TRUYỀN GIÁO, Lệnh Truyền Của Thầy



Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II trong tông thư Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba, đã hy vọng sẽ có một mùa gặt phong phú trong cánh đồng truyền giáo tại Á Châu trong thiên niên kỷ này. Nhưng đồng thời, ngài cũng nói đến những thách đố rất lớn tại lục địa này, là nơi các tôn giáo lâu đời đã ăn rễ sâu đậm. Trong Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu, Đức cố Giáo Hoàng đã phân tích kỹ lưỡng bối cảnh đầy phức tạp về chính trị, xã hội tại lục địa này. Hai văn kiện trên nói lên sự quan tâm sâu xa của ngài về việc truyền giáo tại nơi chúng ta đang sống.

Gần đây, tháng 12/ 2005 vừa qua, Đức hồng y Crescensio Sepe, bộ trưởng bộ truyền giáo đã đến Việt Nam. Trong các bài nói chuyện quan trọng của ngài nơi hai Đại Chủng Viện, ngài đã đề cập về truyền giáo cách đặc biệt, ngài ngỏ lời với các thầy tại Hà Nội: “hãy có một trái tim truyền giáo”, và đề cập đầu tiên về huấn luyện truyền giáo trong bài nói chuyện với các thầy ở Sai Gòn, “Hãy mở rộng cho những nhu cầu của Giáo Hội và thế giới, chú ý đến những ai sống ở xa nhất và nhất là những nhóm anh chị em không Kitô trong môi trường sinh sống” Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Hiệp Thông số 33, Văn phòng Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục, 2006, t. 51..

Xem ra cái nhìn từ bên ngoài bao giờ cũng thấy nổi bật việc cấp bách là công việc truyền giáo, và thực chất ai cũng biết đất nước chúng ta thuộc vùng truyền giáo, địa phận chúng ta, cánh đồng truyền giáo còn mênh mông; nhưng dường như trong các công tác mục vụ, nét cần làm nổi bật đó chưa được thực hiện đúng mức, những giáo xứ chưa phải là những giáo xứ “mở” trong những điều kiện có thể, và chưa được chuẩn bị để mở ra bên ngoài khi thời điểm cho phép. Những dòng suy niệm này muốn góp phần khơi lên một trái tim truyền giáo như ý Hội Thánh mong muốn.

Dòng suy tư xin được khởi đi từ những thống kê, đến vài hiện tượng xã hội nổi bật có liên quan, rồi tới những khuynh hướng thần học đang ảnh hưởng đến việc truyền giáo, cuối cùng đặt mình trước những dự phóng thực hành.

I- TỪ THỐNG KÊ

1- Những Con Số Không Vui

Thường khi nói đến truyền giáo, người ta đưa ra các thống kê, ví dụ như năm 1995, tỷ số Công Giáo so với dân số thế giới là 18, 26%; năm 1996:16,88%; năm 1997: 16,84%; năm 1998: 17,79%; năm 1999: 17,30%; năm 2000: 17,28%. Nhìn vào Á Châu con số còn bi đát hơn với tỷ số là 3% người Công giáo so với số dân, còn ở Việt Nam, tỷ số vui hơn một chút là 7,94% Felipe, Truyền Giáo Học, Antôn & Đuốc Sáng, 2003, t. 24.. Nhưng có một điểm chung là các con số trên tính từ bốn chục năm qua càng ngày càng giảm. Đoàn chiên càng ngày càng trở nên nhỏ bé. Nó sẽ còn nhỏ bé tới mức độ nào? Chúng ta đã thấy những cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi mà chúng ta hằng ngày đọc trong Thánh Kinh chỉ còn có cái tên trên các bài đọc mà thôi! Và ngày hôm nay, Giáo Hội cũng đang lo lắng kêu gọi giúp đỡ những cộng đoàn Kitô hữu ở Đất Thánh để họ khỏi biến mất khỏi nơi phát xuất ra đạo Công Giáo.

Trong địa phận, chúng ta thấy có những bước tiến vui mừng, ví dụ năm 1999, từ 63 linh mục đã lên tới 117 vào năm 2005 chưa kể 19 thầy được thụ phong linh mục trong tháng 7-2006 này. Tu sĩ từ 207 lên tới 320. Nhưng tỷ số dân Công Giáo so với dân số không tăng cùng nhịp bước vui mừng đó mà chỉ nhích lên chút ít, năm 1999 từ 4,83% (Công Giáo: 94.166 / dân số: 1.948.510) nhích lên 4,91% vào năm 2005 (Công Giáo: 120.000/ dân số: 2.443.694). Nhưng chúng ta có nghiên cứu xem sự “nhích lên” này là do công tác truyền giáo hay là do dân nhập cư, hoặc sinh sản tự nhiên?

Nhất là còn một số đông những người sắc tộc chưa nhận biết Tin Mừng Tòa Giám Mục Phú Cường, Kỷ Yếu Giáo Phận Phú Cường 1965-2005, Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005, t. 36-37; 73., mà chúng ta dường như chưa thực hiện được những quan tâm đúng mức đối với vùng truyền giáo đầy hứa hẹn này.

2- Những Con Số Không Phải Là Tất Cả

Những con số lạnh lùng trên chưa nói hết chuyện. Châu Âu và Bắc Mỹ có vẻ là Kitô hữu, nhưng không sống đạo. Giới trẻ hoặc không sống đạo hoặc không được rửa tội. Tệ hơn nữa là những xã hội này muốn loại mọi dấu vết của Kitô giáo ra khỏi sinh hoạt của mình. Trong dịp ấn hành đồng tiền chung Âu Châu cách nay ít năm, đồng Euro, có ý kiến cho rằng nét chung của nền văn hóa Âu Châu chính là Kitô giáo, vì vậy, nên trang trí hình mái vòm nhà thờ trên đồng tiền mới này, nhưng ý kiến trên đã không được chấp nhận vì chủ trương thế tục hóa đã quá mạnh. Tại các châu này, số người vô thần hoặc vô tôn giáo thật ra lớn hơn nhiều, nhất là số những người sống “như không có Thiên Chúa”.

Những chuyện đó không phải là chuyện ở xa xôi, chưa ảnh hưởng tới Việt Nam. Khi những khó khăn từ xã hội giảm dần đi, thì những khó khăn khác lại xuất hiện trong Giáo Hội. Tuy nhà thờ mới khang trang và thánh lễ vẫn còn đông tín hữu, nhưng những thanh niên bắt đầu lui dần ra bên ngoài để xem lễ “vọng”. Ở những xứ nhỏ, vấn đề nhân sự bắt đầu khó khăn, các hội đoàn thưa người không tổ chức được. Ở cấp giáo phận, con số ứng sinh đang giảm đáng kể, những giáo xứ kỳ cựu xưa nay cung cấp nhiều ơn gọi bỗng nhiên không tìm được người dấn thân nữa, có thể nói những khó khăn này đến ngay từ trong lòng Giáo Hội khi tiếp xúc với khuynh hướng tục hóa và nền văn minh hưởng thụ vật chất đến từ bên ngoài. Ngày xưa, Giáo Hội tại Âu Châu đang hăng hái ra đi truyền giáo thì “hậu phương” bị tan rã, làm cho đoàn người ra đi giảm mạnh và mất cả nhuệ khí. Ở Việt Nam, chúng ta phải làm gì khi sự hăng hái tấn công của “hàng tiền đạo” chưa đủ, thì đã bắt đầu có những nguy cơ suy yếu “hàng hậu vệ”?

II- ĐẾN NHỮNG HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI

1. Việc Đô Thị Hóa và Di Dân

Phát triển kinh tế luôn kéo theo việc đô thị hóa và di dân từ những miền quê đổ lên tỉnh, những vùng thu nhập thấp kéo đến những vùng có thu nhập cao. Trong tương lai gần đây, đa số dân thế giới, kể cả người Châu Á và Châu Phi, sẽ sinh sống và hoạt động trong các đô thị lớn. Hiện tượng này đặt ra nhiều vấn đề về mọi phương diện trong đó có việc truyền giáo. Chúng ta nên lưu ý là Kitô giáo bắt đầu ở trong các đô thị: các tông đồ, nhất là Phaolô đã chọn các thành phố để rao giảng Tin Mừng Felipe Gomez, Truyền Giáo Học, Antôn & Đuốc Sáng, 2003, t. 25..

Trong giáo phận chúng ta, nhiều giáo xứ đang tràn ngập các nhu cầu mục vụ cho những người di dân làm ăn hoặc học hành. Giáo Hội cần chuẩn bị các thừa sai đặc biệt cho các đô thị. Vô số những người di dân này đang phải sống trong tâm trạng lo âu và hoang mang, âu lo cho tương lai ở vùng đất mới, hoang mang vì đã rời xa những lề lối cổ truyền bấy lâu đã từng giúp họ giữ vững đức tin và ổn định cuộc sống xã hội. Trong khung cảnh đô thị, họ phải sống cô đơn, vô danh, bơ vơ về mặt luân lý, dễ bị lôi kéo về đàng xấu, nhưng cũng dễ mở lòng đến với tôn giáo để có một chỗ nương tựa tinh thần Ibid, t. 25.. Giáo Hội có thể cung cấp cho họ một “gia đình” thiêng liêng, một căn tính mới cả tâm lý lẫn tôn giáo, trong môi trường vô danh nơi các đô thị. Giáo Hội phải suy nghĩ để tổ chức cộng đoàn sao cho mỗi thành viên đều được đón tiếp và sống tình thân ái tương trợ.

Một trong các lý do quan trọng làm xuất hiện các giáo phái là các thành viên của một cộng đoàn bị chìm lỉm, vô danh giữa cộng đoàn lớn lao của mình. Không ai quan tâm, không ai biết đến họ, họ sống cách “vô danh” trong Hội Thánh. Họ chạy đến các giáo phái vì tìm được nơi đây sự quan tâm chăm sóc, một tình thân ái tương trợ. Từ kinh nghiêm đau thương đó, ta mới thấy tình trạng “vô danh” của những người nhập cư có mối nguy hiểm dường nào! Vì thế, các cộng đoàn cơ bản có thể đóng góp một vai trò hết sức tích cực trong lãnh vực mục vụ đô thị ngày mai.

2. Toàn Cầu Hóa và Mạng Lưới Internet

Hiện tượng Toàn Cầu Hóa trước tiên mang tính cách kinh tế và văn hóa, nhưng cũng kéo theo những hệ lụy về tôn giáo. Một siêu thị có thể bày bán những sản phẩm của khắp nơi trên thế giới. Các công ty địa phương cũng đang làm việc cho các công ty mẹ ở nước ngoài. Đâu đâu trên thế giới, người ta cũng thấy những người trẻ trang phục hệt như nhau, đều chạy theo những “phong trào” giống nhau, những phim ảnh và chương trình truyền hình như nhau, ví như tháng 6 này khắp các hang cùng ngõ hẻm trên thế giới cùng lên một cơn sốt chung, World Cup. Trong các tiệm sách, lẫn lộn những tác phẩm nội ngoại. Trong xã hội, những phong tục tập quán nước ngoài đang ảnh hưởng, gần đây chúng ta thấy Việt Nam cũng mừng ngày lễ Tình Yêu, Ngày Hiền Mẫu, Ngày Hiền Phụ v.v…

Trong lãnh vực tôn giáo, ý niệm về một “siêu thị tôn giáo” đang hình thành, làm như mỗi người có thể tự chọn lấy tôn giáo cho mình hoặc tùy nghi pha trộn các yếu tố của các tôn giáo theo sở thích riêng. Trong cuộc sống chung với các tôn giáo khác, Kitô giáo phải đương đầu với một thái độ coi mọi giá trị đều tương đối, tôn giáo nào cũng tốt. Đức Kitô chỉ là một vị thầy trong những vị thầy khác. Như thế khó có thể nói về “tôn giáo thật”.

Nếu phải so sánh, theo con mắt loài người, Kitô giáo và các Kitô hữu chưa chắc đã xuất sắc hơn các tôn giáo khác và tín đồ của họ. Để làm thừa sai thời nay, không phải chỉ cần được đào tạo chu đáo hơn mà thôi, nhưng nhất là còn phải trở nên thánh thiện hơn. Không những vì dấu chỉ thời đại đòi hỏi, như Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Con người hôm nay cần chứng nhân hơn là thầy dạy”, mà còn do nét văn hóa Việt Nam cũng như Á Châu: “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”.

Mạng lưới Internet cũng đóng góp thúc đẩy cho hiện tượng toàn cầu hóa tiến nhanh, và tạo ra một nếp “văn hóa” mới. Thế giới trở thành một ngôi làng nhỏ. Trước máy vi tính, cả thế giới hiện ra trước mặt mà không phải di chuyển một chút nào. Mạng Internet cung cấp vô số những thông tin, liên lạc, làm ăn, kiến thức, tiêu khiển … cả tốt lẫn xấu. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có những bài nói chuyện khuyên các mục tử, tín hữu lưu tâm đến lợi ích và tác hại của Internet và sử dụng phương tiện truyền thông hiện đại này để truyền bá Tin Mừng.

III- TỚI NHỮNG KHUYNH HƯỚNG THẦN HỌC MỚI

VỀ TRUYỀN GIÁO

Công đồng Vaticanô II nhìn nhận những giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo như là những mầm giống của Tin Mừng, nên sau Công Đồng, truyền giáo học bị ảnh hưởng nặng do khủng hoảng quan niệm về việc truyền giáo. Từ những người bảo thủ không muốn thay đổi gì cả, đến những người chủ trương phải ngưng hẳn việc truyền giáo, chỉ cần giúp người ta sống tốt đẹp hơn trong tôn giáo của mình. Giáo Hội đã chính thức lên tiếng trả lời những vấn nạn. Đức Phaolô VI, trong Ecclesiam suam đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ số một của Giáo Hội là rao giảng Lời Chúa. Sau đó trong thông điệp Populorum progressio ngài đã đưa Giáo Hội dấn thân vào công cuộc phát triển, và coi đó như là “tên gọi mới của hòa bình”. Đối với Đức Gioan Phaolô II, trong Ut unum sint ngài coi đại kết là điều kiện thiết yếu cho công tác truyền giáo. Đồng thời, trong các tông huấn ban bố sau các hội nghị của mỗi địa lục, ngài luôn luôn nhắc nhở đến công tác tân phúc âm hóa, và hội nhập văn hóa, yếu tố sau cùng này được Hội Đồng Giám Mục Á Châu khai triển rất nhiều trong các văn kiện của mình.

Một điểm mới nữa là công việc truyền giáo cần phải có tính “toàn cầu” nghĩa là cần phải rao giảng Tin Mừng ở khắp nơi, vì ở đâu cũng có những nhóm người chưa bao giờ được biết Đức Kitô. Vì thế, việc sai phái các vị truyền giáo phải là một việc làm hai chiều. Mỗi giáo hội đều sai phái và đón nhận, như thế là mọi giáo hội địa phương đều phải đặt mình trong “tình trạng truyền giáo”.

Vấn Tâm

Trong lãnh vực truyền giáo, nhiều nhận xét cho rằng Giáo Hội Việt Nam chúng ta ảnh hưởng văn hóa làng xã với những sinh hoạt đóng khung trong lũy tre làng, thiếu hẳn tinh thần mạo hiểm, vươn ra những chân trời xa rộng, kỳ thú. Có những làng, xã đã theo đạo lâu năm, sinh hoạt hết sức rầm rộ, bên cạnh những làng xã khác không biết gì đến Chúa, mà hai bên như hai thế giới rất xa lạ không bao giờ có liên lạc qua lại.

Nhận xét khác cho rằng đã từ lâu, về kinh tế chúng ta được trợ cấp từ các giáo hội, xã hội nước ngoài, nên quen sống tinh thần đón nhận hơn là cho đi. Việc truyền giáo đòi chúng ta phải cho đi rất nhiều, trong mọi mặt, không chỉ giới hạn ở những vùng trong đất nước mà còn phải trao đổi thừa sai với thế giới bên ngoài, như việc truyền giáo đòi hỏi.

Chúng ta thường nói cánh đồng truyền giáo còn bao la, nhưng cái bao la đó có làm chúng ta cố gắng vươn lên hay làm chúng ta sợ hãi, an phận? Bản chất Giáo Hội là truyền giáo, nhưng chúng ta, những vị thừa sai của Tin Mừng đã ý thức công việc cần thiết đó thế nào và dồn bao nhiêu nỗ lực để thực hiện công việc đó?

Có thể chúng ta chỉ muốn yên ổn với những con chiên lành và ngại phải ra đi vì đòi chúng ta phải hy sinh nhiều hơn, vất vả hơn mà sự “thu hoạch” còn xa vời. Cũng có thể chúng ta đã mất hẳn nhuệ khí truyền giáo hoặc nghĩ rằng chỉ cần làm cho họ sống tốt trong tôn giáo của họ là được rồi!

Chúng ta có cố gắng tạo một giáo xứ với tinh thần truyền giáo, mở rộng tâm hồn ra bên ngoài đến lương dân? Mọi hành động đều bắt nguồn từ ý thức, ý thức thường bắt nguồn từ giáo dục. Các bài giáo lý, các bài giảng không thể thiếu khía cạnh truyền giáo, các hội đoàn cần được huấn luyện để đừng đóng khung trong những sinh hoạt với những thành viên đạo đức của mình, mà cần đi đến với lương dân.

Nên chăng giáo phận có một văn phòng, có những người chuyên nghiên cứu về ngôn ngữ, phong tục, nếp sống của những người dân tộc đang chiếm một số lượng lớn trong địa phận để cung cấp cho những vị thừa sai tại những vùng đặc biệt này.

Nên chăng giáo phận có phòng trưng bày những nét văn hóa các sắc tộc cư ngụ trong địa phận để vừa gây ý thức, vừa thúc đẩy việc rao giảng Tin Mừng trên cánh đồng truyền giáo mầu mỡ này. Trong tinh thần đó, những ngày lễ lớn của địa phận, những nghi thức rước kiệu, dâng của lễ không thể thiếu những đoàn người dân tộc, và tiếng cồng chiêng phải bao trùm hơn tiếng kèn đồng, không những để mọi người ý thức về bổn phận truyền giáo mà còn giúp những người anh em dân tộc cảm thấy họ đang ở trong trái tim của địa phận.

Có thể nhiều giáo xứ đang làm những công tác mục vụ với những người di dân rất thành công, nhưng chúng ta đang thiếu một sự chia sẻ cách khoa học như viết lại những kinh nghiệm đó trên những trang tài liệu truyền giáo cách hệ thống, thay vì nói vài lời sau buổi tĩnh tâm để rơi vào quên lãng và khi một giáo xứ khác tới việc lại phải mò mẫm từ đầu.

Những lời viết trong kỷ yếu 40 năm thành lập địa phận làm chúng ta phải suy nghĩ:”Giáo phận Phú Cường từ ngày thành lập được xác định là giáo phận truyền giáo. Vì thế vấn đề gây ý thức về bổn phận truyền giáo, học tập và tổ chức hoạt động truyền giáo luôn được quan tâm hàng đầu”. Giáo Phận Phú Cường, Kỷ Yếu Giáo Phận Phú Cường 1965-2005, Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2005, t. 37.

Hướng Về Vĩnh Cửu

Đa số các vị thừa sai Hội Truyền Giáo Paris đã làm việc tại Á Đông trong những thập niên trước 1975, nay đã lớn tuổi và đang ở nhà mẹ, khi được hỏi: Cha mong ước điều gì nhất trong lúc này? Tuyệt đại đa số đều có câu trả lời giống nhau là muốn trở lại nơi truyền giáo xưa, và dâng hiến những gì còn lại của cuộc đời, để cuối cùng được vùi thân trong mảnh đất truyền giáo, bên những người thân yêu đã được họ rao truyền đức tin. Một câu trả lời hết sức cảm động!

Cái gì đã làm cho các vị thừa sai đó yêu quí nơi truyền giáo hơn cả quê hương giầu đẹp, hơn cả những người ruột thịt của mình? Chắc chắn đó là tâm tình yêu quí của các con chiên mang tinh thần “tôn sư, trọng đạo” là một nét văn hóa quý báu của Á Đông. Nhưng nhất là tinh thần truyền giáo của các vị đã đạt mức tuyệt vời. Các ngài coi việc loan báo Tin Mừng không chỉ là một nhiệm vụ nhưng là một sứ mạng, một ơn gọi cao cả. Tinh thần truyền giáo của các ngài không phải ở ngoài da, nhưng các vị đã có điều mà Đức Hồng Y Crescencio Sepe nói: ”Hãy có một trái tim truyền giáo”.

Cuộc đời những vị truyền giáo kết thúc rất khác nhau, có vị phải hy sinh mạng sống mình vì sứ mạng, có vị bị trục xuất khỏi đàn chiên hoặc về hưu và chết cô đơn, có vị hạnh phúc nhắm mắt giữa những tiếng khóc thương của những người con cái thiêng liêng v.v… Những điều đó không nên làm chúng ta quá bận tâm, nhưng nên noi gương vị truyền giáo vĩ đại là thánh Phaolô. Để trong khi rao truyền Tin Mừng, chúng ta có thể cùng ngài thốt lên: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc Âm” và khi giờ ra đi đã gần, chúng ta có thể an vui như ngài:”Còn tôi, tôi đã nên như lễ vật dâng tiến; giờ chết của tôi đã gần. Tôi đã chiến đấu anh dũng, đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững đức tin. Tôi chỉ còn đợi lãnh triều thiên công chính mà Chúa là Đấng Thẩm Phán công chính đã sắm sẵn cho tôi”.