữa đó còn là hình phạt giành cho cha mẹ. Giờ đây điều này xảy ra với một trưởng hội đường. Đặt mình vào trong vị trí của ông, chúng ta có thể tự hỏi rằng: „Tôi, một trưởng hội đường, đang bị phạt gì vậy?“ Điều này thực là một sự lo lắng lớn đối với ông. Hơn nữa, ông ta đâu có quen tự hỏi mình như vậy.
Ngoài ra, nếu con của ông thực sự chết đi, thì tình phụ tử của ông sẽ „chết“ theo, vì đó là con gái duy nhất của ông, như được nói rõ trong Lc 8,42: „vì ông có một đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi, mà nó lại sắp chết.“ Thêm vào đó, chức vụ tôn giáo của ông cũng bị lung lay. Và người ta sẽ coi ông là người bị Gia-vê Thiên Chúa phạt. Như vậy thì thật là thê thảm! Ông trưởng hội đường thực sự đang đứng trước một tai họa lớn. Nên lời ông xin thật sự là khẩn khoản: „Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống.“
Việc đặt tay có ý nghĩa truyền sức mạnh chữa lành trong các phép lạ (x.6,5; 7,32; 8,23.25; 16,18). Eduard Schweizer chú ý một điều, là theo Mác-cô thì việc đụng vào hay đặt tay trong các phép lạ là điều quan trọng (x. Mc 5, 30-34)
"24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.“
Trước lời xin khẩn khoản, Giêsu lập tức đi với ông trưởng hội đường. Ở đây có hai điều cần chú ý. Thứ nhất là thái độ không chần chừ của Giêsu. Thứ hai là hai từ „đi với“. Bình thường thì hai từ này chỉ các môn đệ hay dân chúng đi theo và ở với Giêsu (x. Mc 3,14; 4, 36; 5, 18.40; 14,18.20). Còn ở đây thì Giêsu „đi với“ ông trưởng hội đường. Điều này có ý nghĩa gì vậy? Với thái độ không chần chừ trên và với việc Giêsu „đi với“, chúng ta nhận ra rằng, Giêsu biểu lộ tinh thần đoàn kết với ông trưởng hội đường. Giêsu đứng về phía những anh chị em đang gặp tai họa, và Ngài không chần chừ sẵn sàng lên đường đi với những người đau khổ. Đây là một hình ảnh thật tuyệt vời. Thực, Thiên Chúa vẫn chiếu sáng (ý nghĩa tên Jair – Gia-ia)
Có lẽ chúng ta dừng bước nơi đây và nhìn lại cuộc đời mình một chút: „Trong những biến cố hay sự kiện nào trong đời, chúng ta cảm thấy rõ ràng Giêsu đi với chúng ta và Ngài chiếu sáng vào cuộc đời tăm tối của chúng ta?“ „Thái độ không chần chừ và đoàn kết của Ngài giành cho chúng ta có ý nghĩa gì vậy?“ „Giêsu là ai trong những biến cố và sự kiện đó?“
„25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm „
Trên đường đến nhà Gia-ia, có rất nhiều nguời đi theo Giêsu và họ chen lấn Người. Và vì thế xảy ra một sự kiện mới ở trên đường. Đó là trường hợp một người phụ nữ „bị băng huyết đã mười hai năm“ Ở đây, tên của người phụ nữ không được nhắc đến. Theo Adolf Pohl và Eduard Schweizer, thì sau đó người ta đã xác định bà có thể tên là Be-rê-ni-cê, hay Vê-rô-ni-ca, đến từ miền Cê-sa-rê Phi-lip-phê.
Về chi tiết bệnh băng huyết của người phụ nữ, Mác-cô không nói rõ. Các nhà chú giải giả thiết, có thể là vì kinh nguyệt rối loạn và chảy máu thương xuyên, có thể vì chứng chảy máu kinh niên trong tử cung. Chứng băng huyết chảy máu này là một chứng bệnh mà người Do-thái rất sợ, vì nó làm ô uế. Vâng, không chỉ người đó bị ô uế, mà cả giường bà nằm, mọi đồ vật bà ngồi lên và bất cứ ai đụng vào những thứ đó cũng bị ô uế, như trong sách Lê-vi nhắc tới: „Khi một người đàn bà bị rong huyết trong vòng nhiều ngày, ngoài thời kỳ kinh nguyệt, hoặc rong huyết quá thời kỳ kinh nguyệt, thì sự ô uế sẽ kéo dài suốt thời gian bị rong huyết; nó sẽ ra ô uế như trong thời gian có kinh. Mọi giường nó nằm trong suốt thời gian rong huyết, sẽ ra ô uế như cái giường trong thời gian nó có kinh; mọi đồ vật nó ngồi lên, sẽ ra ô uế, như bị ô uế trong thời gian nó có kinh. Bất cứ ai đụng vào những thứ đó, sẽ ra ô uế; nó sẽ phải giặt áo, lấy nước mà tắm rửa, và sẽ ra ô uế cho đến chiều.“ (15, 25-27)
Giống như người bị phong hủi, 12 năm trời bị ô uế là 12 năm người phụ nữ không được phép ôm người thân yêu vào lòng, là 12 năm người phụ nữ không được phép bước vào hội đường để thờ lạy Gia-vê. Bà sống đấy nhưng như là không có mặt. Xã hội sợ sệt bà và loại bà ra ngoài. Thê thảm quá! Thê thảm hơn, nếu bà tự hỏi rằng: „Tại sao Gia-vê Thiên Chúa chống lại tôi? Tôi đã phạm tội gì để đến nông nỗi này?“ „Thiên Chúa đâu rồi? Ngài có còn chiếu sáng không? Ngài có còn là Ngài nữa hay không?“
„26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác.“
Trong câu này có ba phần: (1) đến với nhiều thầy thuốc, (2) tán gia bại sản, (3) bệnh tình vẫn không giảm mà còn nặng thêm. Ba phần này diễn tả hoàn cảnh đau thương của người phụ nữ. Vào xã hội thời đó ở Do-thái, chỉ có người giàu có mới có thể đi „thăm“ thầy thuốc, vì tốn phí nhiều. Vì vậy mà người phụ nữ nhắc ở đây là người giàu có. Nhưng bệnh tật của bà đã làm cho bà tán gia bại sản và trở nên nghèo nàn. Khi thầy thuốc bó tay, và bà đã trở nên thật khốn quẫn, thì bà đi tìm Giêsu và hy vọng vào Ngài. Có lẽ bà đã nghe danh tiếng về Ngài không chỉ là người giảng dạy bình thường, mà có nhiều quyền năng (ss. Mc 6, 2)
„27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo của Người. 28 Vì bà tự nhủ: "Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.“
Đúng vậy, tiếng đồn lành lan xa, người người đổ về để tìm người tốt lành kia, đến nỗi người phụ nữ ô uế, lẽ ra phải xa tránh mọi người, cũng quyết tâm chen lấn cho được để có thể đến với Giêsu. Vâng, thái độ „tiến đến phía sau“ của bà nói lên sự mặc cảm và xấu hổ của bà về thân phận ô uế của mình. Nhưng không sao, cứ đến! Thiên Chúa chắc là không gạt bỏ những ai đang bị ô uế đâu. Hơn nữa, ai càng ô uế, thì Thiên Chúa lại càng thích gần gũi nữa à! Lấy hết can đảm, bà chen và chen với một niềm ước ao thật là khiêm tốn, làm sao sờ được vào áo của Người mà thôi. Thế cũng là đủ cho bà rồi. 12 năm trời bà đã để cho biết bao thầy thuốc sờ tới bà, nhưng chẳng ai có thể chữa lành cho bà cả. Giờ đây bà chỉ muốn sờ vào áo của Giêsu thôi. Bao nhiêu đó là đủ cho bà rồi: „"Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.“ Lạ thật! Một ước ao lạ lùng! Một ước ao khiêm tốn nhưng tương hợp với một niềm tin thật mạnh mẽ. Nhưng mới nghe sao đã tin rồi? Vâng, niềm tin đến qua nhiều ngõ ngách lắm. Ở đây, niềm tin đã đến với bà qua những gì bà đã lắng nghe về Giêsu. Vâng, niềm tin cũng đến từ sự lắng nghe nữa, như thánh Phao-lô đã nói: „Ấy vậy, có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô.“ (Rm 10,17) Hơn nữa, niềm tin của bà vào Giêsu không có gì có thể cản trở được. Sự ô uế trong chính bà cũng không thể cản trở bà đụng đến vạt áo của Giêsu. Sự xấu hổ và sợ hãi không làm bà „chết chân“ một chỗ được. Niềm tin đã giải thoát tất cả. Sợ hãi, xấu hổ và ngại ngùng không có chỗ trong căn nhà của niềm tin. Niềm tin của Bà đã được Giêsu nhận ra rõ ràng trong câu 34. Giờ đây, trở về lại với bối cảnh của câu chuyện, để xem việc bà sờ áo có giúp bà điều gì không?
„29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.“
Điều ước ao của bà đã trở thành hiện thực. 12 năm trời chờ mong. 12 năm trời đau khổ trong tủi nhục. 12 năm trời tiền mất mà tật vẫn mang. Giây phút này xóa đi tất cả. Giây phút này bà như trở thành con người mới. Con người bình thường với dòng máu chảy điều độ, có chu kỳ hẳn hoi. Giòng máu kia giờ đây phải vâng lời để trở về lại với trật tự. Thật tuyệt vời! Đúng là Thiên Chúa đã chiếu sáng rồi (ý nghĩa của tên Jair, Gia-ia).
„30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi?"
„Giêsu thấy năng lực tự nơi mình phát ra“. Như vậy năng lực đã truyền qua người phụ nữ bị bệnh, khi bà ta sờ vào áo của Giêsu. Năng lực này phát xuất từ quyền năng mà Giêsu có để chữa bệnh như Luca đã nói: „Quyền năng Chúa ở với Người, khiến Người chữa lành các bệnh tật.“ (5,17b) và vì vậy: „Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.“ (6, 19) Về hình ảnh năng lực được truyền từ người chữa bệnh sang người bị bệnh qua việc sờ và đụng chạm, kể cả đụng tới quần áo hay khăn cà áo, trong thời cổ đại và thời của Chúa Giêsu cũng được nhắc tới, như trong tông đồ công vụ 19,11-12: „Thiên Chúa dùng tay ông Phao-lô mà làm những phép lạ phi thường, đến nỗi người ta lấy cả khăn cả áo đã chạm đến da thịt ông mà đặt trên người bệnh, và bệnh tật biến đi, tà thần cũng phải xuất.„ Không chỉ thế, cả bóng người thầy thuốc cũng có thể giúp chữa bệnh: „Người ta còn khiêng cả những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phê-rô đi qua, ít ra cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó“ (Tđcv 5,15) Việc truyền năng lực qua người ta có thể mường tượng như việc lây nhiễm bệnh tật.
Sau đó, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: "Ai đã sờ vào áo tôi?" Người đàn bà lén lút kia, cần được mọi người nhận ra. Sự ô uế bắt người ta phải trốn chạy, nhưng việc chữa lành và giải thoát khỏi sự ô uế phải được công bố rõ ràng giữa ban ngày, để ai ai cũng nhận ra. Có lẽ để cho tất cả công nhận sự khỏi bệnh của người phụ nữ và đón nhận bà trở về lại với đời sống xã hội, đời sống cộng đoàn, để bà có thể can đảm phá tan sự mặc cảm bà có trước mọi người từ 12 năm qua. Ngoài ra, việc bà được chữa lành cũng là dấu hiệu về vinh quang của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa chiếu sáng vinh quang ngay tại nơi mà con ngươi chê bai, nơi mà con người đang tủi nhục khổ đau.
Vì thế, thái độ quay lại của Giêsu là thái độ như muốn đi tìm người phụ nữ đau khổ tủi nhục kia, và cứu bà thoát ra khỏi bóng đêm đã bao phủ bà từ hơn mười năm qua. Bóng đêm dù đen đến mấy nhưng không bao giờ phủ lấp được Ánh Sáng. Thiên Chúa vẫn chiếu soi, chiếu soi không chỉ đàng trước, mà Thiên Chúa còn quay lại để chiếu soi cả đàng sau nữa. Vâng, đúng như thánh Gioan nói trong 1, 5: „Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng.“
"Ai đã sờ vào áo tôi?" Câu hỏi của Đức Kitô có tính cách thật cương quyết. Ngài quyết tìm cho ra người đã đụng vào Ngài, dù người đó có lén lút sờ, có mắc cở vì bị ô uế không dám công khai xin Ngài. Vâng, dù người đó có bị bóng đêm của cuộc đời đang chế ngự và giới hạn. Nước Thiên Chúa đã đến gần và tình yêu của Thiên Chúa đang tuôn tràn qua Giêsu đến với tất cả mọi người, vì vậy không cần phải lấp lé và lén lút nữa. Trước Ánh Sáng dịu dàng không làm chói chang đời người, con người yếu đuối và bệnh hoạn cần phải bước ra để hưởng Ánh Sáng tình yêu này.
„31 Các môn đệ thưa: "Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: „Ai đã sờ vào tôi?"
Phản ứng và câu hỏi của các môn đệ thật là nông cạn. Adolf Pohl đã có tư tưởng rất hay: „Trong khi Giêsu đang nói về sự đụng chạm của niềm tin và của sự sống, thì các môn đệ lại nghĩ về sự sờ mó đụng chạm đến một tấm vải.“ Đụng vào áo thì có gì quan trọng để mà nói. Nhiều lắm là áo dơ một chút, hay hơn nữa thì có thể áo phai màu hay toạc một đường. Nhưng ở đây đụng vào niềm tin và vào sự sống sẽ làm cho sự sống đang phai màu được nhuộm lại, hay nói đúng hơn được đổi mới hoàn toàn. Đụng vào niềm tin, thì niềm tin dù có bị đêm đen bao phủ từ 12 năm qua, nhưng vẫn không thể bị tiêu diệt. Vâng, bóng tối không diệt được Ánh Sáng, thì bóng tối không diệt được niềm tin.
32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó.
Chẳng màng chi đến thái độ và câu trả lời của các môn đệ, Giêsu ngó quanh, và Mác-cô nói rất rõ: „để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó“. Nghĩa là Giêsu biết rõ ai đã đụng tới Ngài. Phải chăng đúng như lời của Gioan đã nói về người mục tử nhân lành: „Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi“ (10, 14b) Giờ đây câu chuyện đạt tới đỉnh cao của nó:
„33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người.“
Năng lực đã truyền qua bà và chữa bệnh cho bà, vì niềm tin của bà, giờ đây thúc đẩy khuyến khích bà can đảm lên, để nói ra sự thật, để thú thật với Giêsu là bà đã đụng vào Ngài. Như vậy, chính người phụ nữ được chữa lành này cũng sẽ là chứng tá và lời ca ngợi về phép lạ của Giêsu.
Nhưng trước hết, bà sợ hãi phát run lên. Hai tình trạng sợ hãi và phát run lên ở đây thuộc về kinh nghiệm của nhiều người gặp gỡ Thiên Chúa sống động, và được Ngài nâng đỡ và giải thoát. Điều này rất thường gặo trong Kinh Thánh (ss. St 9,2; Xh 15,16; Đnl 2,25; Tv 2, 11; 1Cor 2,3; 2 Kor 7,15; Pl 2,12; Ep6,5)
Sau đó bà phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Thái độ này có nhiều ý nghĩa. Có thể bà muốn thú nhận Giêsu, là bà đã lỗi đến luật thanh sạch, đụng vào Giêsu. (Về luật thanh sạch xin coi Lêvi 12-15). Tuy nhiên, cách giải thích này theo R.Pesch có phần đúng, nhưng không thuyết phục. Cách giải thích khác có lẽ xác quyết hơn, khi dựa vào niềm tin mạnh mẽ của bà trong câu 28: „"Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.“ Vâng, niềm tin của bà vào Giêsu đã thúc đẩy bà sờ vào Giêsu, dù sờ lén lút. Và bà tin rằng, Giêsu sẽ giải thoát bà khỏi bệnh tật làm bà đau khổ nhục nhã, mà Giêsu vẫn không bị ô uế, không bị tổn thương gì cả. Như vậy, niềm tin của bà ở đây không phải là sự tin tưởng vào phép màu, không phải là thứ mê tín dị đoan, mà là niềm tin mạnh mẽ với sự ý thức rõ ràng, niềm tin này vượt qua hàng rào mà con người dựng lên, hay chướng ngại cản trở con người. Vâng, một niềm tin xuyên suốt qua mái nhà để đưa người bất toại đến với Giêsu (ss. Mc 2, 3-5), một niềm tin lớn hơn cả lời trách mắng lớn tiếng của người khác, để rồi anh mù Bác-ti-mê được Giêsu nghe đến tiếng kêu gào của anh (ss. Mc 10, 46-52)
Trước niềm tin lớn lao này và lòng can đảm thú nhận về sự thật của bà, Giêsu lên tiếng:
„34 Người nói với bà ta: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."
Lời nói của Giêsu thật tuyệt vời! Chẳng một lời trách cứ về thái độ lén lút của bà, mà ngược lại, khi nghe bà thú nhận, thì Giêsu đã gọi bà: „này con“. Dịch sát hơn nữa sẽ nói: „quga,thr - này con gái“ Một lời thật trìu mến và tin tưởng, như có lần Giêsu cũng đã gọi người bại liệt, trước khi ra tay chữa lành cho anh: „này con,“ (ss. Mc 2,5). Vâng, đây không phải là một lời an ủi rỗng tuếch của một chủ chăn, mà là lời thân thương làm nảy sinh tương quan thật gần gũi giữa Giêsu và bà. Phải chăng qua niềm tin của ba, Giêsu đã nhìn bà như là người con gái yêu dấu của Thiên Chúa? Đúng là vậy! Hơn nữa, niềm tin của bà đã thúc đẩy Giêsu phải lên tiếng. Và tiếng nói thân thương của Giêsu đã đón nhận bà vào trong gia đình của Ngài.
Như vậy, niềm tin của người phụ nữ ở đây là một điều thật quan trọng cho việc bà được chữa lành. Có thể nói đó là niềm tin có sức chữa lành được Giêsu xác nhận, như có lần Giêsu nói với anh mù Bác-ti-mê: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh! " (Mc 10, 52) và với người phụ nữ của chúng ta cũng vậy: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.“
Ở đây, theo Adolf Pohl thì câu nói „lòng tin của con đã cứu chữa con“ cũng là câu nói: „Giêsu đã cứu chữa con“, vì niềm tin của người phụ nữ kia hướng về Giêsu, Đấng Cứu Độ, Đấng không bao giờ để cho những kẻ tin phải gục ngã hoàn toàn, Đấng không bao giờ để cho người tin phải chết thê thảm trong bóng đêm u tối. Vâng, Giêsu là Đấng Cứu Độ, Thiên Chúa luôn chiếu sáng (ý nghĩa tên Jair – Gia-ia)
Ngoài ra, niềm tin luôn được Giêsu khiêu khích, vực dậy và xác nhận. Trong phúc âm nhất lãm, theo R. Pesch thì niềm tin của người được chữa lành luôn gắn liền với Giêsu. Và trong Tân Ước thì niềm tin là một thái độ nội tại sẵn có của người bệnh liên quan đến phép lạ xảy ra. Vâng, tin vào Đấng có thể làm người câm nói được, người mù thấy được và người điếc nghe được (x. Mc 7,37)
Ngoài ra, lời của Giêsu không làm cho phép lạ và niềm tin nghịch lý với nhau, mà hơn nữa đưa suy nghĩ về sự kỳ lạ vào trong niềm tin. Giêsu đã „giải thoát“ khả năng làm phép mầu của con người, bằng cách Ngài đã gắn chặt khả năng này vào trong quyền năng của Thiên Chúa.
Cuối cùng, Giêsu nói với người phụ nữ: „Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh."
Lời chào của Giêsu trước hết là là lời chào tạm biệt bình thường mang tính cách Do-thái. Theo Adolf Pohl thì lời chào Schalom của Giêsu không chỉ là lời chào tạm biệt bình thường. Qua lời chào này, người phụ nữ đã đón nhận một điều thật giá trị. Đó là sự chở che của Thiên Chúa cho cả cuộc sống của bà, dù bà có đi đâu chăng nữa. Lời chào Schalom này chính là món quà quý báu đến từ niềm tin. Ngoài ra, Schalom ở đây có ý nghĩa là người phụ nữ của chúng ta giờ đây đã được khỏi và có thể sống dồi dào. Vâng, khỏi hẳn bệnh thực sự rồi. Adolf Pohl giải thích thêm rằng, „khỏi hẳn bệnh“ có nghĩa là được khỏe lại và khỏe mãi mãi! Thiên Chúa không phải là một người thất thường. Nỗi nhục nhã và đau khổ đã dứt khoát biến mất và ân sủng đã xuất hiện rồi. Bóng đêm đã lùi bước và Thiên Chúa đã chiếu sáng rồi.
Đó là câu chuyện giữa đường của Giêsu với người phụ nữ. Giờ đây khi người phụ nữ đã khỏi bệnh và ra đi bình an, chúng ta lại tiếp tục theo bước Giêsu. Nhưng trước khi đi tiếp với Giêsu, chúng ta cũng có thể nói với nhau rằng. Mục đích chính của Giêsu là lên đường đi chữa bệnh cho con gái ông trưởng hội đường. Giữa đường Ngài lại dừng lại và tốn nhiều thời gian cho người phụ nữ kia. Không biết cô con gái của ông trưởng hội đường có còn sống nữa không, hay đã chết rồi? Hơn nữa, sau khi Giêsu đã để cho người phụ nữ bị băng huyết kia đụng vào, thì chính Ngài cũng đã trở nên ô uế. Vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là, ông trưởng hội đường có để Giêsu vào nhà mình nữa không?
„35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? "
Câu chuyện được kể tiếp với sự xuất hiện của mấy người làm của ông trưởng hội đường. Họ nói với ông: "Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa? " Câu nói có tính cách nghi ngờ dè dặt. Tử thần đã tới „thăm“ thật rồi. Bây giờ lại làm phiền Giêsu nữa sao? Gia-ia, có nghĩa là Thiên Chúa chiếu sáng và ý nghĩa thứ hai là Thiên Chúa kêu dậy, có còn hy vọng vào Ánh Sáng sẽ đến từ Thiên Chúa, vào bàn tay nhân từ nâng dậy của Thiên Chúa nữa không? Thực tình nếu đặt mình trong hoàn cảnh của Gia-ia, có lẽ chúng ta sẽ cảm nhận được cái hố sâu thăm thẳm, thật cô đơn và buồn tủi biết bao, mà ông vừa rơi xuống, sau khi nghe những lời của người nhà ông.
„36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi."
Có lẽ thấu hiểu được nỗi đau và cô đơn của ông trưởng hội đường, nên không để ông ta trả lời hay tỏ thái độ nào trước những lời vừa qua, Giêsu đã lên tiếng. Lại một lời an ủi thật trìu mến của vị Mục Tử nhân lành, chứ không phải lời an ủi rỗng tuếch. Vâng, Giêsu đã nghe được lời mang tính cách quá nghi ngờ và dè dặt. Lời mang hình bóng của sự chết. Nhưng Giêsu đâu có chấp nhận lời đó. Với Giêsu sự chết không phải là chữ cuối cùng của cuộc sống nhân loại. Vì vậy, mà Giêsu đã đặt hai chữ „tin tưởng“ đối diện với hai chữ „sự chết“. Và Ngài đã nói lời thật ủi an: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi." Lời an ủi này mang tính cách hiện diện của Giêsu, một Thiên Chúa sống động: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ! " (Mc 6,50)
Nhưng phải hiểu thế nào nữa lời của Giêsu: „Đừng sợ, chỉ cần tin thôi“ ?
„Đừng sợ“ thường được Giêsu nhắc đến, và ở đây được đặt chung với lời kêu gọi tin tưởng. Hai từ „tin tưởng“, theo Adolf Pohl trong tiếng Do-thái có nghĩa là tìm được sự kiên tâm, tự cột chặt lại, tự đi vào trong thinh lặng, bình tâm. Trái ngược với các ý nghĩa này là run rẩy, sợ hãi và bất an.
Như vậy, khi tin tưởng là người ta trở nên thinh lặng và bình tâm trước Thiên Chúa với tấm lòng yêu thương sẵn sàng giúp đỡ của Ngài.
Nhưng đối diện với niềm tin là sức mạnh của sự thất vọng. Sức mạnh này có thể làm chao đao niềm tin, làm cho người ta phải đứng giữa niềm hy vọng và sự nghi ngờ. Đó là trường hợp của Gia-ia và như trường hợp của một người cha khác đã cầu nguyện rằng: "Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi! " (Mc 9,24)
Theo R. Pesch thì ông trưởng hội đường trong hoàn cảnh này, dù nghe tin con mình đã chết, nhưng cần phải tiếp tục kiên tâm, đừng bao giờ bán tín bán nghi, đừng để niềm tin của mình vào Đấng có thể làm phép lạ bị lung lay. Niềm tin lại đứng trước thử thách rồi. Nhưng dù sao, thì Gia-ia cần tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa, lời hứa hợp với chính tên của ông: „Thiên Chúa chiếu sáng, Thiên Chúa kêu dậy.“
Hơn nữa, Giêsu cũng thấu hiểu được niềm tin yếu đuối dễ lung lay của con người, nên Ngài đã lên tiếng, và ở đây Giêsu đã dẫn Gia-ia đến với một niềm tin trọn hảo, như người phụ nữ bị bệnh trong câu chuyện trên. Vâng, Giêsu dẫn ông tới tâm tình „chỉ cần Tin“ vào Thiên Chúa duy nhất. Gia-ai cần tin vào Thiên Chúa, và chỉ Thiên Chúa này mà thôi. Khi tin tưởng như vậy thì mọi sự đều có thể xảy ra: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được." (Mc 10,27)
„37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an.“
Chỉ có các ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an được theo Giêsu để chứng kiến việc Ngài chuẩn bị làm. Ba ông này là những môn đệ đầu tiên của Giêsu. Ba ông đã chứng kiến những phép lạ đầu tiên Giêsu làm theo Mác-cô (x. 1, 21-31). Ba ông cũng là những người đầu tiên được nêu tên trong danh sách 12 tông đồ (x. 3, 16tt). Rồi trong biến cố Giêsu biến hình, ba ông cũng được Giêsu cho chứng kiến (x. 9,2). Khi Giêsu đứng trước thử thách và Ngài đi cầu nguyện trong vười Giệt-si-ma-ni, thì ba ông này cũng được chọn để theo Giêsu (x. 14,33). Hầu như sau mỗi lần như vậy, các ông đều đụng tới câu hỏi: „Giêsu là ai vậy?“. Vâng, các ông chính là những người được mạc khải về căn tính của Giêsu, và các ông cũng có trách nhiệm làm chứng cho Giêsu sau này.
„38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ.“
Hình ảnh người ta khóc lóc và kêu la ầm ĩ ở đây diễn tả tình trạng đau thương tang tóc trong gia đình. Điều này chứng mình cho cái chết thực sự của em bé gái, và cũng phá tan đi suy nghĩ là em bé chết giả mà thôi. Nhưng đó là cái nhìn của con người, còn Giêsu nhìn như thế nào và Ngài phản ứng sao trước hoàn cảnh tang tóc kia?
„39 Người bước vào nhà và bảo họ: "Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy! "
Giêsu đã coi sự khóc lóc kêu la ầm ĩ là không hợp trong lúc này. Như hoàn cảnh đau thương tăng dần lên (x. Câu 23 và 35) thì hai lần Giêsu kêu gọi phải có lòng tin (câu 36 và gián tiếp ở đây câu 39). Tuy nhiên, lời nói của Giêsu trong câu này thật khó mà giải thích, vì dựa theo câu 35, 38 và sau đó là câu 40, thì đứa bé gái thực sự đã chết, chứ không phải chết giả hay là ngủ. Như vậy phải hiểu làm sao câu nói của Giêsu: „Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy! " Theo R.Pesch thì câu nói của Giêsu trước hết mang tính cách tượng hình. Từ ngữ „kaqeu,dw – ngủ„ cũng là cách diễn tả đẹp của sự chết. (ss. 1 Tx 5,10). Và khi diễn tả như vậy, thì thường có ý hướng làm mất đi sự sợ hãi trước cái chết, và hướng về thế giới tốt đẹp bên kia. Như vậy, ở đây sự chết được coi như là bước chuyển tiếp, là giấc ngủ của sự Phục Sinh.
Điều này diễn tả cách giải thích thứ hai. Đó là tính cách cánh chung (eschatologie) trong câu nói của Giêsu. Từ khi Giêsu xuất hiện thì cái chết đã thực sự bị tận diệt. Trong cái chết của em bé gái, Giêsu đã cảm nhận một sự sống mới được chính Ngài kêu gọi. Và chỉ khi Giêsu có thể kêu em bé đã chết dậy, thì ở đây giấc ngủ kia đúng thực là giấc ngủ để hướng về sự „mạnh khỏe hoàn toàn và mãi mãi“. Vâng, trước cái chết của em bé gái, Giêsu đã chối từ quyền lực của sự chết. Và trong lời nói của Ngài đã diễn tả thật hùng hồn về một Thiên Chúa mà Mác-cô nhắc đến trong 12, 26b-27: „Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to! " Thêm vào đó, Balthasar giúp chúng ta nhận ra được ở nơi Giêsu có một năng lực không chỉ chữa lành người phụ nữ, mà năng lực đó chính là sự sống thực sự, như Giêsu có lần thốt lên rằng: „Đức Giê-su liền phán: "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống“ (Ga 11, 25) và "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.“ (Ga 14, 6)
„40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Người, vào nơi nó đang nằm.“
Họ cười chế nhạo Giêsu. Sao lại có thể cười cợt và chế nhạo trong đám tang. Điều này nói về sự nông cạn của đám đông trong việc tang tóc. Nhưng sự nông cạn hời hợt của đám đông trong đám tang không phải là trung tâm điểm cần chú ý. Trong Lc 85, 53 nói rõ rằng: „Họ chế nhạo Người, vì biết nó đã chết.“ Như vậy, họ chỉ biết đứa bé chết, nhưng họ đâu biết đến Giêsu và quyền năng của Ngài. Họ đâu biết đến Thiên Chúa là Chúa của sự sống. Tiếng cười chế nhạo của họ cũng chính là tiếng cười của người không tin. Vâng, như tiếng cười của Xa-ra ngày xưa. (ss. St 18,12-15)
Vì vậy mà Giêsu đã bắt họ ra ngoài hết. Chỉ có năm người được Giêsu cho phép đi vào chỗ em bé đang nằm. Đó là ba môn đệ nhắc ở trên, cha của em bé, người có niềm tin đi xin Giêsu chữa lành cho con mình, và mẹ em, người cùng đi với chồng trên con đường của niềm tin.
„41 Người cầm lấy tay nó và nói: "Ta-li-tha kum", nghĩa là: "Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi! "
Đúng như ý nghĩa tên của cha em (Gia-ia), Giêsu gọi em bé dậy qua hành động cầm tay và qua lời quyền năng của Ngài. Vâng, quyền năng này tỏ lộ rõ ràng qua lời nói: „Này bé,“ Tiếp đến là một mệnh lệnh để chữa lành, để kêu em bé dậy. Vâng, Thiên Chúa kêu dậy, Thiên Chúa chiếu sáng em bé đang ở trong bóng đêm. Hơn nữa, Giêsu chỉ cần nói lời quyền năng mà thôi, chứ Ngài đâu cần phải „lên võ đài“, đâu cần đến một ma thuật hay một phương pháp nào, và cũng không cần đến lời cầu nguyện nào cả. Điều này chứng tỏ rằng, Giêsu đã trực tiếp hành động trong sức mạnh của Thiên Chúa.
Trong khi đó chúng ta có thể nhớ đến những lần giúp cho người chết sống lại của tiên tri Ê-li-a (1V 17, 21tt), tiên tri Ê-li-sha (2V 4, 33-37, hay Phêrô (Tđcv 9, 40), thì họ đều phải kêu cầu danh Gia-vê Thiên Chúa, và làm hết thái độ này đến thái độ khác.
Ngoài ra, động từ „trỗi dậy“ ở đây, giống như trong Mc 2, 11, cũng diễn tả về sự phục sinh. Vâng, Thiên Chúa chính là Thiên Chúa kêu dậy, Thiên Chúa chiếu sáng. Và đứa bé phản ứng thế nào trước lời quyền năng của Giêsu?
„42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ.“
Từ ngữ „lập tức“ được nhắc đến ở đây 2x, giống như trong câu 29 và 30. Từ ngữ chỉ thời gian này thường được diễn tả trong các phép lạ Giêsu làm (ss. 1, 42), tương hợp với quyền năng của Giêsu. Vâng, quyền năng vực em bé dậy để em đi đi lại lại.
Ở đây, Mác-cô dùng từ „con bé gái“, trong khi ở những câu vừa rồi (39,40,41), thì Mác-cô lại dùng từ „paidi,on - đứa bé“. Mà từ „paidi,on - đứa bé“, như trong Mc 10,13, chỉ về đứa bé nhỏ còn được ẵm trên tay. Vì thế, từ „paidi,on - đứa bé“ được dùng trước đó có thể làm cho người đọc hiểu lầm, nên Mác-cô đã thêm vào câu „vì nó đã mười hai tuổi.“
Đó là một sự giải thích theo lô-gíc.
Ngoài ra, Adolf Pohl đưa ra một giả thiết thật thú vị. Hay hai từ ngữ khác nhau mà Mác-cô dùng một cách nào đó đưa người đọc vào trong tinh thần của ơn cứu rỗi. Vâng, ơn cứ rỗi giờ đây được thực hiện. Ở đây hãy nghe lại những lời của tiên tri Giê-rê-mi-a nhắc về cô trinh nữ Ít-ra-en:
„Ta sẽ lại xây ngươi lên, và ngươi sẽ được xây lại,
hỡi trinh nữ Ít-ra-en.
Ngươi sẽ lại nên xinh đẹp;
với những chiếc trống cơm,
ngươi sẽ xuất hiện giữa đám nhảy múa tưng bừng.“ (Gr 31,4)
„Thiếu nữ bấy giờ vui nhảy múa,
trẻ già cùng mở hội tưng bừng.
Tang tóc họ, Ta biến thành hoan hỷ,
và sau cảnh sầu thương,
sẽ cho họ được an ủi vui mừng.“ (Gr 31, 13)
„Hãy cắm mốc, dựng cột chỉ đường,
và để ý tới con đường ngươi đã qua.
Trở về đi thôi, trinh nữ Ít-ra-en hỡi,
trở về các thành cũ của ngươi.“ (Gr 31, 21)
Trinh nữ Ít-ra-en được kêu gọi để đứng lên, nhảy múa, lên đường và trở về. Như vậy, tang tóc sẽ được Gia-vê biến thành hoàn hỉ. Và sau cảnh sầu thương là an ủi vui mừng. Phải chăng em bé gái 12 tuổi và người phụ nữ bị bệnh băng huyết 12 năm là biểu tượng cho cô trinh nữ Í-ra-en này?
Chứng kiến em bé gái sống lại, thì lập tức, người ta kinh ngạc sững sờ. Không phải là niềm vui mừng và lòng biết ơn của cha mẹ em gái là trung tâm điểm cần chú ý, mà trung tâm đó chính là Thiên Chúa. Vâng, sự kinh ngạc sững sỡ ở đây chính là cách diễn tả về sự hoảng sợ Thiên Chúa, như trong Mc 4,41: „Các ông hoảng sợ và nói với nhau: "Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh? " Vâng, trong Đức Kitô người ta nhận biết Thiên Chúa. Và các phép lạ đều mang tính cách Kitô học, và đều hướng về căn tính của Ngài.
„43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.“
Nhưng Giêsu lại cấm không cho tiết lộ căn tính của Ngài. Việc nghiêm cấm này có ý nghĩa gì? Hơn nữa, dù Giêsu có cấm không được nói về việc ấy, nhưng em bé đã sống lại, và người ta chắc chắn sẽ biết về việc này. Trong những đoạn khác Giêsu cũng cấm như vậy, (x.Mc 7,36 và 9,9). Việc nghiêm cấm đều liên hệ đến sự kiện xảy ra trước đó. Sự kiện mà trong đó Con Người Giêsu được bộc lộ, được mạc khải cách sâu sa hơn. Trong câu chuyện này cũng vậy. Giêsu đã bộc lộ ra rằng, trong Ngài quyền năng của Thiên Chúa đang hiện diện. Trong ý nghĩa này, theo Adolf Pohl thì Giêsu không muốn căn tính của mình được tỏ lộ quá sớm. Đầu tiên toàn thể công trình cứu độ của Ngài cần được tỏ lộ. Vâng, trước tiên Giêsu muốn sống hoàn toàn căn tính của mình, quyết định hơn cả là cái chết trên thập tự và sự Phục Sinh của Ngài. Sau đó thì căn tính của Ngài được truyền rao một cách tròn đầy. Còn trước đó thì cần tránh tất cả những hiểu lầm và sai lệch. Vì vậy, mà các môn đệ cũng phải tuân theo sự nghiêm cấm của Giêsu.
Sau khi nghiêm cấm, Giêsu bảo họ cho con bé ăn. Tại sao Giêsu lại nói như vậy? Như Giêsu khi sống lại cũng ăn uống trước mặt các môn đệ của mình, thì giờ đây em bé gái sống lại cũng ăn uống trước mặt cha mẹ em. Theo các nhà chú giải, thì ai ăn, người đó không chết, và ai ăn cũng không phải là quỷ ma. Người đó sống như là một thụ tạo thực sự của Thiên Chúa. Và theo Paul Billerbeck, thì việc ăn uống của người bệnh là chứng minh sự khỏe mạnh của họ.
Tham khảo
- Rudolf Pesch, Das Markusevangelium, Herder Verlarg, Freiburg 2000. Sonderausgabe, Band II/1
- Adolf Pohl, Das Evangelium des Markus, R. Brockhaus Verlag Wuppertal 2005, Wuppertaler Studienbibel NT 1.
- Eduard Schweizer, Das Evangelium nach Markus, Neues Goetinnger Bibelwerk, Vandenhoeck & Ruprecht Verlag, Göttingen 1978
- Hermann L. Strack & Paul Billerbeck, Kommentar zum neuen Testament aus Talmud und Midrasch, 2.Band, C.H. Beck Verlag, Münche 1978
- Hans Urs von Balthasar, Licht des Wortes, Johannes Verlag Einsiedeln, 3. Aufl., Freiburg 2001.