Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội và các tín hữu
Anh em linh mục, các tu sĩ nam nữ, các chủng sinh
và toàn thể anh chị em giáo dân thân mến,
“Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội” là tựa đề chương 6 của Hiến chế về “Lời Chúa” của Công đồng Vaticanô II, đồng thời cũng là đề tài của Đại hội Quốc tế tại Roma từ ngày 14 -18 tháng 9 năm 2005 nhân dịp kỷ niệm 40 năm ban hành Hiến chế quan trọng này.
Với đề tài này, cả Công Đồng lẫn Đại Hội quốc tế 2005 muốn làm cho mọi người ý thức về địa vị quan trọng của Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng như mỗi tín hữu. Công Đồng và Đại Hội muốn tìm phương thế để đưa Sách Thánh đến với từng gia đình, từng tín hữu, cổ võ để mọi người coi Sách Thánh như cuốn sách tùy thân luôn mang theo với mình để đọc hằng ngày. Công Đồng và Đại Hội cũng muốn Kinh Thánh phải chiếm địa vị ưu tiên, địa vị hàng đầu, là nguyên lý gợi hứng và hướng dẫn cho mọi môn học, mọi sinh hoạt của Giáo Hội: từ việc phụng tự tới các việc tông đồ mục vụ khác.
Trong chương trình Năm Sống Lời Chúa của giáo phận, chúng ta muốn học hỏi và sống Lời Chúa. Vì thế, thử tìm xem Sách Thánh hay Lời Chúa đã, đang và phải chiếm địa vị nào trong toàn thể sinh hoạt của Giáo Hội và mỗi tín hữu.
1. Kinh Thánh trong dòng lịch sử của Giáo Hội
Thánh Phaolô viết cho môn đệ Timôtê: “Tất cả những vì viết trong Kinh Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng và có ích để giảng dạy, phi bác, sửa chữa và giáo dục cho nên công chính” (2Tm 3, 16).
Ý thức được điều đó, suốt thiên niên kỷ I, Kinh Thánh đã giữ địa vị hàng đầu và ưu tiên trong mọi sinh hoạt của Giáo Hội. Các giám mục, linh mục, tu sĩ cũng như các thần học gia đã hăng say học hỏi Kinh Thánh. Các sách đã được biên soạn, những bài giảng còn để lại cũng như những tài liệu học hỏi phần lớn là những bài giải thích Kinh Thánh. Mặc dầu Sách Thánh chưa được dịch ra các tiếng địa phương, việc in ấn còn thô sơ, tốn kém, và vì thế chưa được phổ biến rộng rãi nơi các tín hữu, tuy nhiên, mọi tín hữu đều được kêu mời siêng năng đọc hoặc nghe Lời Chúa. Danh ngôn của thánh Giêrônimô “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” đã được phổ biến rộng rãi, khiến thánh Gioan Kim ngôn quở trách những người không biết thánh Phaolô đã viết bao nhiêu lá thư. Thậm chí, Césaire, Giám mục thành Arles còn khuyên những người giầu không biết chữ, nên mướn người đọc Sách Thánh hằng ngày cho mình.
Vào khoảng đầu thiên niên kỷ II, cũng thấy phổ biến một loại Sách Thánh mệnh danh là “Sách Thánh của những người nghèo” (Biblia pauperum) dành cho những người không biết chữ có thể đọc Sách Thánh qua hình ảnh. Tới thời Trung Cổ, vì có nhiều bản dịch Kinh Thánh chứa đựng những sai lầm, nên một số Công đồng miền đã lên tiếng can thiệp, như Công Đồng Toledo năm 1229 đã cảnh báo những sai lầm của phái Albigeois, Công đồng Oxford năm 1408, cảnh báo về những sai lầm của Wicliffe. Cũng vì không muốn những sai lầm này lan rộng, nên năm 1559 Đức Phaolô IV và năm 1564, Đức Piô IV đã ra lệnh cấm in và lưu trữ những bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng địa phương, ngoại trừ khi có phép đặc biệt của Tòa Thánh. Cũng chính vì thế, từ đó đa số giáo dân ít có dịp tiếp xúc trực tiếp với Kinh Thánh bằng tiếng địa phương. Cũng từ đó, Sách Thánh chỉ được in và phổ biến bằng La ngữ theo bản dịch phổ thông của Thánh Giêrônimô. Mãi tới năm 1757, Tòa thánh mới cho phép chung các nơi được dịch Kinh Thánh từ bản Phổ Thông ra tiếng địa phương với điều kiện là được giáo Quyền chuẩn nhận và cho phép, đồng thời phải có những chú thích cần thiết. Chỉ tới đầu thế kỷ XX mới thấy xuất hiện những bản dịch Kinh Thánh từ những bản gốc.
Sự việc càng trở nên phức tạp hơn sau những tranh cãi giữa Giáo Hội Công giáo và Phái Tin Lành. Phái này nhấn mạnh tới sự quan trọng tuyệt đối của Kinh Thánh và coi nhẹ những gì được lưu truyền trong Giáo Hội từ thời các Thánh Tông Đồ. Cũng theo phái này, Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng trực tiếp cho từng người khi đọc Sách Thánh, nên không buộc phải theo những giải thích chính thức của Giáo Hội. Việc tranh cãi đã đưa đến hiệu quả tiêu cực nơi các tín hữu Công giáo, khiến càng ngày họ càng lơi là với việc đọc Kinh Thánh và Kinh Thánh cũng không còn chiếm địa vị ưu thế có sức gợi hứng và hướng dẫn mọi sinh hoạt thường ngày của họ nữa.
May thay, phong trào Kinh Thánh đã mau chóng xuất hiện, làm cho người ta ý thức hơn về địa vị ưu việt của Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng như mỗi tín hữu, đặc biệt sau Thông điệp “Providentissimus Deus” của Đức Lêô XIII (18.11.1893). Thông điệp đưa ra những hướng dẫn cho việc học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh theo những khám phá mới của khoa khảo cổ và phương pháp phê bình dựa trên những yếu tố lịch sử. Phong trào này khuyến khích các tín hữu hãy tiếp xúc trực tiếp với các sách Kinh Thánh, đọc, suy gẫm và cầu nguyện với Kinh Thánh. Để được như vậy, một đàng cần phiên dịch Kinh Thánh từ nguyên bản, nhưng đàng khác, cũng cần phải trung thành với truyền thống của Giáo Hội, nghĩa là phải lưu ý tới những điều Giáo Hội đã lưu truyền qua các sinh hoạt phụng tự, kinh nguyện và huấn giáo suốt dòng thời gian từ các Thánh Tông đồ cho tới ngày nay. Đó là những sửa soạn tốt đẹp cho việc thảo luận và những quyết định của Công Đồng Vaticanô II trong vấn đề này.
2. Giáo huấn của Công đồng Vaticanô II
Công Đồng khẳng định: “Giáo Hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân thể Chúa, nhất là trong Phụng vụ thánh. Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Kinh Thánh đã và đang được Giáo Hội xem như là qui luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh hứng và đã được ghi chép lại một lần cho muôn đời” (số 21)
Từ những khẳng định trên Công đồng ra lệnh: “Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các tín hữu … Phải ân cần đem Lời Chúa đến cho mọi thời đại … ân cần lo liệu cho các sách Thánh được dịch ra các thứ tiếng cách thích hợp và đứng đắn, đặc biệt dịch từ nguyên bản.”(Ib.)
Cũng từ đó Công đồng khuyến khích việc học hỏi Kinh Thánh, lấy Kinh Thánh làm căn bản cho mọi môn học của Giáo Hội, cử hành Lời Chúa trong khi ban các bí tích, dùng Lời Chúa trong kinh nguyện, lấy Lời Chúa là nguyên lý gợi hứng cho việc rao giảng Tin Mừng và mọi công việc mục vụ khác của Giáo Hội.
Công đồng cũng khuyên nhủ mọi thành phần Dân Chúa năng đọc, suy gẫm và cầu nguyện với Lời Chúa. Công Đồng viết: “Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là linh mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa, như các phó tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Kinh Thánh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa, nhất là trong Phụng vụ thánh, cho các tín hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành kẻ huyênh hoang rao giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe Lời Chúa trong lòng (T. Augustinô). Thánh Công Đồng cũng tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy năng đọc Kinh Thánh để học biết khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô (Pl 3, 8), vì Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô(Số 25).
3. Tình trạng hiện nay
Với những giáo huấn của Công Đồng, sau 40 năm nhìn lại, chúng ta phải công nhận rằng, cùng với Hiến chế về Phụng vụ thánh, Hiến chế về Mạc khải đã đem lại những thay đổi và những kết quả rõ rệt nhất trong đời sống Giáo Hội và các tín hữu. Tuy nhiên, nếu thử hỏi Lời Chúa đã đạt được địa vị và ảnh hưởng như Công Đồng mong ước chưa, thì chúng ta thấy có lẽ còn khá xa vời. Căn cứ vào cuộc điều tra tại một số nước Âu châu mới đây như Italia, Pháp, Tây Ban Nha, thì trong số những tín hữu thực hành đạo, 80% chỉ nghe đọc Kinh Thánh trong các giờ lễ, chỉ có 3% đọc Kinh Thánh hằng ngày. Còn nói về việc học Kinh Thánh, có lẽ tình trạng còn bi quan hơn, vì cũng căn cứ vào cuộc điều tra nói trên, trong số những người trả lời có 40% cho là Thánh Phaolô đã viết một Sách Tin Mừng, và 26% cho là thánh Phêrô cũng viết một cuốn. Không biết tại Việt Nam tình trạng có khá hơn không? Bao nhiêu phần trăm người Công giáo đọc Kinh Thánh mỗi ngày tại gia? Bao nhiêu phần trăm linh mục, tu sĩ lấy Kinh Thánh là nguyên lý hướng dẫn cuộc sống và các công việc tông đồ mục vụ của mình?
Có lẽ ở đây cần nhắc lại những lời Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khuyên các tín hữu châu Âu, cũng là khuyên các tín hữu mọi nơi rằng: “Anh chị em hãy bước vào thiên niên kỷ mới với Sách Phúc Âm! … Khi chăm chỉ học hỏi Lời Chúa chúng ta sẽ tìm thấy của ăn và sức mạnh để thi hành sứ mệnh hằng ngày của chúng ta… Hãy cầm lấy sách Phúc Âm trong tay! Hãy nhận lấy sách ấy từ Thiên Chúa, Đấng liên lỉ ban cho chúng ta qua Hội Thánh (x. Kh 8, 10). Hãy ăn nó (x. Kh 10, 9-10) để nó biến thành sự sống cho chúng ta. Hãy thưởng thức nó tới giọt cuối cùng: nó sẽ làm ta kiệt sức, nhưng sẽ cho ta được vui mừng, vì nó ngọt như mật (x. Kh 10, 9-12). Như vậy, ta sẽ được tràn trề hy vọng và có khả năng chia sẻ nó cho mọi người nam nữ ta sẽ gặp trong suốt cuộc hành trình của ta” (Th. Giáo Hội tại châu Âu, số 65).
4. Phải làm gì để Lời Chúa trở nên tâm điểm của đời sống ?
Vậy chúng ta phải làm gì để Lời Chúa có thể trở thành tâm điểm đời sống của chúng ta? Đức cha Vincenzo Paglia, Giám mục Terni, Italia, Chủ tịch Hiệp Hội Kinh Thánh Công giáo, trong bài thuyết trình tại Đại Hội Quốc tế về Kinh Thánh 2005 tại Roma đã trình bày vấn đề bằng những câu hỏi như sau: Kinh Thánh có thực sự gây hứng khởi cho đời sống của tôi trong mọi lãnh vực không? Kinh Thánh có phải là nguồn phát sinh mọi công việc mục vụ trong giáo phận và giáo xứ của tôi không? Nếu thánh Grêgôriô nói: “Kinh Thánh sẽ cùng lớn lên với người đọc”, thì chúng tôi và các cộng đồng Kitô giáo của tôi có lớn lên dưới sự chỉ đạo của Lời Chúa không?
Kinh Thánh không thể là trang sức bên ngoài cho những công việc của chúng ta, nói khác đi, chúng ta không được sử dụng Kinh Thánh để phục vụ bản thân, làm cho chúng ta được kính trọng, ngợi khen, nhưng ngược lại, phải thực sự phục vụ Lời Chúa bằng cách đặt Kinh Thánh lên hàng đầu với vị thế ưu tiên trong khi chọn lựa công việc cũng như những thứ khác.
Khi nói Kinh Thánh phải giữ địa vị hàng đầu, địa vị ưu tiên trong đời sống, chúng ta muốn đặt Lời Chúa làm nguyên lý gợi hứng cho mọi công việc, mọi ý nghĩ và toàn bộ cuộc sống của ta. Kinh Thánh phải là ánh sáng soi chiếu vào hoàn cảnh chúng ta đang sống, chứ không để hoàn cảnh làm lu mờ Kinh Thánh. Nghĩa là phải để Kinh Thánh soi sáng cho chúng ta biết phải làm gì trong hoàn cảnh hiện tại, chứ không phải giải thích Kinh Thánh sao cho hợp với hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống. Không được hiểu Kinh Thánh nhờ những ngoại cảnh, nhưng phải hiểu Kinh Thánh theo nội dung bất biến bên trong.
Một phần nội dung bên trong đó là Giáo Hội, là cộng đoàn những người tin. Những lời sau đây của Đức Bênêđitô XVI khi còn là Hồng y Ratzinger cần được ta lưu ý: “Giáo Hội không phải là Lời Chúa, nhưng là nơi Lời Chúa cư ngụ, sinh sống. Điều này muốn nói: Giáo Hội phải thực sự là nơi cho Lời Chúa sinh sống chứ không phải là nơi làm cho Lời Chúa chết ngạt. Giáo Hội không thể để cho bất cứ ai suy diễn làm cho Lời Chúa bị lẫn lộn với lời có thể đổi thay theo thời gian, nhưng phải bảo quản Lời Chúa sao cho giữ được căn tính bất biến của nó. Tuy nhiên, để có thể bảo quản được tính nguyên vẹn của Lời Chúa, Giáo Hội cần phải sống Lời Chúa và sẵn sàng chịu khổ vì Lời Chúa. Giáo Hội phải để Lời Chúa thẩm xét các năng lực chủ yếu của thời đại, nhưng cũng phải đề ra một cuộc sống mới với máu thịt nhân loại để Lời Chúa sử lý. Hoàn toàn tự giới hạn vào việc bảo quản Lời Chúa mà thôi sẽ bị coi như là trốn tránh đau khổ và dĩ nhiên, đó không phải là phương cách đem Lời Chúa đến cho thời đại hôm nay” (Ratzinger: Dogma e predicazione, tr. 20).
Đức Giám mục Vincenzo Paglia nói: “Nhìn theo nhãn giới đầy sinh lực này, Kinh Thánh trở thành ánh sáng soi chiếu đời sống siêu nhiên, đời sống mục vụ, tỏa sáng trên nền văn hóa, các khoa học, khoa tâm lý và cả lãnh vực chính trị cũng như những lãnh vực khác nữa của cuộc sống. Hơn thế, phải chăng là không đúng khi nói các giám mục, các nhà thần học, các linh mục, chủng sinh, tu sĩ và mọi tín hữu đều được sinh ra và đào tạo nhờ hạt giống không tàn lụi của Lời Chúa? (The Word of God in the life of the Church – Bài thuyết trình tại Đại Hội Quốc tế kỷ niệm 40 năm ban hành Hiến chế “Lời Chúa”).
Để mỗi người có thể kiểm tra lại bản thân mình, chúng ta có thê nêu lên những câu hỏi sau đây: Tôi đã dành bao nhiêu giờ để đọc và nghe Lời Chúa mỗi ngày? Tôi đã đọc được mấy cuốn Sách Thánh?
Trả lời những câu hỏi trên sẽ cho chúng ta biết chúng ta đã yêu mến và lắng nghe Lời Chúa như thế nào. Có lẽ nó sẽ thúc đẩy ta phải tìm giờ để đọc và nghe Lời Chúa. Có thể chúng ta có rất ít thời giờ để đọc Lời Chúa, vì chúng ta có quá nhiều công việc phải làm? Vậy, thử hỏi, phải hy sinh việc đọc Lời Chúa hay phải bớt công việc? Cần phải chiến đấu chống lại tâm thức thời đại và nền văn hóa đang bao phủ chúng ta. Cần phải xác tín hơn về giá trị của Lời Chúa, của Kinh Thánh. Hãy nghe Công Đồng nói: “Lời Chúa có năng lực lớn lao có thể nâng đỡ và ban sinh lực cho Giáo Hội, còn đối với con cái Giáo Hội thì Lời Chúa là sức mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn sống tinh tuyền và trường tồn cho đời sống thiêng liêng. Bởi thế, lời nói sau đây hoàn toàn đúng về Kinh Thánh: Thật vậy, Lời Thiên Chúa sống động và linh hoạt (Dt 4, 12), có sức xây dựng và ban phần gia nghiệp cho mọi người đã được thánh hóa(Cv 20, 32; x. 1Th 2, 13)” (Dei Verbum 21).
Hãy đọc, lắng nghe, suy gẫm và cầu nguyện với Lời Chúa chúng ta sẽ được Lời Chúa uốn nắn, khuôn đúc, biến chúng ta thành dụng cụ ngoan ngoãn của Chúa tới mức trở thành lời chứng sống động của Chúa trước mặt mọi người.
Thật vậy, Kinh Thánh là nơi ưu tuyển cho việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Abraham J. Heschel viết: “Kinh Thánh không chỉ nói đến việc con người đi tìm Thiên Chúa, nhưng cũng mô tả việc Thiên Chúa đuổi theo con người” (Dio alla ricerca delluomo, Roma 1983, tr. 156). Đó là lý do tại sao Kinh Thánh có thể đụng chạm tới sợi dây thâm sâu nhất nơi hữu thể của ta để đi vào tận ngõ ngách bí ẩn nhất của đời ta. Bonhoeffer nói: “Ai tiếp nhận Lời Chúa sẽ bắt đầu tìm kiếm Thiên Chúa. Không thể nào làm khác được. Lời Chúa được mạc khải cho ta càng rõ ràng, càng sâu thẳm bao nhiêu, sẽ càng khơi lên trong ta ước muốn tìm biết Chúa cách rõ ràng tới cả những chiều sâu khôn dò của Ngài bấy nhiêu. Với quà tặng của Lời Ngài, Thiên Chúa thúc đẩy ta đi tìm một sự hiểu biết lớn hơn, một quà tặng tuệyt diệu hơn. Ngài không cần sự biết ơn giả tạo. Càng nhận nhiều, ta càng muốn tìm Ngài nhiều hơn, càng tìm Ngài nhiều hơn, ta càng nhận được của Ngài nhiều hơn” (DBW 15, 518). Như vậy, Kinh Thánh sẽ giúp ta khám phá ra căn tính đích thực của Thiên Chúa, căn tính của một người Cha không ngừng đuổi theo con cái, như thể Ngài không thể không có con cái vậy.
Kinh Thánh cũng mặc khải cho người tin khuôn mặt của chính mình. Đọc Kinh Thánh, dần dần người ta sẽ khám phá ra khuôn mặt của chính mình trong những nhận vật của Kinh Thánh. Những chuyện vui buồn, sướng khổ, những niềm hy vọng hay thất vọng, những thù hận, oán ghét hay yêu thương, những mối tình, những người bạn, những việc chữa lành, những phép lạ, những chuyển biến, đổi thay của những nhân vật trong đó gợi lên những gì đang xảy ra nơi chính bản thân ta. Những việc Chúa làm cho người khác, Ngài cũng sẽ làm cho chính ta. Truyền thống các Rabbi xưa có câu: “Hãy lật qua lật lại Sách Luật, vì ngưoi có thể tìm thấy mọi sự trong đó, kể cả chính bản thân ngươi và mọi sự trong ngươi” (Abot 5, 22). Thánh Grêgôriô Cả cũng nói: “Kinh Thánh được coi như tấm gương soi cho con mắt linh hồn, trong đó ta có thể nhìn thấy bộ mặt bên trong của mình”.
Anh chị em thân mến,
Hiểu biết được giá trị và vai trò của Kinh Thánh, của Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội và trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hãy nỗ lực học hỏi và năng đọc, năng nghe Lời Chúa hơn. Chớ chi mỗi khi đi dự Thánh Lễ, chúng ta biết chăm chú nghe đọc Sách Thánh hơn. Chớ chi trong những buổi kinh tối tại gia đình chúng ta biết ân cần dùng Lời Chúa để cầu nguyện. Sau hết, mỗi khi có hoàn cảnh, chúng ta hãy cố gắng tham dự những khóa học hỏi về Kinh Thánh, để hiểu và biết đem áp dụng Lời Chúa vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Thân ái chào toàn thể anh chị em,
+Phêrô Trần Đình Tứ
Giám mục Giáo Phận Phú Cường
Anh em linh mục, các tu sĩ nam nữ, các chủng sinh
và toàn thể anh chị em giáo dân thân mến,
“Kinh Thánh trong đời sống Giáo Hội” là tựa đề chương 6 của Hiến chế về “Lời Chúa” của Công đồng Vaticanô II, đồng thời cũng là đề tài của Đại hội Quốc tế tại Roma từ ngày 14 -18 tháng 9 năm 2005 nhân dịp kỷ niệm 40 năm ban hành Hiến chế quan trọng này.
Với đề tài này, cả Công Đồng lẫn Đại Hội quốc tế 2005 muốn làm cho mọi người ý thức về địa vị quan trọng của Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng như mỗi tín hữu. Công Đồng và Đại Hội muốn tìm phương thế để đưa Sách Thánh đến với từng gia đình, từng tín hữu, cổ võ để mọi người coi Sách Thánh như cuốn sách tùy thân luôn mang theo với mình để đọc hằng ngày. Công Đồng và Đại Hội cũng muốn Kinh Thánh phải chiếm địa vị ưu tiên, địa vị hàng đầu, là nguyên lý gợi hứng và hướng dẫn cho mọi môn học, mọi sinh hoạt của Giáo Hội: từ việc phụng tự tới các việc tông đồ mục vụ khác.
Trong chương trình Năm Sống Lời Chúa của giáo phận, chúng ta muốn học hỏi và sống Lời Chúa. Vì thế, thử tìm xem Sách Thánh hay Lời Chúa đã, đang và phải chiếm địa vị nào trong toàn thể sinh hoạt của Giáo Hội và mỗi tín hữu.
1. Kinh Thánh trong dòng lịch sử của Giáo Hội
Thánh Phaolô viết cho môn đệ Timôtê: “Tất cả những vì viết trong Kinh Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng và có ích để giảng dạy, phi bác, sửa chữa và giáo dục cho nên công chính” (2Tm 3, 16).
Ý thức được điều đó, suốt thiên niên kỷ I, Kinh Thánh đã giữ địa vị hàng đầu và ưu tiên trong mọi sinh hoạt của Giáo Hội. Các giám mục, linh mục, tu sĩ cũng như các thần học gia đã hăng say học hỏi Kinh Thánh. Các sách đã được biên soạn, những bài giảng còn để lại cũng như những tài liệu học hỏi phần lớn là những bài giải thích Kinh Thánh. Mặc dầu Sách Thánh chưa được dịch ra các tiếng địa phương, việc in ấn còn thô sơ, tốn kém, và vì thế chưa được phổ biến rộng rãi nơi các tín hữu, tuy nhiên, mọi tín hữu đều được kêu mời siêng năng đọc hoặc nghe Lời Chúa. Danh ngôn của thánh Giêrônimô “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô” đã được phổ biến rộng rãi, khiến thánh Gioan Kim ngôn quở trách những người không biết thánh Phaolô đã viết bao nhiêu lá thư. Thậm chí, Césaire, Giám mục thành Arles còn khuyên những người giầu không biết chữ, nên mướn người đọc Sách Thánh hằng ngày cho mình.
Vào khoảng đầu thiên niên kỷ II, cũng thấy phổ biến một loại Sách Thánh mệnh danh là “Sách Thánh của những người nghèo” (Biblia pauperum) dành cho những người không biết chữ có thể đọc Sách Thánh qua hình ảnh. Tới thời Trung Cổ, vì có nhiều bản dịch Kinh Thánh chứa đựng những sai lầm, nên một số Công đồng miền đã lên tiếng can thiệp, như Công Đồng Toledo năm 1229 đã cảnh báo những sai lầm của phái Albigeois, Công đồng Oxford năm 1408, cảnh báo về những sai lầm của Wicliffe. Cũng vì không muốn những sai lầm này lan rộng, nên năm 1559 Đức Phaolô IV và năm 1564, Đức Piô IV đã ra lệnh cấm in và lưu trữ những bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng địa phương, ngoại trừ khi có phép đặc biệt của Tòa Thánh. Cũng chính vì thế, từ đó đa số giáo dân ít có dịp tiếp xúc trực tiếp với Kinh Thánh bằng tiếng địa phương. Cũng từ đó, Sách Thánh chỉ được in và phổ biến bằng La ngữ theo bản dịch phổ thông của Thánh Giêrônimô. Mãi tới năm 1757, Tòa thánh mới cho phép chung các nơi được dịch Kinh Thánh từ bản Phổ Thông ra tiếng địa phương với điều kiện là được giáo Quyền chuẩn nhận và cho phép, đồng thời phải có những chú thích cần thiết. Chỉ tới đầu thế kỷ XX mới thấy xuất hiện những bản dịch Kinh Thánh từ những bản gốc.
Sự việc càng trở nên phức tạp hơn sau những tranh cãi giữa Giáo Hội Công giáo và Phái Tin Lành. Phái này nhấn mạnh tới sự quan trọng tuyệt đối của Kinh Thánh và coi nhẹ những gì được lưu truyền trong Giáo Hội từ thời các Thánh Tông Đồ. Cũng theo phái này, Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng trực tiếp cho từng người khi đọc Sách Thánh, nên không buộc phải theo những giải thích chính thức của Giáo Hội. Việc tranh cãi đã đưa đến hiệu quả tiêu cực nơi các tín hữu Công giáo, khiến càng ngày họ càng lơi là với việc đọc Kinh Thánh và Kinh Thánh cũng không còn chiếm địa vị ưu thế có sức gợi hứng và hướng dẫn mọi sinh hoạt thường ngày của họ nữa.
May thay, phong trào Kinh Thánh đã mau chóng xuất hiện, làm cho người ta ý thức hơn về địa vị ưu việt của Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội cũng như mỗi tín hữu, đặc biệt sau Thông điệp “Providentissimus Deus” của Đức Lêô XIII (18.11.1893). Thông điệp đưa ra những hướng dẫn cho việc học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh theo những khám phá mới của khoa khảo cổ và phương pháp phê bình dựa trên những yếu tố lịch sử. Phong trào này khuyến khích các tín hữu hãy tiếp xúc trực tiếp với các sách Kinh Thánh, đọc, suy gẫm và cầu nguyện với Kinh Thánh. Để được như vậy, một đàng cần phiên dịch Kinh Thánh từ nguyên bản, nhưng đàng khác, cũng cần phải trung thành với truyền thống của Giáo Hội, nghĩa là phải lưu ý tới những điều Giáo Hội đã lưu truyền qua các sinh hoạt phụng tự, kinh nguyện và huấn giáo suốt dòng thời gian từ các Thánh Tông đồ cho tới ngày nay. Đó là những sửa soạn tốt đẹp cho việc thảo luận và những quyết định của Công Đồng Vaticanô II trong vấn đề này.
2. Giáo huấn của Công đồng Vaticanô II
Công Đồng khẳng định: “Giáo Hội luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Thân thể Chúa, nhất là trong Phụng vụ thánh. Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Kinh Thánh đã và đang được Giáo Hội xem như là qui luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh hứng và đã được ghi chép lại một lần cho muôn đời” (số 21)
Từ những khẳng định trên Công đồng ra lệnh: “Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các tín hữu … Phải ân cần đem Lời Chúa đến cho mọi thời đại … ân cần lo liệu cho các sách Thánh được dịch ra các thứ tiếng cách thích hợp và đứng đắn, đặc biệt dịch từ nguyên bản.”(Ib.)
Cũng từ đó Công đồng khuyến khích việc học hỏi Kinh Thánh, lấy Kinh Thánh làm căn bản cho mọi môn học của Giáo Hội, cử hành Lời Chúa trong khi ban các bí tích, dùng Lời Chúa trong kinh nguyện, lấy Lời Chúa là nguyên lý gợi hứng cho việc rao giảng Tin Mừng và mọi công việc mục vụ khác của Giáo Hội.
Công đồng cũng khuyên nhủ mọi thành phần Dân Chúa năng đọc, suy gẫm và cầu nguyện với Lời Chúa. Công Đồng viết: “Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là linh mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa, như các phó tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Kinh Thánh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa, nhất là trong Phụng vụ thánh, cho các tín hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành kẻ huyênh hoang rao giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe Lời Chúa trong lòng (T. Augustinô). Thánh Công Đồng cũng tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ hãy năng đọc Kinh Thánh để học biết khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô (Pl 3, 8), vì Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô(Số 25).
3. Tình trạng hiện nay
Với những giáo huấn của Công Đồng, sau 40 năm nhìn lại, chúng ta phải công nhận rằng, cùng với Hiến chế về Phụng vụ thánh, Hiến chế về Mạc khải đã đem lại những thay đổi và những kết quả rõ rệt nhất trong đời sống Giáo Hội và các tín hữu. Tuy nhiên, nếu thử hỏi Lời Chúa đã đạt được địa vị và ảnh hưởng như Công Đồng mong ước chưa, thì chúng ta thấy có lẽ còn khá xa vời. Căn cứ vào cuộc điều tra tại một số nước Âu châu mới đây như Italia, Pháp, Tây Ban Nha, thì trong số những tín hữu thực hành đạo, 80% chỉ nghe đọc Kinh Thánh trong các giờ lễ, chỉ có 3% đọc Kinh Thánh hằng ngày. Còn nói về việc học Kinh Thánh, có lẽ tình trạng còn bi quan hơn, vì cũng căn cứ vào cuộc điều tra nói trên, trong số những người trả lời có 40% cho là Thánh Phaolô đã viết một Sách Tin Mừng, và 26% cho là thánh Phêrô cũng viết một cuốn. Không biết tại Việt Nam tình trạng có khá hơn không? Bao nhiêu phần trăm người Công giáo đọc Kinh Thánh mỗi ngày tại gia? Bao nhiêu phần trăm linh mục, tu sĩ lấy Kinh Thánh là nguyên lý hướng dẫn cuộc sống và các công việc tông đồ mục vụ của mình?
Có lẽ ở đây cần nhắc lại những lời Đức Cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khuyên các tín hữu châu Âu, cũng là khuyên các tín hữu mọi nơi rằng: “Anh chị em hãy bước vào thiên niên kỷ mới với Sách Phúc Âm! … Khi chăm chỉ học hỏi Lời Chúa chúng ta sẽ tìm thấy của ăn và sức mạnh để thi hành sứ mệnh hằng ngày của chúng ta… Hãy cầm lấy sách Phúc Âm trong tay! Hãy nhận lấy sách ấy từ Thiên Chúa, Đấng liên lỉ ban cho chúng ta qua Hội Thánh (x. Kh 8, 10). Hãy ăn nó (x. Kh 10, 9-10) để nó biến thành sự sống cho chúng ta. Hãy thưởng thức nó tới giọt cuối cùng: nó sẽ làm ta kiệt sức, nhưng sẽ cho ta được vui mừng, vì nó ngọt như mật (x. Kh 10, 9-12). Như vậy, ta sẽ được tràn trề hy vọng và có khả năng chia sẻ nó cho mọi người nam nữ ta sẽ gặp trong suốt cuộc hành trình của ta” (Th. Giáo Hội tại châu Âu, số 65).
4. Phải làm gì để Lời Chúa trở nên tâm điểm của đời sống ?
Vậy chúng ta phải làm gì để Lời Chúa có thể trở thành tâm điểm đời sống của chúng ta? Đức cha Vincenzo Paglia, Giám mục Terni, Italia, Chủ tịch Hiệp Hội Kinh Thánh Công giáo, trong bài thuyết trình tại Đại Hội Quốc tế về Kinh Thánh 2005 tại Roma đã trình bày vấn đề bằng những câu hỏi như sau: Kinh Thánh có thực sự gây hứng khởi cho đời sống của tôi trong mọi lãnh vực không? Kinh Thánh có phải là nguồn phát sinh mọi công việc mục vụ trong giáo phận và giáo xứ của tôi không? Nếu thánh Grêgôriô nói: “Kinh Thánh sẽ cùng lớn lên với người đọc”, thì chúng tôi và các cộng đồng Kitô giáo của tôi có lớn lên dưới sự chỉ đạo của Lời Chúa không?
Kinh Thánh không thể là trang sức bên ngoài cho những công việc của chúng ta, nói khác đi, chúng ta không được sử dụng Kinh Thánh để phục vụ bản thân, làm cho chúng ta được kính trọng, ngợi khen, nhưng ngược lại, phải thực sự phục vụ Lời Chúa bằng cách đặt Kinh Thánh lên hàng đầu với vị thế ưu tiên trong khi chọn lựa công việc cũng như những thứ khác.
Khi nói Kinh Thánh phải giữ địa vị hàng đầu, địa vị ưu tiên trong đời sống, chúng ta muốn đặt Lời Chúa làm nguyên lý gợi hứng cho mọi công việc, mọi ý nghĩ và toàn bộ cuộc sống của ta. Kinh Thánh phải là ánh sáng soi chiếu vào hoàn cảnh chúng ta đang sống, chứ không để hoàn cảnh làm lu mờ Kinh Thánh. Nghĩa là phải để Kinh Thánh soi sáng cho chúng ta biết phải làm gì trong hoàn cảnh hiện tại, chứ không phải giải thích Kinh Thánh sao cho hợp với hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống. Không được hiểu Kinh Thánh nhờ những ngoại cảnh, nhưng phải hiểu Kinh Thánh theo nội dung bất biến bên trong.
Một phần nội dung bên trong đó là Giáo Hội, là cộng đoàn những người tin. Những lời sau đây của Đức Bênêđitô XVI khi còn là Hồng y Ratzinger cần được ta lưu ý: “Giáo Hội không phải là Lời Chúa, nhưng là nơi Lời Chúa cư ngụ, sinh sống. Điều này muốn nói: Giáo Hội phải thực sự là nơi cho Lời Chúa sinh sống chứ không phải là nơi làm cho Lời Chúa chết ngạt. Giáo Hội không thể để cho bất cứ ai suy diễn làm cho Lời Chúa bị lẫn lộn với lời có thể đổi thay theo thời gian, nhưng phải bảo quản Lời Chúa sao cho giữ được căn tính bất biến của nó. Tuy nhiên, để có thể bảo quản được tính nguyên vẹn của Lời Chúa, Giáo Hội cần phải sống Lời Chúa và sẵn sàng chịu khổ vì Lời Chúa. Giáo Hội phải để Lời Chúa thẩm xét các năng lực chủ yếu của thời đại, nhưng cũng phải đề ra một cuộc sống mới với máu thịt nhân loại để Lời Chúa sử lý. Hoàn toàn tự giới hạn vào việc bảo quản Lời Chúa mà thôi sẽ bị coi như là trốn tránh đau khổ và dĩ nhiên, đó không phải là phương cách đem Lời Chúa đến cho thời đại hôm nay” (Ratzinger: Dogma e predicazione, tr. 20).
Đức Giám mục Vincenzo Paglia nói: “Nhìn theo nhãn giới đầy sinh lực này, Kinh Thánh trở thành ánh sáng soi chiếu đời sống siêu nhiên, đời sống mục vụ, tỏa sáng trên nền văn hóa, các khoa học, khoa tâm lý và cả lãnh vực chính trị cũng như những lãnh vực khác nữa của cuộc sống. Hơn thế, phải chăng là không đúng khi nói các giám mục, các nhà thần học, các linh mục, chủng sinh, tu sĩ và mọi tín hữu đều được sinh ra và đào tạo nhờ hạt giống không tàn lụi của Lời Chúa? (The Word of God in the life of the Church – Bài thuyết trình tại Đại Hội Quốc tế kỷ niệm 40 năm ban hành Hiến chế “Lời Chúa”).
Để mỗi người có thể kiểm tra lại bản thân mình, chúng ta có thê nêu lên những câu hỏi sau đây: Tôi đã dành bao nhiêu giờ để đọc và nghe Lời Chúa mỗi ngày? Tôi đã đọc được mấy cuốn Sách Thánh?
Trả lời những câu hỏi trên sẽ cho chúng ta biết chúng ta đã yêu mến và lắng nghe Lời Chúa như thế nào. Có lẽ nó sẽ thúc đẩy ta phải tìm giờ để đọc và nghe Lời Chúa. Có thể chúng ta có rất ít thời giờ để đọc Lời Chúa, vì chúng ta có quá nhiều công việc phải làm? Vậy, thử hỏi, phải hy sinh việc đọc Lời Chúa hay phải bớt công việc? Cần phải chiến đấu chống lại tâm thức thời đại và nền văn hóa đang bao phủ chúng ta. Cần phải xác tín hơn về giá trị của Lời Chúa, của Kinh Thánh. Hãy nghe Công Đồng nói: “Lời Chúa có năng lực lớn lao có thể nâng đỡ và ban sinh lực cho Giáo Hội, còn đối với con cái Giáo Hội thì Lời Chúa là sức mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn sống tinh tuyền và trường tồn cho đời sống thiêng liêng. Bởi thế, lời nói sau đây hoàn toàn đúng về Kinh Thánh: Thật vậy, Lời Thiên Chúa sống động và linh hoạt (Dt 4, 12), có sức xây dựng và ban phần gia nghiệp cho mọi người đã được thánh hóa(Cv 20, 32; x. 1Th 2, 13)” (Dei Verbum 21).
Hãy đọc, lắng nghe, suy gẫm và cầu nguyện với Lời Chúa chúng ta sẽ được Lời Chúa uốn nắn, khuôn đúc, biến chúng ta thành dụng cụ ngoan ngoãn của Chúa tới mức trở thành lời chứng sống động của Chúa trước mặt mọi người.
Thật vậy, Kinh Thánh là nơi ưu tuyển cho việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Abraham J. Heschel viết: “Kinh Thánh không chỉ nói đến việc con người đi tìm Thiên Chúa, nhưng cũng mô tả việc Thiên Chúa đuổi theo con người” (Dio alla ricerca delluomo, Roma 1983, tr. 156). Đó là lý do tại sao Kinh Thánh có thể đụng chạm tới sợi dây thâm sâu nhất nơi hữu thể của ta để đi vào tận ngõ ngách bí ẩn nhất của đời ta. Bonhoeffer nói: “Ai tiếp nhận Lời Chúa sẽ bắt đầu tìm kiếm Thiên Chúa. Không thể nào làm khác được. Lời Chúa được mạc khải cho ta càng rõ ràng, càng sâu thẳm bao nhiêu, sẽ càng khơi lên trong ta ước muốn tìm biết Chúa cách rõ ràng tới cả những chiều sâu khôn dò của Ngài bấy nhiêu. Với quà tặng của Lời Ngài, Thiên Chúa thúc đẩy ta đi tìm một sự hiểu biết lớn hơn, một quà tặng tuệyt diệu hơn. Ngài không cần sự biết ơn giả tạo. Càng nhận nhiều, ta càng muốn tìm Ngài nhiều hơn, càng tìm Ngài nhiều hơn, ta càng nhận được của Ngài nhiều hơn” (DBW 15, 518). Như vậy, Kinh Thánh sẽ giúp ta khám phá ra căn tính đích thực của Thiên Chúa, căn tính của một người Cha không ngừng đuổi theo con cái, như thể Ngài không thể không có con cái vậy.
Kinh Thánh cũng mặc khải cho người tin khuôn mặt của chính mình. Đọc Kinh Thánh, dần dần người ta sẽ khám phá ra khuôn mặt của chính mình trong những nhận vật của Kinh Thánh. Những chuyện vui buồn, sướng khổ, những niềm hy vọng hay thất vọng, những thù hận, oán ghét hay yêu thương, những mối tình, những người bạn, những việc chữa lành, những phép lạ, những chuyển biến, đổi thay của những nhân vật trong đó gợi lên những gì đang xảy ra nơi chính bản thân ta. Những việc Chúa làm cho người khác, Ngài cũng sẽ làm cho chính ta. Truyền thống các Rabbi xưa có câu: “Hãy lật qua lật lại Sách Luật, vì ngưoi có thể tìm thấy mọi sự trong đó, kể cả chính bản thân ngươi và mọi sự trong ngươi” (Abot 5, 22). Thánh Grêgôriô Cả cũng nói: “Kinh Thánh được coi như tấm gương soi cho con mắt linh hồn, trong đó ta có thể nhìn thấy bộ mặt bên trong của mình”.
Anh chị em thân mến,
Hiểu biết được giá trị và vai trò của Kinh Thánh, của Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội và trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hãy nỗ lực học hỏi và năng đọc, năng nghe Lời Chúa hơn. Chớ chi mỗi khi đi dự Thánh Lễ, chúng ta biết chăm chú nghe đọc Sách Thánh hơn. Chớ chi trong những buổi kinh tối tại gia đình chúng ta biết ân cần dùng Lời Chúa để cầu nguyện. Sau hết, mỗi khi có hoàn cảnh, chúng ta hãy cố gắng tham dự những khóa học hỏi về Kinh Thánh, để hiểu và biết đem áp dụng Lời Chúa vào cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Thân ái chào toàn thể anh chị em,
+Phêrô Trần Đình Tứ
Giám mục Giáo Phận Phú Cường