CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN B

LỜI NGUYỆN CẦU TẠ ƠN

(Mc 5, 21)

Thưa quý vị !

Tôi dám quả quyết chúng ta có một kho tàng quý báu để rao giảng. Nhưng thường khi bị bỏ quên. Đó là các Thánh vịnh. Thử hỏi có mấy vị sử dụng kho tàng này để suy tư và rao giảng sau bài đọc thứ nhất của mỗi Chúa nhật ? Riêng phần tôi, tôi cũng thấy rất khó sử dụng đáp ca cho bài thuyết giảng. Bởi lẽ tôi là một nhà giảng thuyết lưu động, lang thang nay đây mai đó. Các ca đoàn thì chọn đáp ca tùy hứng, chỉ cần nội dung tương tự là đủ. Cho nên khi đến một giáo xứ, tôi hoàn toàn không biết trước Thánh vịnh nào được chọn để đọc đáp ca. thành thử việc đặt chương trình cho các bài giảng dựa trên Thánh vịnh thật là khó. Hơn nữa đáp ca các lễ thiếu nhi người ta ưa hát ca khúc vào đời hơn là Thánh vịnh ! Lúc ấy việc lựa Thánh vịnh để rao giảng kể như không thực hiện nổi. Vậy hôm nay tôi không có chủ đích lựa chọn một Thánh vịnh đặc biệt nào để suy tư, nhưng toàn bộ Thánh vịnh dùng cho Thánh ca. Càng ngẫm nghĩ nhiều về chúng, tôi càng thấy chúng phong phú. Nhiều vị Thánh đã nêu ra tính ngọt ngào của Thánh vịnh. Điều này đúng với những linh hồn sùng mộ. Đọc lướt qua, không thể cảm nghiệm Lời Chúa trong các Thánh vịnh. Thật đáng tiếc cho những linh hồn nông nổi, ưa thích những hoạt động bên ngoài, đọc thần vụ một cách máy móc, vội vàng.

Thí dụ, nếu bạn chắc chắn Thánh vịnh 30 sẽ là đáp ca của Chúa nhật này. Hãy đọc nhiều lần, bạn sẽ thấy nó súc tích vô cùng. Một bài giảng tốt cho cộng đồng. Nhưng nếu bạn không có bổn phận thuyết giảng, nó sẽ là lời cầu nguyện sốt sắng sau khi nghe bài đọc. Nó sẽ sửa soạn bạn bước vào phụng vụ Lời Chúa và Thánh Thể, một cách hoàn hảo. Thực tình, các Thánh vịnh đều có khả năng trở thành lời cầu nguyện riêng tư của từng linh hồn. Phụng vụ chọn Thánh vịnh làm đáp ca, bởi chúng là những giây phút đặc biệt linh hồn đáp lại tiếng Chúa trong các bài đọc. Nó cống hiến cộng đoàn cơ hội dấn thân tích cực vào lời mời gọi của Thiên Chúa trong Kinh Thánh. Mà vì Thánh vịnh là thơ phú nhịp nhàng cho nên nó có khả năng diễn tả cảm xúc cách thi vị. Âm nhạc của nó có hiệu quả tức thời trên cộng đoàn và thấm nhập lòng người rất bền lâu. Tôi thường thấy mình bị thu hút cách khác thường khi nghe ca đoàn khéo léo xướng Thánh vịnh. Lời lẽ và âm hưởng của nó phảng phất mãi trong tâm hồn tôi, ngay cả sau các buổi phụng vụ.

Một trong các tính chất của Thánh vịnh là trực tiếp thân thưa với Thiên Chúa, cho nên chúng nhanh chóng giúp đỡ chúng ta đi vào tâm tình cầu nguyện. Các Thánh vịnh thường dùng ngôi thứ nhất số ít hoặc số nhiều, cho nên tức khắc chúng trở nên lời cầu nguyện của chúng ta. Bởi khi nói lên nỗi lòng của mình, chúng ta dùng ngôi thứ nhất. Các trích đoạn trong Kinh Thánh khác trong phụng vụ đòi hỏi suy nghĩ và áp dụng. Nhưng Thánh vịnh là trực tiếp, không cần một trung gian nào cả. Chúng ta có thể giãi bày lên Thiên Chúa các khát vọng của con tim như cảm tạ, đội ơn, chúc tụng, đau khổ, nhọc nhằn, vướng mắc…. Thánh vịnh có khả năng tức thời cung cấp ngôn từ cần thiết để diễn tả các nhu cầu đó, mà không cần khổ công tìm kiếm: “Lạy Chúa, tôi ca tụng Chúa vì đã giải thoát tôi, và không để quân thù hỉ hoan về tôi” (Tv 30, 2). Thường thường các Thánh vịnh đưa chúng ta vào truyền thống cầu nguyện của tổ tiên trong đức tin bởi họ cũng cầu nguyện bằng Thánh vịnh trong các giai đọan khác nhau của lịch sử. Những lời cầu nguyện của Chúa Giê su cũng trong truyền thống ấy. Ngài thường đọc Thánh vịnh. Các tác giả Tân ước cũng năng trích dẫn Thánh vịnh. Đôi khi họ còn đặt những trích dẫn vào môi miệng Đức Kitô.

Xét trong tất cả các sinh hoạt thờ phượng của Giáo hội, thì chẳng nghi lễ nào mà không dùng Thánh vịnh. Thường thường nó được sử dụng như đáp ca sau bài đọc 1. Cũng vậy trong phụng vụ Thánh Thể, Thánh vịnh cũng là lời đáp trả của tín hữu sau các bài đọc. Như vậy hai bên bổ túc cho nhau: Suy niệm trên các bài đọc giúp đỡ tiến tới lời đáp trả và suy niệm trên các Thánh vịnh sẽ nhận ra sự súc tích của Lời Chúa trong các bài đọc. Nhưng các bài đọc dọn đường cho chúng ta đi vào Phúc âm. Cho nên toàn bộ phụng vụ Lời Chúa là một tổng thể hợp nhất để tín hữu suy tư và cầu nguyện.

Chúng ta khá dài dòng về các Thánh vịnh đáp ca, hy vọng quý vị sẽ mở rộng thêm và nhật ra tầm quan trọng của nó trong cuộc sống thiêng liêng. Bây giờ xin đi vào chi tiết của đáp ca Thánh vịnh 30 đối với Phúc âm hôm nay. Nói chung các Thánh vịnh được chia thành nhiều loại: Cầu xin, tán tạ, ngợi khen, than vãn, thống hối, tin tưởng…. Thánh vịnh 30 là lời tạ ơn. Nó được dùng như đáp ca của bài đọc sách Khôn ngoan. Đến lượt mình, sách khôn ngoan dọn đường cho trình thuật Thánh Marcô về việc Chúa Giê su chữs lành người đan bà mắc bệnh loạn huyết 12 năm và phục sinh con gái ông Giairô cũng 12 tuổi. Quyền năng chữa lành và phục sinh của Chúa Giê su được phản ánh trước trong sách khôn ngoan, tức bài đọc 1: chúng ta biết Thiên Chúa tác tạo nên nhân loại để được sống “bất tử”. Bởi lẽ, được dựng lên theo hình ảnh (image) và họa ảnh (likeness) của Thiên Chúa, Đấng muôn đời tồn tại. Sự chết là tác phẩm của Satan và tội lỗi. Như vậy lằn ranh đã rõ ràng: sự sống thuộc quyền Thiên Chúa. Sự chết là của Satan và tội lỗi. Chết ở đây không chỉ có nghĩa vật chất mà cả phần tâm linh. Chết về phần tâm linh là chết đời đời, sách Khải huyền gọi là cái chết thứ hai (Kh 21, 8). Nhưng sống trong tương giao tốt với Thiên Chúa sẽ không bao giờ bị trầm luân. Bởi sự công chính có tính vĩnh cửu. Nếu không vĩnh cửu thì làm thế nào được gọi là công chính ? tương tự, chân lý cũng có tính vĩnh cửu, bằng không chẳng thể được gọi là sự thật ! Vậy muốn sống đời đời người ta phải yêu chuộng công chính và sự thật.

Đó là lý do hôm nay tín hữu đáp lời khôn ngoan của Thiên Chúa trong bài đọc 1 bằng Thánh vịnh 30: “Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn tôi thoát xa âm phủ, đã cứu tôi khỏi số người đang bước xuống mồ”. Dân Do thái dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì đã cứu họ thoát khỏi các khủng hoảng và tai họa. Theo các nhà phân tích, thì Thánh vịnh này được dùng như lời cầu nguyện, tạ ơn thời Maccabêo. Vua Antiocho đã phá tan đền thờ và đất nước. Macacbêo khôi phục lại và dâng lễ tạ ơn. Dân chúng vui mừng cảm tạ Thiên Chúa vì đã cứu vớt dân tộc. Chúng ta cũng có thể liên tưởng đến trường hợp người đàn bà loạn huyết và con gái ông trưởng hội đường Giairô. Chủ đề của toàn thể Thánh vịnh là Thiên Chúa giải cứu tác giả. Đây cũng là chủ đề của toàn bộ Kinh Thánh và người ta thấy nó được nhắc lại luôn: Thiên Chúa đi bước trước để giải cứu loài người, kẻ không thể tự thân giải thoát. Tác giả thánh vịnh hiểu rõ bản chất của ơn Thiên Chúa, là luôn luôn cứu vớt một cách nhưng không, chẳng do công nghiệp của ai cả. Điều chi khiến Chúa hành động như vậy ? đó là tính bất lực về phía con người. Chúa Giê su cữu chữa người đàn bà loạn huyết và con gái ông Giairô cũng nằm trong phạm trù này. Người con gái đã chết và người đàn bà bị bệnh đã 12 năm. Phúc âm nói, bà đã bị tan gia bại sản để chạy chữa mà bệnh tình vẫn không thuyên giảm, trái lại ngày càng nặng hơn. Vậy thì bà bất lực.

Thế còn trường hợp của tác giả Thánh vịnh ? chúng ta không rõ, nhưng căn cứ vào ngôn từ của ông, người ta có thể đoán ra cũng vô vọng không kém. Những từ như âm phủ, vực sâu, than khóc, chứng tỏ ông ở trong tình trạng thê thảm mà nay đã được cứu thoát. Ông kêu gọi mọi người dâng lời tạ ơn Thiên Chúa. Ngày nay khi đọc Thánh vịnh 30, các tín hữu cũng được mời gọi hành động tương tự để nhớ lại công trình của Thiên Chúa trên mỗi cuộc đời: “Hát lên mừng Giavê, một bài ca mới, hết thảy những ai kính sợ Ngài.” Họ phải họp nhau cử hành thờ phượng Thiên Chúa, như chúng ta hôm nay trước bàn thờ Thánh Thể. Chúng ta cùng ca hát Thánh vịnh ngợi khen Thiên Chúa với tất cả tấm lòng sốt sắng.

Nhưng có những lúc, chúng ta quá mệt mỏi, cạn kiệt sức lực, không còn ước ao cầu nguyện, thì làm thế nào Thiên Chúa cứu vớt chúng ta ? Ai là những dụng cụ để Ngài ra tay giải thoát ? Lúc ấy, Thánh vịnh 30 khích lệ chúng ta nhìn chung quanh mình và vào những điều Thiên Chúa thực hiện cho mình. Những điều mình đã kinh nghiệm bàn tay Thiên Chúa mà cất tiếng ngợi khen: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa” (câu 5). Lại còn những thời gian chúng ta tuyệt vọng, đến nỗi tưởng mình bị quên lãng trong vực thẳm, cuộc đời đã ném chúng ta xuống âm phủ, thì ngoài là Thánh vịnh tạ ơn, nó còn là lời cầu nguyện của đức tin, xác quyết Thiên Chúa trông thấy rõ hoàn cảnh và sẽ ra tay cứu vớt: “Với Chúa ở bên hữu, tôi chẳng hề nao núng.” (câu 7). Tự thân, chúng ta sẽ cạn kiệt, nhưng với quyền năng Thiên Chúa, chúng ta chẳng bao giờ tiêu vong. Phúc âm hôm nay chứng tỏ điều đó. Chúa Giê su cứu vớt người đàn bà bệnh hoạn và phục sinh bé gái con ông Giairô không phải là quyền năng vô biên sao ? tác giả Thánh vịnh đã không lầm khi tuyên bố: “Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho tôi” (câu 12). Rồi có những lúc tác giả quên rằng Thiên Chúa là tạo hóa, chúng ta là tạo vật, chúng ta đang ở chốn tối tăm, đang dần dần bị chìm vào quên lãng, thì tỉnh cảnh ấy thúc đẩy bật lên lời cầu khẩn: “Chúa được lợi gì khi con phải chết, được ích chi nếu con phải xuống mồ ? Nắm tro tàn làm sao ca tụng Chúa và tuyên dương lòng thành tín của Ngài ?” (câu 10). Như vậy, tác giả công bố đức tin vào lòng thương xót Chúa và xác quyết: “Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng thương yêu, thương suốt cả đời.” (câu 16). Cho nên, tại cuộc đời tác giả và từng người, lòng thương xót và thiện tâm của Thiên Chúa luôn vững bền.

Chúng ta chẳng bao giờ biết được hoàn cảnh và tình trạng của tác giả thánh vịnh 30. Điều này làm nhiều người không thỏa mãn tính tò mò. Dầu sao, chúng ta có thể sử dụng tác phẩm trong nhiều tình huống khác nhau. Như là lời cầu nguyện tạ ơn vì Chúa cho thoát khỏi nguy hiểm, bệnh tật, tai họa, khổ đau, tinh thần cũng như phần xác. Như là lời cầu xin đức tin, đức cậy, đức mến khi gặp gian nan, thử thách. Như là hy vọng, khi còn đang chịu đựng khốn khó cần tay Chúa giải cứu. Tuy là Thánh vịnh tạ ơn vì những sự kiện quá khứ, nhưng điều chi Thiên Chúa đã thực hiện, thì Ngài cũng sẽ ra tay lúc này và mãi mãi về sau cho những ai tin kính và cậy trông lòng nhân hậu của Ngài.

Nhưng lời tạ ơn của tác giả cũng như của chúng ta kéo dài bai lâu ? Tác giả nói là vĩnh viễn: “Lạy Chúa là Chúa con thờ, xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu” (câu 13). Vậy thì trước bàn thờ Thánh Thể, chúng ta là một phần của “mãi mãi ngàn thu” ấy. Đó kông phải là vinh dự lắm sao ? Chúng ta được hạnh phúc hát lên bài ca Thánh vịnh 30 cùng với toàn thể công đồng giáo xứ và Giáo hội trong buổi phụng vụ này. Hy vọng nó sẽ vang vọng mãi suốt cuộc đời tín hữu, cho đến thời viên mãn. Quả thật, Thánh vịnh 30 và bài Tin mừng nhắc nhớ chúng ta quyền năng vô tận và vĩnh viễn của Thiên Chúa, luôn sẵn sàng cho mỗi chúng ta trong mọi tình huống chúng ta thấy mình cạn kiệt, tuyệt vọng. Amen