BÀI 1 : ĐỔI MỚI TƯ DUY

LINH MỤC LÀ TÔNG ĐỒ CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ


Đổi mới tư duy là khởi điểm của mọi cuộc đổi mới. Không có tư duy mới, không có tư tưởng mới, thì không thể có hành động mới và phương pháp mới. Tất cả cũng sẽ cứ y hệt như ban đầu rồi thoái hóa dần dần, tu nghiệp trở thành lẽ thường và Vatican II có lý để chỉ thị phải huấn luyện liên tục (ĐT 22 LM 19 Can. 279).

Đối với linh mục, cũng như đối với mọi người, đổi mới mục vụ và nghiệp vụ không phải là bước đầu phải làm. Đổi mới căn bản cần thiết hơn, nhất là phải đổi mới tư duy về danh hiệu, tức là ý thức mới về ơn gọi, về danh hiệu, về chức vụ, về cương vị, về căn cước, về chân tính của mình. Trước hết phải biết làm gì, phải biết mình là ai ? Agere sequitur esse.

Không có Đức Giáo Hoàng nào không có những văn kiện về chức linh mục. Chỉ cần nêu lên một số văn thư quan trọng của mấy triều đại Giáo Hoàng gần đây. Đức Pi-ô X có huấn thị Haerent animo về việc thánh hóa linh mục; Đức Bê-nê-đíc-tô XV có thông điệp Humani generic về việc rao giảng Lời Chúa; Đức Pi-ô XI có thông điệp Ad catholici sacerdotii về sứ mạng linh mục. Đức Pi-ô XII có diễn văn Solemnis conventus về việc đào tạo ứng viên làm linh mục; Đức Gio-an XXIII có thông điệp Sacerdotii nostri primordial nêu cao gương sáng của cha xứ Ars … Trong các văn kiện trên, có rất nhiều lời nhắn nhủ phong phú, quý hóa, nhưng đều dựa trên căn bản ơn gọi linh mục. Đặc biệt, Đức đương kim Giáo Hoàng năm nào cũng có thư riêng cho hàng linh mục nhân ngày thứ Năm Tuần Thánh, gợi lại ngày sinh của chức linh mục. Riêng Công đồng Vatincan II đã có riêng một sắc lệnh về Chức vụ và đời sống linh mục, không kể sắc lệnh về đào tạo chủng sinh lên chức linh mục. Linh mục được nhắc đến hầu hết trong các văn kiện khác, đặc biệt trong tương quan với các thành phần khác trong Hội Thánh và trong các nhiệm vụ khác của Hội Thánh. Hơn nữa, các nghị phụ công khai khẳng định : Công cuộc đổi mới của Công đồng chỉ có thể hữu hiệu nếu được sự đồng tình của các linh mục nhiệt thành đem ra thi hành (ĐT, phần mở đầu; LM, phần mở đầu), nhất là, nếu linh mục có tư duy mới về thiên chức của mình.

Tư duy mới không có nghĩa là phủ nhận các giá trị của các quan niệm trước đây và nhận những tư duy mới lạ xưa nay chưa từng có. Trong lĩnh vực tôn giáo : mọi việc đã được thực hiện nơi Đức Giêsu. Ngay Chúa Thánh Thần cũng sẽ được sai xuống đổi mới và phù trợ các Tông đồ cũng không nói ra điều gì tự ý mình mà chỉ nhắc lại… (Ga 16, 13); huống nữa là nếu có ai đến loan báo một Tin Mừng cứu độ nào khác, dù là thiên thần, 'anh em cũng đừng nghe', Phaolô nói như vậy (Ga 1, 8). Mọi mạc khải đã chấm dứt rồi. Chúng ta đừng hoài công chờ đón những quan niệm mới về chức linh mục. Thánh Pi-ô X đã nói trong thông điệp về chức linh mục, mà Đức Gioan XXIII đã lập lại trong Sacerdotii nostril primadia (1.8.59) rằng : "Ta chẳng nói gì mà chư huynh đã không biết, chẳng nói điều gì mới lạ cho ai cả, nhưng chỉ nói những gì mà tất cả mọi người cần nhớ lại". Đó chẳng phải là chính ý của thánh Phaolô sao, khi viết cho Ti-mô-thê (2 Tm 1,6) : "Tôi muốn nhắc anh nhớ khêu lên lại, ơn huệ Thiên Chúa ban xuống trong anh qua việc tôi đã đặt tay", để không vì dáng vẻ tầm thường của chiếc bình sành dễ vỡ, mà quên mất những mầu nhiệm chứa đựng bên trong (2 Cr 4, 7).

Vậy một cách đơn sơ, chúng ta hãy mở Công đồng Vatican II, đọc những câu chắc nịch xác định chức năng linh mục trong sắc lệnh về chức năng Linh mục, số 2 : "Chúa Giêsu là Đấng đã được Chúa Cha thánh hóa và sai xuống trần gian, và đã được Chúa Thánh Thần xức dầu; Người đã làm cho tất cả Nhiệm Thể của Người được thông phần vào sự xức dầu đó, để trong Người, mọi tín hữu hóa thành một chức tư tế thánh thiện và hoàng vương. Tuy nhiên để hợp thành một thân thể duy nhất, trong đó mọi chi thể có nhiệm vụ riêng, chính Chúa cũng đã cắt đặt giữa các tín hữu một số thừa tác viên, để nhờ chức thánh, họ được quyền tế lễ và tha tội trong cộng đồng tín hữu, và nhân danh Chúa Kitô họ chính thức thi hành chức vụ Linh mục cho loài người".

Tự nhiên câu văn của Công đồng nào cũng được đem ra mổ sẻ. Lúc đầu mọi người sung sướng bám vào phần trên, để phổ biến rộng rãi quan niệm chức tư tế cộng đồng của Dân Thiên Chúa mà chính Phêrô cũng đã khẳng định rõ ràng trong 1 Pr 2, 5 và 9. Nhưng người ta coi đó là một mới lạ đến nỗi hầu như không muốn nói đến phần sau của lời Công đồng, hoặc gán cho nó một giá trị rất yếu. Ở Việt Nam trái lại, chưa có khuynh hướng nhấn mạnh và giải thích đủ về chức năng tư tế nơi người tín hữu. Nhưng cũng chưa chắc chúng ta đã hiểu thật sâu về thừa tác vụ của hàng linh mục do chức thánh. Việc suy tư này không cần thiết để khẳng định chức năng riêng của chúng ta, hầu đối phó với một vài con chiên dám ăn nói hoặc để bảo vệ nếp sống ăn trên ngồi trốc; nhưng việc phân biệt ấy thiết yếu cho chính chúng ta, để có ý thức đúng về ơn gọi và chân tính riêng của mình và không trượt chân rơi xuống một hình thức cộng đoàn bác ái phi cơ cấu, phản bội hẳn ý định của Thiên Chúa muốn kết nạp mọi người trong một thân thể Đức Kitô có những chức năng khác nhau. Chức tư tế thừa tác do việc đặt tay khác hẳn chức tư tế cộng đồng do Bí tích Rửa tội, không phải vì mức đô nhưng tại bản tính. Nếu không, Bí tích Truyền chức không đóng dấu ấn mới và không làm ra con người mới.

Ngay từ đầu Phúc Âm đã cho thấy Chúa gọi một số người để ở với Ngài rồi được sai đi thay cho Ngài (Mc 3,14; Mt 10,40). Ngài gọi họ trên bờ biển (Mc 1,16) để họ trở thành ngư phủ (khác với cá), để họ làm các công việc như Ngài (Mc 3, 14 - 15), nhất là cầm buộc và tháo gỡ (Mt 16, 19). Do đó họ cần được hiến thánh (Ga 20, 22 - 23) và được tách biệt. Và họ - các Tông đồ - đã ý thức có ơn gọi riêng (Cv 8,15; 6,15; Gc 5,14; Rm 12,3; 1Cr 5,3-5; 2 Cr 2,14-16; 5,18-20; Rm 5,15; Ph 2,16).

Đó là ơn gọi được hiến thánh một cách mới mẻ, được tiếp tục chuyển đi qua việc đặt tay để đưa một số người vào hàng tư tế đặc biệt, hành động nhân danh Đức Giêsu cho loài người (in persona Christi), trong đó có cả các tín hữu. Dĩ nhiên linh mục được chọn trong số các tín hữu (Hr 5,1), nhưng không vì vậy mà được coi linh mục như đại diện hoặc tiêu biểu của Dân Chúa, và chức tư tế thừa tác như phải lệ thuộc vào chức tư tế cộng đồng. Ngược lại chính thừa tác vụ của linh mục cần thiết cho việc hình thành và phát triển chức tư tế cộng đồng nơi các tín hữu (GH 10). Công đồng thật minh bạch trong hiến chế Giáo Hội số 28 : "Được Chúa Cha thánh hiến và phái đến thế gian, Chúa Kitô nhờ các Tông đồ đã làm cho các giám mục, những người kế vị các Tông đồ, có thể tham dự vào việc cung hiến và vào sứ mạng của mình. Các giám mục lại giao nhiệm vụ thừa tác của mình một cách hợp pháp cho nhiều phần tử trong Giáo Hội theo từng cấp bậc… Linh mục dù không có quyền tư tế tối cao và tùy thuộc giám mục khi thi hành quyền bính… nhưng nhờ Bí tích Truyền chức thánh, linh mục được cung hiến theo hình ảnh Chúa Kitô Thầy Cả thượng phẩm vĩnh viễn để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt các tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước".

Ý tưởng thật rõ ràng. Quan hệ giữa linh mục với giám mục và các tín hữu được xác định gãy gọn. Chúng ta sẽ có dịp trở lại, vì chưa cần thiết. Điều quan trọng cần phải chú ý ngay, là việc linh mục được chia sẻ chức tư tế nơi Đức Giêsu là linh mục thượng phẩm đời đời. Nó khiến ta phải ý thức lại một cách mạnh mẽ giá trị mầu nhiệm có thật của việc đặt tay, tức là của lễ nghi Phong chức linh mục. Chúng ta phải quyết tâm trả lại cho nghi lễ này tất cả sự phong phú huyền nhiệm của nó. Cần chấm dứt những chuẩn bị, tổ chức, kéo dài lễ Phong chức theo kiểu tiến chức phần đời. Tu đức ngày xưa ngặt nhưng đúng vì đưa cả cộng đoàn Dân Chúa vào chiều sâu và như nhìn thấy mầu nhiệm Thượng tế đời đời của Đức Kitô, vì tu đức đó đặt lễ Phong chức trong bầu khí rất thiêng liêng, chú trọng đến việc đón nhận ơn Chúa chứ không cho phép những trình diễn bên ngoài. Tôi vẫn nhớ hình ảnh một giám mục nọ, sau khi truyền chức và trở vào phóng áo, đã quỳ xuống trước vị Tân linh mục để xin phép lành và hôn tay. Đó là cử chỉ của đức tin tông truyền nhìn vị Tân linh mục là alter Christus, tức là hiện thân mới của Đức Kitô để tiếp tục sứ mạng của Người. Bí tích Truyền chức đã làm ra con người mới, có chân tính mới, phẩm giá mới, có chức năng mới đến nỗi có thể nói mọi đầu gối phải quỳ xuống, vì từ nay con người này có quyền của Thiên Chúa và của Đức Kitô, có thể tha tội và dâng lễ cứu độ, giao hòa con người với Thiên Chúa.

Thánh Phaolô muốn nhắc chúng ta nhớ khêu lên lại ân huệ Thiên Chúa ban xuống trong chúng ta qua việc đặt tay, chứ không cần chúng ta nhớ việc ấy được thể hiện qua ta người nào, trong hoàn cảnh nào (mọi ảnh chụp đều dư thừa), vì ai cũng chỉ là 'đầy tớ vô dụng' (Lc 17, 10). Chúng ta có thể theo gương thánh Tông đồ mà khẳng định : "Bởi ý định của Thiên Chúa, thể theo lời hứa sự sống ban ra trong Đức Giêsu Kitô mà chúng ta được làm tông đồ" (2 Tm 1,1). Và Linh mục nào cũng có thể nói như Phaolô nơi đầu các thư : "Tôi… tông đồ của Chúa Giêsu, bởi ý định Thiên Chúa" (Co 1, 1). Chính Thiên Chúa Cha đã sắp đặt một cách vô cùng tự do và hoàn toàn vì thương xót. Người đã nhìn và cái nhìn của Người đã tạo dựng nên tôi với tất cả định mệnh dành cho tôi. Người đã gọi tôi ra khỏi hư vô, đưa tôi vào cuộc sống và dẫn tôi đến với Đức Kitô. Suốt thời gian ở chủng viện, tôi cũng như các môn đệ trước giờ Chúa bị nộp, còn là phàm nhân. Nhưng rồi đến giờ Đức Giêsu "tự hiến thánh để chúng được thánh hiến" (Ga 17,19), tôi cũng đã được xức dầu Thánh Thần như các tông đồ xưa (Cv 2,4) để tôi được quyền tế lễ và tha tội.

Những điều chúng ta vừa nói thật quan trọng và cần suy đi nghĩ lại, kẻo không ý tứ người ta sẽ có quan niệm rất sai lạc về chức linh mục. Người ta có thể nghĩ ngược lại, chính tôi đã nhìn thấy chức linh mục qua hình ảnh một cha xứ, tôi xin đi tu hoặc người khác khuyên tôi; chính tôi làm đơn xin chịu chức và giám mục cũng không thể làm gì khác hơn là phải theo ý ban giám đốc chủng viện gọi tôi. Bề ngoài có vẻ diễn ra như vậy, nhưng sự thật thì khác và ngược hẳn. Chính kinh nghiệm bản thân cũng khiến chúng ta thấy đâu là chân lý. Biết bao người xứng đáng hơn tôi mà không được làm linh mục? Đúng, Chúa muốn nặn ai thế nào thì tùy ý Chúa (Rm 9,20-25). Phaolô nói đúng : tư cách của chúng ta là bởi Chúa. Chính Người gọi chúng ta làm người phục dịch Tân Ước (2Cr 3,5). Cựu Ước không thiếu gì chứng cớ hùng hồn. Chúa gọi Áp-ra-ham, Chúa chọn Gia-cóp, Chúa đặc cách chi tộc Giu-đa (Giu-se), Chúa dùng Mô-sê, Chúa chọn Sa-mu-en, Sa-un, Đa-vít… Tân Ước cũng vậy. Chúa Giêsu nhìn và gọi các môn đệ đầu tiên, Ngài đặt Nhóm Mười hai cũng như đặt Phêrô. Ngài đổi tên cho Si-mon như Gia-vê đã đổi tên cho Áp-ra-ham. Tiếng gọi của Ngài sáng tạo, làm ra con người mới. Tiếng gọi ấy bất chấp người ta đã sẵn sàng hoặc không (khác với Ê-li và Ê-li-sê), buộc theo ngay (và Lê-vi đã đứng dậy theo Ngài - Mc 2,14)). Nhiều kẻ nghe và thấy việc Ngài làm muốn đi theo nhưng không được (Lc 9, 57-61)…

Do đó chúng ta vừa phải cảm tạ lòng thương xót chiếu cố của Chúa, vừa phải tin tưởng (Ngài không để mất kẻ Ngài đã chọn). Nhưng ỷ vào đó để không sửa mình thì đắc tội. Đã thấy ơn thì phải đáp trả.

Những thánh linh mục Tử đạo Việt Nam đã phải trầy da tróc vẩy mới đạt tới vinh dự này. Đó thật là những Tông đồ đầu tiên của Hội Thánh Việt Nam, xứng đáng như các Tông đồ đầu tiên của Hội Thánh, đã bỏ lưới bỏ chài và tất cả để đi theo Chúa (Mt 19,20; Lc 18,28).

Tân Ước cho chúng ta thấy các môn đệ đi theo Đức Giêsu để được làm tông đồ không giống tí nào các môn đệ theo các rabbi (thầy) ngày trước. Những người này theo để học, được quyền trao đổi, rồi dần dần trở nên rabbi. Các môn đệ của Đức Giêsu thì không, phải bỏ tất cả, phải ghét tất cả, để chọn Người, để vác thập giá đi theo Người, để chết như Người, nhưng không bao giờ bằng Người; suốt đời và mãi mãi chỉ là môn đệ. Nhưng sẽ được vào Nước Trời, sẽ được xét xử 12 họ. Các Tử đạo Việt Nam ngày xưa y như vậy. Nhưng sau thế hệ các Tông đồ và các Tử đạo thì sao ? Thánh Phaolô và Gioan không viết giống như các sách Tin Mừng. Các sách này viết về thái độ của môn đệ đi theo Đức Giêsu khi Ngài còn sống ở trần gian (hoặc trong thời gian bị bắt bớ thực sự). Khi Ngài đã lên trời và do hoàn cảnh của chúng ta hiện nay, điều kiện làm môn đệ là phải nên giống như Thầy, đồng hóa với Thầy, mang lấy sự chết của Thầy ở nơi mình để được sự sống của Thầy. Cách thức có khác, nhưng động lực vẫn là tin và mến Thầy.

Vì để có thể đại diện Chúa, tiếp nối sứ mạng của Người và xây dựng Hội Thánh, từ bỏ chưa hẳn đáng kể. Đúng hơn, từ bỏ đã xẩy ra và có giá trị vì phát xuất từ tiếng Chúa gọi và được đáp lại bằng lòng mến, lòng mến Chúa Kitô. Phải mến Người, mến Người nhiều, mến Người hơn mọi người khác (Ga 21,15-17) mới được trao trách nhiệm chăn chiên. Ai trong chúng ta không sống tâm tình như thế khi chịu chức ? Hãy nhớ lại đi và thấy bấy giờ mình có tâm trạng của Phêrô không ? Đó là lòng mến ý thức sự bất xứng và yếu đuối của mình, đã dẫn đến cái chết của Chúa; nên ước gì chúng ta có thể nói như thánh Phaolô: Đời sống của tôi lúc này trong thân xác, tôi sống nó trong lòng tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và phó nộp mình vì tôi. Tôi không hủy bỏ ơn của Thiên Chúa (Ga 2,20).

Lý tưởng là vậy. Lý tưởng dần dần phải đạt tới. Việc này đòi quyết tâm; và quyết tâm này phải đổi mới hằng ngày để hằng ngày làm sống lại quan hệ ràng buộc mình với Chúa Giêsu. Đây là đổi mới căn bản, đổi mới tư duy mà thiếu nó, mọi chấn chỉnh khác chỉ có giá trị vá víu và chóng qua. Nó có luật riêng đã được viết sẵn trong chính cuộc đời của Đức Giêsu, Đấng đang chia sẻ chức vụ tư tế của Người cho chúng ta. Tất cả cuộc đời của Người là chuỗi đời tư tế, khởi sự từ khi vào thế gian với câu : "Con đến để làm theo ý Cha" (Hr 10,5-9). Rồi từ đó ý Cha làm lương thực hàng ngày (Ga 4,34), sống thân phận người tôi tớ (Lc 4,16-21; Ph 2,6-8), cho đến khi mạnh dạn đi lên Giêrusalem (Mc 10,32), chấp nhận uống chén cay đắng của cuộc khổ nạn và từ bỏ cả mạng sống trong tay Cha.

Linh mục được kêu gọi hàng ngày nhìn vào mô hình của Đức Giêsu Kitô Thượng tế (Hr 12,2), thực hành những việc làm nơi bàn thờ, để tập chết cho bản thân và sống cho Thiên Chúa. Không thiếu những hoàn cảnh và phương tiện giúp chúng ta thi hành tốt cách cụ thể. Những câu gọi ý, hướng dẫn, xây dựng của giám mục và của anh em; những tiếng xì xầm và góp ý của giáo dân; nhất là Lời Chúa sống động và linh hoạt sắc bén hơn mọi thứ gươm hai lưỡi, đâm phập vào tận ranh giới hồn phách, gân cốt và tủy não, cùng biện phân ra được tình và ý của lòng dạ. Trước mặt Chúa, không vật nào lại là u uẩn; phải trước mặt Người, mọi sự đều bị lột trần thất điên bát đảo; với Người ta phải trả lẽ (Hr 4,12).

Thế nên, ước chi hôm nay nghe tiếng Người, chúng ta đừng cứng lòng nữa (Tv 95,8), để như lời các tiên tri, Chúa rửa sạch chúng ta, lại yêu chúng ta như buổi đầu. Chúng ta nhờ những ngày thánh thiện này để tìm lại khuôn mặt mà Chúa đã nặn ra chúng ta, đặc biệt trong ngày thụ phong linh mục (1 Cl 1,6). Và chúng ta hãy thi hành lời Đức Giáo Hoàng Piô XII có lần nói với chủng sinh : "Với lòng khiêm nhường và thành thật, chủng sinh phải quen nuôi một quan niệm về chính bản thân của mình rất khác và rất cao hơn quan niệm thông thường của Kitô hữu, dù là người thuộc hạng người siêu quần bạt chúng. Chủng sinh sẽ là một người được tuyển chọn trong dân chúng, một người được đặc biệt hưởng những những đặc sủng của Thiên Chúa; nói tóm, sẽ là một Kitô mới… Họ không còn thuộc về mình nữa, không còn thuộc về cha mẹ, bè bạn, và cũng không còn thuộc về một quê hương nhất định nào : đức ái phổ cập sẽ là hơi thở của họ. Ngay cả tư tưởng, ý chí, tình cảm của họ cũng không thuộc về họ, nhưng thuộc về Đức Kitô vốn là sự sống của họ". Công đồng Vatincan II cũng không nói gì khác hơn. Chúng ta chỉ còn cần phải ngẫm nghĩ hằng ngày để mỗi ngày đổi mới tư duy quan niệm về chính bản thân của mình, hầu có thể "đi đứng sao cho xứng với ơn thiên triệu", thực hiện những cuộc đổi mới khác nữa (Ep 4,1).

Chúng ta hãy tiếp nối truyền thống anh hùng của các thánh Linh mục Tử đạo Việt Nam. Các quan quý trọng các ngài muốn cứu các ngài khỏi chết, nên xin các ngài đừng xưng mình là đạo trưởng, hãy khai mình là thầy lang, thầy đồ… Nhưng các ngài cương quyết chỉ khai một điều : tôi là đạo trưởng, tôi là trưởng lão trong đạo Chúa Kitô. Đó là vinh dự các ngài thà chết chứ không chịu bỏ mất. Các ngài đang muốn nói với chúng ta : đừng tự hào về tư cách nào khác, đừng muốn là gì khác, hãy luôn nhớ và tỏ ra mình là linh mục của Đức Giêsu Kitô.