TĨNH TÂM LINH MỤC: BÀI V: ĐỨC MẸ LÀ MÔN ĐỆ CHÚA
Bước vào thời đại Tân Ước, Maria càng ngày càng đi sâu vào mầu nhiệm Chúa Kitô. Những sự việc xảy ra sau ngày truyền tin đã đều hết sức mầu nhiệm. Maria luôn phải ghi khắc trong lòng và ôn đi nhớ lại. Việc đi thăm Êlisabét khiến Gioan nhảy mừng, việc Giuse nhận đem Maria về nhà, việc sinh Chúa nơi máng cỏ, gặp gỡ các mục đồng và đạo sĩ, dâng Người trong đền thờ, và đưa Người đi chầu lễ ở Giêrusalem… tất cả đều có những khía cạnh chưa hiểu được và đang chờ được soi sáng thêm. Chẳng bao lâu đã đến lúc Giêsu từ giã Mẹ đi vào giữa đám người đang lũ lượt kéo đến với ông Gioan. Và nhất là Người đã bắt đầu có môn đệ và khởi sự giảng dạy. Lẽ dĩ nhiên Maria lại càng muốn lắng tai nghe. Do đó từ lúc này ta có thể nói người là MÔN ĐỆ CỦA CHÚA.
Phúc Âm Gioan kể lại câu chuyện đầu tiên xảy đến với người trong giai đoạn này: Ngày thứ ba, có đám cưới tại Cana miền Galilê (2,1). Đây là đoạn văn hơi khác thường trong sách của Gioan (sau đoạn 8 về người phụ nữ ngoại tình). Phép lạ ở đây không được giải thích trước và sau. Nó gợi lại lại truyền thống Luca, truyền thống Đức Mẹ. Nó có nên được giải thích theo lối biểu tượng như các đoạn Gioan khác không? Đồng ý nó là truyền thống Đức Mẹ, vì chỉ Đức Mẹ và Chúa biết rõ câu chuyện này. Mọi người có mặt chỉ biết đại khái như chủ tiệc cưới. Nhưng là chuyện Đức Mẹ kể theo ngòi bút của Gioan, nên cũng không thiếu biểu tượng và ám chỉ của Gioan. Ngay từ những ngày đầu tiên: ngày thứ ba ám chỉ ngày sống lại, ngày phụng vụ Thánh Thể… và những chữ cuối cùng “dấu lạ, vinh quang, tin”… đều là những đặc điểm của Gioan. Nhưng có phải Gioan chỉ có như vậy thôi không? Ông khéo không làm mất vẻ thanh thản của truyền thống Đức Mẹ, nhưng vẫn là cây bút của Gioan. Chúng ta thử đọc… trong đám cưới có thân mẫu Đức Giêsu (chắc là vì có quan hệ họ hàng). Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự …. Có thể thấy Đức Maria đã đến trước và có thể đoán người đã vui vẻ hoà mình trong đám nội trợ. Ít ra, theo tục lệ, người cũng ngồi ở phái các bà, xa chỗ các ông. Chỗ này tất nhiên om xòm hơn vì có rượu. Người ta quan tâm không muốn để các chai trên bàn vơi nhiều. Đó là trọng tâm của tiệc cưới. Nó giúp chúng ta hiểu và thán phục thái độ của Đức Mẹ khi tế nhị và kín đáo, nhẹ nhàng nói với Đức Giêsu: Họ hết rượu rồi!
Có thể câu nói đã khiến Đức Giêsu sửng sốt, vì việc họ hết rượu thì ít, nhưng đặc biệt là vì câu nói kia là một lời xin, một tiếng gợi đến quyền năng ở nơi Người, mà suốt 30 năm nay, có thể nói Người không bao giờ muốn dùng tới. Tuy nhiên phản ứng của Người cũng không thể giản đơn giải thích như vậy. Câu Người trả lời lạ lắm, vừa lạnh lùng vừa tối tăm: Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và Tôi? Giờ của Tôi chưa đến! Nếu không có câu trả lời này, có lẽ bài viết của Gioan đã không làm chảy nhiều mực trên không biết bao nhiêu trang giấy từ xưa đến nay.
Ngày nay không mấy ai còn muốn nhấn mạnh chữ “Bà” trong câu trả lời kia như một đại từ tôn trọng và trịnh trọng nữa. Đức Giêsu lúc này chưa nghĩ tới tước hiệu Nữ vương mà Giáo hội sau này kính tặng Đức Mẹ đâu. Người vẫn dùng chữ “Bà” theo một ý nghĩa tuy tôn trọng nhưng hơi xa cách (Ga 4,21; Mt 15,28; Ga 8,10; Lc 13,12; Ga 20,13). Ở đây ý nghĩa đó có thể giải thích như sau.
Mới khởi sự công việc của Chúa Cha, Người đang đi tìm môn đệ, những người phải bỏ ruộng vườn, nhà cửa, cha mẹ, v.v... mà đi theo Người, như Người đang bỏ mọi sự, kể cả đến mạng sống mình để làm theo ý Đức Chúa Cha. Tiếng "Bà" ở đây rõ ràng tiếp nối thái độ của trẻ Giêsu khi lên 12 tuổi. Quan hệ gia đình, huyết nhục không còn giá trị trong Nước Trời nữa.
Mà quả thực từ nay Đức Giê su đã trở thành Đấng mà Chúa Cha sai đến, làm công việc của Chúa Cha, mà ai muốn được cứu độ cũng phải tiếp nhận như là môn đệ của Người. Từ đó, Đức Mẹ rõ ràng đi xa Chúa hơn. Có thể nói, người vẫn chăm chú theo dõi nhưng không đến gần. Người hiểu Con của người mà các sách Tin mừng còn kể lại trong Mt 12,46-50; Mc 3,31-35; Lc 8,19-21. Họ muốn mời Đức Giêsu về lại Nadarét; nhưng Chúa đã trả lời họ: ”Ai là mẹ và là anh em ta?”. Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ mà nói: Đây là mẹ và là anh em ta. Lời đó không chút làm Đức Mẹ buồn, vì Người tiếp luôn để đánh tan mọi ngờ vực: Phàm ai thi hành ý muốn của Chúa Cha, là anh em ta và là mẹ ta.
Cũng như hôm nay trong câu chuyện tiệc cưới Cana. Đức Mẹ tỏ ra rất bình tĩnh khi không được nghe Con của mình xưng hô với mình bằng tiếng Mẹ êm ái như thuở nào nữa. Có lẽ người đã "trưởng thành" nhờ ngày được nghe câu đáp hồi Đức Giêsu lên 12 tuổi. Người hiểu Chúa muốn mạc khải thêm, đưa mình vào mầu nhiệm thâm sâu hơn. Do đó, chúng ta đừng tưởng Đức Mẹ sẽ tủi thân khi ở gần thập giá mà nghe thấy Con của mình lại gọi: “Này Bà, Gioan là con Bà”. Theo luận lý chúng ta vừa nói, có lẽ đang lúc đau khổ mất con như vậy, được nghe Con của mình dùng lại kiểu nói ngày trước, Đức Mẹ hiểu Chúa muốn nâng cao sự đau khổ của mình lên. Và như một môn đệ tin tưởng ngoan ngoãn, Đức Mẹ đi vào mầu nhiệm của Chúa. Mầu nhiệm Cứu thế. Trong mầu nhiệm này, Đức Giêsu thường dùng từ ‘’Con Người’’ để nói về mình, thì người cộng tác với Người được gọi là “Bà” cũng phải thôi. Như vậy giải thích chữ “Bà” theo nghĩa trịnh trọng cũng được, miễn là đừng nghĩ đến mệnh phụ… mà phải nghĩ đến bình diện Nước Trời.
Đức Mẹ tỏ ra đã đi vào bình diện này khi đến nói với Đức Giêsu: Họ hết rượu rồi! người không bắt đầu bằng một lời âu yếm: “Này con” như hồi Giêsu lên 12 tuổi nữa (Lc 2,48)…. người đơn sơ trình bày sự cố: họ hết rượu. Dĩ nhiên người đã phải biết người ta không có cách nào nữa. Và phải có một can thiệp đặc biệt. Đức Mẹ không ép, không nài, chỉ trình bày… nhưng tin tưởng, tin chắc, như môn đệ chạy đến với Thầy… hiểu Đức Mẹ như vậy mới bắt được tiếp diễn của câu chuyện.
Nếu lời Đức Mẹ đưa tin: Họ hết rượu rồi ! thoạt tiên có thể khiến Đức Giêsu sửng sốt vì như chạm đến một cái gì sâu xa ở nơi Người, nhưng đó chỉ là cảm giác tức thời chóng qua. Người bình tĩnh đi vào bình diện ám chỉ ấy ngay. Người hiểu Đức Mẹ xin một sự can thiệp đặc biệt. Người nhớ Kinh Thánh đã bao lần nói: thiếu rượu là dấu chỉ của thời kỳ Thiên Chúa giận dỗi tuyên phạt dân Nguời. Chính vì việc này mà Người phải đến trong thế gian. Người phải đem rượu đến cho dân Chúa được phấn khởi và cứu độ. Hữu ý hay vô tình, Đức Mẹ không phải chỉ gợi lên quyền năng của Người, nhưng nhất là sứ mạng cứu thế của Người. Câu Người nói sau: Giờ Tôi chưa đến, chứng tỏ Người đang suy nghĩ trong bình diện ấy.
Nhiều nhà chú giải - đi đầu là thánh Augustinô - khẳng định: Đức Giêsu muốn nói đến Giờ mà chúng ta vẫn thường nghĩ, là lúc Người biết đã đến giờ Người phải qua đời này để đến với Chúa Cha, tức là lúc Người đi vào mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh, mở đầu bằng việc cầm lấy chén rượu mà tuyên bố: Đây là chén Máu Ta, Máu Giao ước mới, sẽ đổ ra cho nhiều người được khỏi tội!
Nhưng không phải lúc nào thánh Gioan cũng dùng theo ý nghĩa đó. Ý nghĩa chỉ sáng tỏ, tùy ở văn mạch, nhất là câu tiếp theo. Bởi vì có giờ không còn thờ phượng trên núi này hay tại Giêrusalem (4, 21-23), có giờ kẻ chết sẽ nghe tiếng Con Người (5, 25-28), giờ môn đệ bị bắt bớ (16,2), giờ Chúa nói rõ, nói thẳng về Chúa Cha (16,25), giờ môn đệ bỏ Người một mình (16,31).
Có hai chữ khác nói đến giờ của Người như ở đây, đó là 7,30 và 8,20: người Do thái muốn bắt Người, nhưng giờ Người chưa đến.
Đúc kết lại, mọi tiếng giờ đó đều nói đến những “mốc” trong cùng cuộc cứu độ, trên bình diện cứu thế. Đặc biệt là những lúc Đức Giêsu được vinh hiển, vì với Gioan, Đức Giêsu đi vào Tử nạn là đi vào vinh quang, cũng như khi làm dấu lạ, thì Người tỏ vinh quang Người ra.
Như vậy, không tất nhiên ở đây phải nghĩ đến giờ cuối cùng, bởi vì vinh quang Ngôi Lời đã bắt đầu mạc khải từ Nhập thể (chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người), và mỗi khi Người làm dấu lạ.
Thế thì chỉ cần nghĩ, hôm ấy Chúa Giêsu nói chưa đến lúc tỏ vinh quang, đến lúc làm phép lạ đầu tiên, bởi vì "giờ" của mầu nhiệm cứu độ, Đức Giêsu không làm chủ mà phải theo quy định của Chúa Cha. Ở đây, Chúa Giêsu muốn "dạy" Đức Mẹ chân lý ấy chăng? Trong mầu nhiệm cứu thế, ai cũng phải lắng nghe, vâng phục ý Cha trên trời.
Thành ra câu chuyện đối thoại giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu ít ai có thể hiểu được. Bề ngoài, ở bình diện loài người, đó là lời xin và lời từ chối. Ở bình diện cứu thế, đó lại là cuộc trao đổi sâu xa thích thú về ý của Chúa Cha. Có thể nói, Đức Giêsu lúc đầu muốn từ chối thật. Chữ "Bà" xa lạ là một dấu. Câu tiếp theo “Chuyện đó có hệ gì đến bà và tôi...” cũng đi theo ý ấy, vì trong Kinh Thánh những câu như vậy đều có ý nghĩa xa cách (Thp 12,2; 2S 11,10; 19,23; 1V 17,18; Mt 8,29; Mc 1,24; 5,7; Lc 4,34; 8,28; Mt 27,19). Nhưng đây chỉ là sự xa cách ở bình diện tự nhiên và huyết nhục. Đức Giêsu mời Đức Mẹ vào bình diện khác, bình diện cứu thế, nên Người nói tiếp: “Giờ tôi chưa đến”.
Và chúng ta bước sang bình diện khác, bình diện mầu nhiệm cứu thế, ở đó những quan hệ huyết nhục và những sự việc trần gian không còn ý nghĩa gì nữa… Ở với con mình lâu rồi, và nhất là như đã nói, có bài học khi 12 tuổi, Đức Mẹ không những vẫn bình tĩnh mà còn thêm tin tưởng. Mầu nhiệm cứu thế đến không thể làm khổ thêm tình huống tự nhiên mà chính là để cứu vớt. Đức Giêsu đã nghĩ đến sứ mạng của Người thì không thể nào lại không có sự tốt đẹp hơn. Người từ chối ở bình diện này nhưng vẫn làm ở bình diện khác hoặc kiểu khác (xin so sánh với Ga 7,1-10). Do đó chúng ta thấy những lời trong sáng, đầy tin tưởng, vững vàng của Đức Mẹ nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo”.
Người đã đi trước và làm gương sáng cho lòng tin của người đàn bà nọ thuộc xứ Canaan (Mt 15,21-28; Mc 7,24-30). Người này đến xin Đức Giêsu chữa con bà khỏi quỷ ám. Người chẳng nói gì. Bà ta cứ lẽo đẽo theo sau không ngớt nài xin. Các môn đệ muốn khỏi rầy rà, cũng họa vào để Người ban ơn cho rồi. Người vẫn từ chối, nói rõ Người chỉ được sai đến cho chiên lạc nhà Israel. Nhưng đức tin kiên trì và thành thật của người ấy, đã khiến Người nhìn thấy ý Chúa Cha muốn ban ơn cứu độ cho mọi kẻ có lòng tin bất cứ từ đâu đến. Nên Ngài đã ban ơn cho người ấy. Qua câu chuyện này, chính Đức Giêsu há đã chẳng muốn dạy chúng ta luôn mở mắt nhìn dấu chỉ của Chúa Cha và của thời đại sao? Cũng như sau này khi thấy người Hy-lạp muốn gặp Ngài, Đức Giêsu nhận ngay ra dấu hiệu của Chúa Cha cho biết đến Giờ Ngài được vinh quang (Ga 12,20-23). Do đó, ở đây chúng ta cũng có thể nói, đứng trước niềm tin vững vàng và lời cầu khẩn tin tưởng của Đức Mẹ, Đức Giêsu thấy đã đến giờ tỏ vinh quang ra cho môn đệ tin.
Và chúng ta có thể đoán được sự sung sướng của Đức Mẹ, khi thấy Chúa bảo họ đổ đầy nước 6 chum đá ở đấy, mỗi chum chứa được khoảng 80 hoặc 120 lít. Người còn sung sướng hơn nữa sau này khi biết thứ rượu rót ra lại là thứ ngon. Gioan không nói gì về những tâm tình này của Đức Mẹ. Người chỉ kết truyện bằng câu: “Sau đó Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Ca-phác-na-um và ở lại đó ít ngày”. Đức Mẹ đã nhập đoàn, nói đúng hơn, đã là môn đệ hàng đầu của Chúa Cứu- thế.
Thật ra, các giáo phụ và các tác giả còn nói nhiều điều khác về câu chuyện tiệc cưới này. Đức Giêsu đã đến không phải chỉ tỏ vinh quang của Người để các môn đệ tin. Cũng không phải chỉ chứng tỏ Người là Đấng Cứu thế đem ơn cứu độ hân hoan đến cho Dân đang lầm than khổ sở. Người con tỏ ra là Người Hôn phu lý tưởng chuẩn bị dư dật rượu ngon cho tiệc cưới Nước trời, khi Người trao chén rượu cho môn đệ nơi bàn tiệc ly sau này. Và như vậy phép lạ hôm nay thật là dấu lạ, loan báo thực tại cao cả lớn lao hơn bội phần mà ai biết sự việc hôm nay cũng phải khát khao mong đợi.
Nhưng nếu Người là hôn phu, thì ai là hôn thê trong câu chuyện này? Chưa thấy rõ cũng đúng thôi vì “Giờ Người chưa đến”. Hôm nay mới chỉ có dấu lạ. Do đó, người ta hãy bằng lòng với một hình ảnh đầu tiên về người hôn thê đúng nghĩa sau này. Nhóm môn đệ tin vào Chúa hôm nay là nét phác chân dung Hội thánh Hiền thê. Nét đậm hơn nữa về Hội thánh này là chính hình ảnh: sau đó Người cùng với thân mẫu, anh em và các môn đệ xuống Ca-phác-na-um. Và sao chúng ta không nói: Đức Mẹ là người có công tạo ra người Hiền thê Hội thánh nhờ sự can thiệp vì lòng Mẹ tế nhị và nhờ đức tin vững vàng không nghi nan của người? người không được kể tên đầu tiên đi theo Chúa Giêsu xuống Ca-phác-na-um ư, khiến Người đã là chị, là gương mẫu cho Hội thánh Hiền thê bắt chước rồi đó! Như vậy, bài tường thuật của Gioan cung cấp cho chúng ta không thiếu điều để nói về Đức Mẹ.
Tuy nhiên, đừng để làm lu mờ ý chính của tác giả, chúng ta hãy trở về với Chúa Giêsu vì đây là một mẫu Phúc Âm của Người mà dù sao Đức Mẹ cũng chỉ đóng vai phụ. Với những câu chuyện này và những đoạn sau, rõ ràng Gioan muốn cho chúng ta thấy Đức Giêsu đã mở đầu thời đại của Người. Người chọn các môn đệ đầu tiên như là tiền đề để khai mạc mầu nhiệm cứu thế. Với tiệc cưới Cana, Người thiết lập thời đại Tân Ước với rượu mới, biến từ nước rửa của người Do thái tức là Cựu Ước. Rượu mới không đước đựng vào bình da cũ, nên phải tôn thờ cách mới mẻ (2,13-22), phải xoá bỏ mình như Gioan (3,30), phải tìm nước hằng sống (4,7-15) v.v… Những đòi hỏi này và nhiều đòi hỏi khác chỉ hiểu được và thi hành được khi người ta thực sự muốn làm môn đệ của Chúa. Hôm nay chúng ta cũng xin Đức Mẹ giúp chúng ta có tinh thần môn đệ hơn, ngay cả khi chúng ta là Thầy cả hơn hết, tức là tại bàn tiệc Thánh Thể.
Câu chuyện tiệc cưới Cana không gần với bàn tiệc chúng ta cử hành hằng ngày sao? Chỉ cần nhắc đến hai yếu tố quan trọng là ngày thứ ba và nước - rượu. Nơi Gioan, ngày thứ ba gợi đến ngày sống lại từ cõi chết, tức là ngày Chủ nhật tập họp dân chúng. Còn nước hoá rượu chính là tiền đề của việc rượu đổi thành máu.
Vậy tại tiệc cưới Đức Mẹ đã tỏ ra là môn đệ Chúa khi săn sóc, khẩn nguyện, lắng nghe và thi hành. Người săn sóc đến nhu cầu của nhà đám, để dạy chúng ta thái độ phục vụ khi tập họp dân chúng: làm sao để họ không thiếu thốn gì (ánh sáng, âm thanh, chỗ ngồi), nhất là gương sáng về phục vụ. Đức Giêsu há chẳng trở thành tôi tớ tại bàn tiệc ly sao để nói lời sau đây: Thầy làm gương cho chúng con? Chúng ta phải làm gương cho mọi người thấy Hội thánh phục vụ, để họ chia sẻ ơn gọi phục vụ các linh hồn. Mọi việc chúng ta làm nơi nhà thờ hãy nên bài học, chứ không phải những lời đòi hỏi của chúng ta.
Đức Mẹ đã khẩn cầu cho đôi bạn trẻ…. Chúng ta có cầu nguyện thật sự khi dâng lễ, nhất là cho ơn Chúa đi vào những người dự lễ không? Linh mục quản xứ phải cầu nguyện nhiều cho Giáo xứ. Những lễ phải làm cho giáo xứ chỉ là nhắc nhở thôi. Hãy bắt chước Đức Mẹ cầu nguyện cho ơn cứu độ đến, cầu cho đôi tân hôn được ơn Đức Kitô, cầu cho các tông đồ được ơn Thánh Thần.
Người ta cầu nguyện sốt sắng đẹp lòng Chúa khi chú tâm nghe lời Chúa. Linh mục hãy làm chứng là môn đệ biết lắng nghe bằng thái độ chăm chú, yên lặng ngồi nghe đọc lời Chúa và nhất là bằng cách hiểu lời Chúa sâu xa khi giảng lễ, vì là lúc khai triển lời Chúa, không nguyên về hiểu biết nhưng cả về thực hành.
Linh mục làm cho giáo dân thấy Lời Chúa dạy bảo cả mình nữa. Khi đó, chúng ta lại nghe như Đức Mẹ ôn tồn nhắc lại lời người tại tiệc cưới Cana: "Ngài bảo gì, anh em hãy làm như vậy". Linh mục tỏ ra là môn đệ khi giữ Lời Chúa đã nghe, đã giảng tại nhà thờ.
Từ nay, mỗi khi cử hành Thánh Thể, ước gì chúng ta nhớ lại tiệc cưới Cana, tại đó Đức Mẹ đã nêu gương săn sóc, khẩn cầu, lắng nghe và thi hành của người môn đệ Chúa.