TĨNH TÂM LINH MỤC. BÀI III: ĐỨC MẸ LÀ MẸ THIÊN CHÚA
Hai bài trước chúng ta đến gặp Đức Mẹ trong Tân Ước. Nhiều người tiếc: Tân Ước không có một quyển sách riêng về Đức Mẹ, trong khi có một quyển về công vụ các Tông Đồ. Hơn nữa, Đức Mẹ cũng chẳng chiếm nhiều trang trong sách Tân Ước. Những trang ấy lại chẳng nối kết với nhau. Đức Mẹ quá khiêm nhường! Nhưng thánh Thomas de Villeneuve viết : “Tôi đã nhiều lần tự hỏi : Tại sao các tác giả Phúc Âm viết quá sơ sài về Đức Trinh Nữ Maria như thế? Tại sao?... Phải, tại sao? Và tôi có lẽ chỉ có một câu trả lời… là Chúa Thánh Thần muốn như vậy. Vinh quang của Đức Trinh Nữ chỉ hoàn toàn nội tâm, nên dễ nghĩ hơn là diễn tả. Và đã viết đủ về cuộc đời của người rồi, khi đã viết người là Mẹ Thiên Chúa. Bạn thử nghĩ xem còn nét đẹp nào, nhân đức nào, ân sủng nào, vinh quang nào không có trong thiên chức làm Thân Mẫu Thiên Chúa?”.
Đúng, nơi Đức Mẹ, không ân sủng và tước hiệu nào sánh được với việc người đã sinh ra Chúa Cứu Thế. Mọi đặc ân và vinh quang khác đều tùy thuộc, gắn bó với ơn đặc biệt này. Và đây cũng là điều đầu tiên các sách Tin Mừng cho chúng ta biết về Đức Mẹ (Mt 1,18-25; Lc 1, 26-38). Chính Thiên Chúa dùng miệng sứ thần của Người giới thiệu Đức Mẹ với chúng ta là người nhờ quyền năng Thánh Thần sẽ sinh ra “Đấng Cứu Chúa ở cùng chúng ta”. Và đức tin của dân Chúa ở đây không bao giờ rung động. Sự xuất hiện của những lạc giáo hòai nghi về thiên tính của Đức Giêsu chỉ là dịp càng làm nỗi bật hơn nữa tước hiệu Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria. Có chăng chỉ còn một số người chưa đồng ý với Giáo Hội Công Giáo tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Đồng Trinh, đồng trinh trọn đời, đồng trinh cả trước, trong và sau khi sinh. Chúng ta chẳng cần làm công việc biện giáo hoặc hộ giáo, nhất là ở đây. Tuy nhiên hiểu biết là điều cần để đời sống thiêng liêng đạo đức của chúng ta được thêm phong phú.
Chúng ta hãy bắt đầu với các sách Tin Mừng. Matthêu đứng về phía truyền thống Giuse nhiều hơn, trong khi Luca lại dùng truyền thống về Đức Maria. Cả hai khẳng định việc thụ thai trinh khiết của Đức Mẹ. Giọng văn bình tĩnh, lối thuật trong sáng của các ngài, cho thấy các ngài và độc giả thời các ngài không có vấn đề nào. Đức Mẹ sinh con mà vẫn đồng trinh là một sự kiện lịch sử, thế thôi. Chỉ sau này mới có kẻ đâm ra thắc mắc, nhân dịp nghĩ đến nhiều chuyện khác, như chuyện tội nguyên tổ và sự lưu truyền của tội ấy chẳng hạn. Nhưng chẳng đám mây đen nào từ đâu kéo tới có thể che lấp được vẻ trong sáng của các lời Tin Mừng.
Mt 1,23 nói rõ : “Này đây Trinh Nữ sẽ thụ thai”. Vẫn biết tác giả trích lời ngôn sứ Isaia. Nhưng người hữu ý dùng bản LXX, cho dù người biết các kinh sư Do Thái đồng thời không nghĩ như vậy. Hơn nữa, người muốn dùng chứng của chính Giuse cho có giá trị hơn! Quả thật, Giuse đã được đưa vào mầu nhiệm để làm chứng cho mầu nhiệm nơi Đức Trinh Nữ: “Maria cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (1,20). Không chối bỏ được sự việc hiển nhiên ấy, có người muốn phủ nhận sự đồng trinh của Đức Mẹ khi nói sau Đức Giêsu, Đức Maria còn có những người con khác. Họ không hiểu ngôn ngữ Thánh Kinh khi nói về các anh em "họ" của Đức Giêsu. Nhất là họ không hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa. Họ không nhớ lời Đức Giêsu nói về những lý do có thể có về việc đồng trinh (Mt 19,10-12). Maria và Giuse là những người đầu tiên gặp Nước Trời và hiểu Nước Trời hơn ai hết mà không biết bỏ và bán mọi sự để được Nước Trời sao ? Bao nhiêu điều các sách Tân Ước viết về các trinh nữ và về Hội thánh đồng trinh, sẽ hiểu sao được khi không tin Đức Mẹ đồng trinh ?
Tuy nhiên người ta thích nhắc đến bài tường thuật của Luca hơn. Đó là lời chứng của Đức Mẹ. Tế nhị lắm, nhất là khi đem so sánh với việc mới xảy ra được sáu tháng. Cũng thiên thần Gabriel đã đến với ông Zacaria: "Này, đừng có sợ, Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin : bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai." "Dựa vào đâu mà tôi biết được điều ấy vì tôi đã già và nhà tôi cũng đã quá tuổi…" "Thì ông sẽ câm không nói được cho đến khi các điều ấy xảy ra.… Khi thời gian phục vụ ở Đền Thờ đã mãn, ông trở về nhà. Ít lâu sau, bà Êlisabét vợ ông có thai". Câu chuyện tuy lạ nhưng vẫn còn thường tình, và cũng xảy ra nhiều trường hợp tương tự. Cứ đọc các bài tường thuật ấy, rồi nhìn vào câu truyện truyền tin cho Đức Mẹ. Người ta sẽ đi và một thế giới khác, không còn thường tình nữa. Rõ ràng Đức Maria thụ thai bởi Thánh Linh. Rõ ràng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Rõ ràng Đức Maria không còn phải thắc mắc : "Làm sao có chuyện ấy được vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" Và Maria chỉ còn biết thưa: "Vâng, này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói".
Mọi lời giải thích thêm đều dư thừa. Tuy nhiên chúng ta đừng vội bỏ qua mà không bắt lấy một số gợi ý phong phú khác. Câu thắc mắc của Đức Mẹ có thể làm ta nghĩ tới một lời khấn đồng trinh nào của người không? Đó là ý kiến của thánh Augustinô và sau đó của rất nhiều người. Nó có thể trả lời những vấn nạn xưa kia rất dễ dàng, những vấn nạn căn cứ nguyên vào việc Maria đã đính hôn với Giuse. Maria đã đính hôn thật chứ, nhưng là theo thông lệ thời bấy giờ; và hơn nữa để có thể có một người dễ thông cảm với quyết định sống đồng trinh của mình, nơi Giuse người công chính. Nhưng người thời nay lại vấn nạn có vẻ thông thái hơn: Làm sao Maria có thể khấn đồng trinh được cả khi môi trường xã hội Do Thái thời bấy giờ coi người nữ không chồng là một bất hạnh. Nhưng thật ra lịch sử đã đem lại nhiều ánh sáng mới. Nhất là các khám phá mới đây ở Qumran cho thấy vào thời Đức Mẹ, không thiếu các người đạo đức sống độc thân. Và sự kiện này khiến người ta phải đọc lại Cựu Ước và thấy rằng nền đạo đức ở đây không phải không hướng về một sự đồng trinh vì Nước Trời đâu.
Tuy nhiên chúng ta hãy theo lập trường của các nhà Kinh Thánh thời danh (Lyonnet, Feuillet…), đừng dùng những danh từ “khấn hứa” để nói về Đức Mẹ kẻo người thành các nữ tu thời nay. Hãy nhìn người như một thiếu nữ Sion thanh bạch, trong trắng và nhất là đạo đức. Hãy nhìn người như Gabriel hôm truyền tin đã thấy người. Maria là người được Thiên Chúa sủng ái. Người tôn thờ Đức Chúa một cách tuyệt đối. Người hơn một thiếu nữ trước khi vào dòng, nếu được ví như vậy. Người có tâm trạng khó tả, muốn quyết mà chưa thể định vì ý sâu xa của mình khó giải thích quá và chắc chắn không được sự tán đồng. Người chờ đợi một dấu hiệu, một sự thông cảm của Giuse chẳng hạn… Đúng lúc ấy sứ thần Gabriel đến. Thiên Chúa ban cho người quá sức tưởng tượng. Đúng là Tin Mừng Chúa gửi đến cho người. Gabriel bảo người vui lên là có lý. Lời sứ thần ám chỉ ơn cứu độ. Ơn ấy đến với người và cho chúng ta. Thiên Chúa đã đem giải pháp đến cho người, nên người có thể bình tĩnh trước sự băn khoăn sau này của Giuse. Phúc cho người vì đã tin !
Đức tin kéo ơn Chúa xuống. Ở đây Thánh Thần đến, đưa Maria vào dưới bóng Đấng Tối Cao. Người ta có thể nhớ lại bao hiện tượng trong Cựu Ước. Nào việc Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước để tạo dựng (Kn 1,2), nào việc mây che phủ Lều Hội Ngộ (Xh 40,34-35), nào việc mây của Đức Chúa che phủ con cái Israel nơi samạc (Ds 10,34), nào việc mây xuống đầy nhà Giavê (1V 8,10). Nhưng không nơi nào sự hiện diện của thần tính lại cụ thể như nơi Đức Maria. Chính việc Thánh Thần đến như thế mà Hài nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa. Việc Maria thụ thai trở thành không tiền khoáng hậu. Đức Giêsu sẽ là Thiên Chúa sinh ra làm người. Là Thiên Chúa, Người là Con của Chúa Cha; là con người, Người là Con của Đức Trinh Nữ. Nhưng Người đã sinh ra bởi phép Chúa Thánh Thần mà không làm thiệt hại sự vẹn tuyền của Đức Mẹ.
Chúng ta đừng tưởng sách Tin Mừng thứ IV không nói về việc Đức Mẹ đồng trinh sinh Chúa. Sách này ra sau. Tác giả cũng như độc giả đã biết sách Tin Mừng Nhất lãm. Điều đã rõ rồi, tả lại làm gì ? Nhưng suy niệm thì vẫn cần. Lời tựa của Gioan là tư tưởng bay cao như cánh chim Phượng hoàng. Ông khẳng định : “Đức Giêsu là Ngôi Lời đã làm người để cho những ai tin vào Danh Người được quyền trở nên Con Thiên Chúa… không phải do khí huyết, cũng chẳng phải do ý muốn tự nhiên của con người, hoặc do ý muốn của phái nam, nhưng chính Thiên Chúa đã sinh ra họ”. Gioan đã không muốn trình bày đức tin của ông về việc giáng sinh của Con Một Thiên Chúa bởi Đức Mẹ đồng trinh sao?
Một cái nhìn tổng quát như vậy đã quá đủ cho chúng ta xác tín. Nhưng đọc kỹ hơn một tý, chúng ta sẽ thấy thánh Thomas de Villeneuve đã không có lý hoàn toàn đâu khi nói tới các sách Tin Mừng đã viết sơ sài về Đức Mẹ. Chúng ta thử lấy lại đoạn văn quen thuộc nhất, đoạn văn Truyền tin. Hôm qua chúng ta đã nói đến lời đầu tiên mà sứ thần Gabriel đã thốt ra khi đến với Đức Mẹ. Thật tiếc, bản dịch mới cũng chỉ dùng lại câu: "Kính chào Bà". Bản dịch TOB sâu sắc hơn khi dùng câu: Sois yoyeuse và tham chiếu với lời sấm của Sophonie, của Zacharie, để khẳng định đây là câu đưa Tin Mừng cứu độ về Đấng Thiên Sai. Không hiểu như vậy, những sấm ngôn kia và những lời sấm của Yô 2,21 cũng như của Is 54,1 chỉ còn là những lời văn chương không áp dụng đúng được cho trường hợp nào cả. Và bản văn của Luca sẽ lạc lõng trong bối cảnh và văn mạch của lúc khởi đầu Tin Mừng.
Tuy nhiên, những lời sau của Luca có thể nói còn khiến chúng ta hiểu về Đức Mẹ hơn nữa. Lời vừa rồi muốn loan tin cho thiếu nữ Sion đích thực. Lời sau thật độc đáo, dành riêng cho Đức Mẹ, không được dùng ở chỗ nào khác, trừ Ep 1,6: “Ân sủng Người đã đổ đầy chúng ta trong Con yêu dấu của Người”. Nhưng chính câu này lại giúp chúng ta bắt được ý của Luca. Nay ở trong Con yêu dấu của Chúa, chúng ta mới được đầy ân sủng. Còn Đức Maria đã được chào là con - người - đầy - ơn - sủng ngay cả trước khi thụ thai Ngôi Lời. Chỉ người có tên riêng đặc biệt ấy. Kekharitoménè: Đầy ơn sủng hay "sung sủng". Sách Huấn Ca 9,8 bảo đừng có đưa mắt nhìn người nữ Kekharitoménè, đầy nhan sắc. Ở đây, Gabriel không được vô phép như vậy. Thiên thần không có thân xác, không có cái nhìn xác thịt, chỉ có cái nhìn thiêng liêng, chiều sâu tâm hồn; và như vậy tâm hồn Maria đẹp một cách linh thiêng (do đó nay có lễ Đức Maria là tình yêu xinh đẹp) tràn đầy vẻ đẹp. Ừ, từ "đầy" nhắc chúng ta nhớ đến có nhiều thứ ân sủng…, nhưng mọi ân sủng qui về một mối là Thánh Thần. Tâm hồn đầy Thánh Thần là đầy ân sủng, là đầy sự thánh thiện, đầy ơn thánh hóa. Từ bao giờ? Gioan Tẩy Giả được đầy Thánh Thần ngay từ lòng mẹ (Lc 1,15). Không lẽ Đức Mẹ thua kém. Chính người đem ơn ấy đến cho Gioan. Như vậy, ngay từ khi được thụ thai, Đức Mẹ đã đầy ơn sủng và ta có thể dựa vào đây để nói về việc đầu thai vô nhiễm của người. Tuy nhiên, ở đây chỉ cần khẳng định với Gabriel : Tâm hồn Maria (nói tắt Maria) xinh đẹp lạ lùng. Lời chào ấy quả thật gây bối rối cho Maria. Người không sợ như Giacaria. Thiên Thần không làm cho người sợ. Người chỉ sửng sốt về những lời vừa nghe động đến nội tâm tinh tế của một thiếu nữ đạo đức.
Lúc này sứ thần phải trấn an Người: “Đừng sợ, Maria ạ”. Luca đã viết trước lời trấn an của Chúa Giêsu phục sinh sau này, đặc biệt với Maria. Người gọi tên bà và bà đã sung sướng nhận tin phục sinh. Ở đây Đức Maria được trấn an và nhận tin sinh Con Thiên Chúa. Maria bắt được ngay nội dung và phản ứng nhẹ nhàng, tin tưởng nhưng nhiều ý nghĩa: "Làm sao được, tôi không biết người nam". Chính câu này ám chỉ trạng thái của tâm hồn Maria : không nghĩ gì đến người nam? Vì Maria đã thấm đầy Lời Chúa. Chỉ đọc Cựu Ước cũng đã thấy Đức Chúa khao khát tìm thấy trái tim của dân Người hòan toàn thuộc về Người. Ngày nay chúng ta xác thịt nặng nề còn hiểu được như vậy, huống chi một tâm hồn đã được Chúa Thánh Thần nhào nặn, cư ngụ ngay từ đầu. Maria đã muốn hiến trái tim mình cho Chúa (cho dù chẳng biết gì về hình thức khấn hứa).
Đủ rồi ! Chúng ta hãy khai triển vắn tắt thêm một vài khía cạnh của ơn làm Mẹ Thiên Chúa.
Và trước hết chúng ta có thể tự hỏi: Đức Maria có ý thức hết nội dung của sứ điệp để dám nói lên hai chữ Xin vâng không? Maria là con người của đời sống nội tâm; có phản ứng chậm vì luôn lắng nghe và suy niệm. Sự xuất hiện của Thiên thần không làm người hoảng hốt. Ngay lời đầu tiên cũng không làm người rạng mặt lên. Ngược lại đến tiếng "đầy ơn phúc" chạm đến nội tâm mới làm người tạm nói là xao xuyến mất bình tĩnh. Công với lời sau, báo tin Thiên Chúa ở với người, như ở với Maisen khi được sai đến Pharaon (Xh3,11), như Ghêđêon sắp được sai đi diệt giặc (Thp 6,11-16). Gabriel trấn an trình bày. Câu hỏi lại của Maria liên quan đến vấn đề đồng trinh tỏ ra người đã rất sáng suốt và bình tĩnh. Người tiếp tục nghe: hiểu rõ đây là việc lạ Chúa làm. Thai mình mang do Thiên Chúa. Đó là Con của Ngài. Vốn sẵn khiêm nhu, Maria tin việc Chúa làm; và vâng lời. Vâng lời để Thiên Chúa làm công việc cứu thế ở nơi mình, để đi vào công việc ấy. Thế nào không rõ, nhưng hết mình, như một môn đệ… và một tôi tớ. Maria thật tỏ ra xứng đáng với ơn Nhập thế. Con nào mẹ ấy. Mẹ nào con ấy. Tiếng Xin vâng của Đức Mẹ đồng nghĩa với lời nguyện làm theo ý Cha của Đức Kitô khi vào thế gian (Hr 10,5-9) và với bao lời khác. Người đã tuyên bố đến chỉ làm theo ý Đấng đã sai Người. Thái độ của Maria đáng khen hơn nữa, sau lời Gabriel nói đến vinh quang của con Vua Đavít. Đức Maria dường như không để ý đến vinh dự, cũng như Đức Giêsu ở bàn tiệc ly ý thức mọi quyền được ban cho mình mà vẫn muốn làm tôi tớ. Đối với Đức Mẹ, vinh quang là của Chúa, mình phải khiêm nhường. Khác với Evà. Do đó, các tác giả có lý để so sánh Evà với Đức Maria, sau khi thấy Phaolô đã sánh Adong với Đức Giêsu.
Thánh Phaolô khẳng định Đức Giêsu là Adong mới (Rm 5,12-20). Nhiều giáo phụ theo sau và tuyên xứng Đức Maria là Evà mới. Thật ra, nói đến tước hiệu này ở đây có thể hơi sớm. Nhưng có đặc ân nào nơi Đức Mẹ không tùy thuộc vào việc người sinh ra Chúa Cứu Thế? Ở đây chúng ta chưa nói tới việc Đức Maria đi trước Hội Thánh để sinh ra cho Chúa một dòng dõi mới, cho dù khi Đức Maria cưu mang và sinh hạ Đức Giêsu là đầu của Nhiệm Thể, chúng ta đã nhìn thấy được người dự phần trong khi các chi thể được sinh ra. Ở đây chúng ta vẫn dừng lại ở việc người sinh ra Chúa Cứu Thế, và dựa vào Kn 3,15 để chào người là Evà mới, và đồng ý với mọi so sánh giữa Người và Evà cũ. Một bên khiêm nhường vâng theo ý Chúa, bên kia kiêu ngạo và bất tuân. Một bên, do đó, là mẹ của chúng sinh, theo đúng ý nghĩa sinh ra những người có sự sống thật là con Thiên Chúa và như thế mới thật là Evà do bàn tay Chúa tác thành: còn bên kia chỉ sinh ra những người sẽ chết. Nói đúng hơn, Maria đã lấy lại địa vị ban đầu của Evà, vì bà này muốn tự lập, xa Thiên Chúa, nên sẽ chỉ là mẹ của loài người hay chết. Lời chúc của Thiên Chúa cho loài người khi mới tạo dựng không bị rút lại. Phái tính và hôn nhân vẫn luôn tốt đẹp. Có hư đi một chút, một phía, nhưng vẫn đẹp đẽ theo một nhánh khác. Phaolô há chẳng muốn ám chỉ như vậy trong 1Tm 2,15 sao? Người viết : “Người đàn bà đã phạm tội khi bị dụ dỗ : tuy nhiên, người đàn bà sẽ được cứu nhờ sinh con cái”. Câu văn tối nghĩa ấy sẽ sáng tỏ nhờ Ga 4,4-5: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới lề luật, để chuộc lại những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”. Phaolô muốn nói đến Đức Maria đã sinh ra Đấng Cứu Thế để chuộc lại cho tất cả những gì mà Evà cũ đã gây ra khi phạm tội. Đức Maria vì thế là tạo vật tinh tuyền, giữ được sự tinh tuyền từ bàn tay Chúa tạo ra, tức là luôn hướng về Chúa với tất cả con tim tươi mát của mình, suốt đời thật là Đấng Đồng Trinh theo nghĩa sâu xa vô cùng.
Những vấn đề trên dĩ nhiên cần phải đào sâu: nhưng được gợi lên, chúng có thể giúp ta đi đến những kết luận rất thực tế: Nếp sống đồng trinh trong Giáo Hội nói chung và của hàng linh mục nói riêng, không phải là một hào quang và là một sức mạnh của Hội Thánh Chúa Kitô sao? Lời chứng Tin Mừng của những tông đồ đồng trinh vừa trong sáng vừa mạnh mẽ. Nhưng sự đồng trinh ấy dễ bị đem ra đàm tiếu biết bao! Chúng ta không thể nói: Kệ họ. Tuy nhiên biện hộ là gì, khi không quan tâm đến sự yếu đuối mỏng dòn của xác thịt. Phải khiêm nhường và tựa vào Chúa. Phải phó thác mình trong tay Chúa, tức là bắt chước Đức Mẹ muốn dâng trái tim nơi Chúa ngự. Căn nhà sạch không có chủ ở sẽ bị nhiều quỷ rủ nhau đến chiếm. Nhưng nếu trong đó có người khỏe hơn chúng, thì…được bảo vệ (Mt 12, 29. 43-45).
Tuy nhiên Đức Mẹ còn cho chúng ta một tấm gương khác nữa. Người tin ở Giuse, con người công chính, sẽ sống với mình, người khuyên chúng ta hãy đẹp lòng anh em linh mục, thấy thoải mái trong linh mục đoàn. Chúng ta đừng xô anh em đi vào con đường tối tăm khi không muốn có tình nghĩa gì với họ. Họ có một trái tim: trái tim nhiều khi đòi yêu thương. Bị đẩy ra khỏi hàng linh mục, làm sao không thấy bất hạnh vì cô đơn? Sứ thần nói với Giuse: Hãy nhận lấy Maria! Câu nói không hàm một ý nào về sự đồng trinh của người sao? Chúng ta cũng hãy chấp nhận nhau để bảo vệ đức đồng trinh của chức linh mục.
Đây là sự độc thân vì Nước trời, Chúa đã dạy như thế. Đừng ai đặt lại vấn đề hoặc đảo ngược lại vấn đề như khi có người nghĩ: Tôi sẽ phục vụ Tin Mừng hơn nếu tôi sẽ trở về nếp sống gia thất. Đó có thể là kết luận hữu lý của người chưa lựa chọn. Còn đối với chúng ta, muộn rồi. Không thể có đời sống tông đồ nào phong phú nơi những người như chúng ta. Đã dấn bước vào đời sống độc thân không thể còn quay lại sau khi đã cầm cầy. Mọi luận lý thật ra chỉ nặng mùi đam mê và ngụy trang cho sự yếu đuối, hoặc ít ra, sự đòi hỏi âm thầm của xác thịt. Hãy nhìn lên Đức Mẹ đồng trinh. Hãy đào sâu quan niệm Hội Thánh đồng trinh sinh ra con cái? Không do khí huyết, phái tính, nhưng bởi Chúa, bởi phép Chúa Thánh Thần. Cộng bao sinh hoạt tài tình lại xem có sánh được với cái hại của việc giũ áo ra đi không, cho dù nếp sống đồng trinh chỉ thật là chứng từ khi tươi mát?
Nói như vậy nghĩa là nếp sống đồng trinh cũng có đòi hỏi. Nó chỉ là chứng từ về Tin Mừng khi nó phong phú trong mục vụ bác ái. Sự đồng trinh của Đức Mẹ là sự đồng trinh phong phú. Nó xây trên đức khiêm nhường hướng về Chúa và cộng tác với Chúa trong lịch sử cứu độ. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta biết bảo vệ và phát huy nếp sống đồng trinh của bậc linh mục.
Chúng ta cũng hãy có một mục vụ bảo vệ đức trong sạch trong Giáo Hội và trong xã hội, dĩ nhiên trước hết bằng đời sống trong trắng chân thực của mình. Ước gì mọi người biết ngẫm nghĩ lịch sử và kinh nghiệm: Biết bao nền văn minh rực rỡ và hùng hậu đã sụp đỗ vì các thứ tội xác thịt! Biết bao gia đình tan nát vì tình yêu thất tín! Chúng ta đừng bi quan, thất vọng trước bao cám dỗ mà giới trẻ đang gặp. Chúng ta không làm việc một mình được đâu! Phải có Chúa, phải có Đức Mẹ, nghĩa là phải cầu nguyện và hãm mình. Nhưng cũng rất cần phải có sự tiếp tay của nhiều bậc phụ huynh gương mẫu. Hãy đề cao những cuộc hôn nhân thành công! Hãy khích lệ nhiều cuộc vui lành mạnh trong các gia đình. Hãy quan tâm để thanh niên thanh nữ dám đối thoại như Đức Maria và thánh Giuse đã đối thoại về tình yêu của mình với Thiên Chúa và với Sứ thần của Người. Chúng ta cứ nhớ điều này là, lòng con người mà hư thì không chấp nhận được ơn Chúa. Ngược lại những tâm hồn luôn hướng về Chúa sẽ gặp được mọi sự tốt đẹp.
Xin Đức Mẹ đồng trinh ra tay cứu vớt, gìn giữ và phát huy đức trong sạch nơi Giáo Hội, nơi Linh mục cũng như nơi đoàn chiên của chúng ta.