BÍ TÍCH VÀ GIÁO HỘI
Nếu nhìn vào đời sống của Giáo hội và đi từ những nhận xét cụ thể, qua những kinh nghiệm sống, chúng ta cũng thấy rằng Bí tích gắn liền với Giáo hội, là chính một phần của đời sống Giáo hội.
Quả vậy, đứng về phía những người ở bên ngoài thì Giáo hội xuất hiện dưới mắt họ như một cơ cấu tổ chức lễ nghi phụng vụ. Nhiều linh mục bây giờ cũng tự coi mình và được coi trước hết như những người ban phát bí tích. Thánh Tô-ma A-qui-nô và truyền thống công giáo từ ngài trở đi hầu hết đều định nghĩa chức linh mục là quyền cử hành thánh lễ.
Nhưng, cũng có một số mỗi ngày một đông các linh mục dựa vào lời thánh Phao-lô : Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng” (1Cr 1,17) để đặt trọng tâm vào việc truyền giáo hơn là phụng vụ, khi nhận thấy các hoạt động thông thường của Giáo hội trong địa hạt bí tích phụng vụ không gây được ảnh hưởng thiết thực bao nhiêu. Vì thế, phải nói rằng mối bận tâm truyền giáo và sự chú ý mỗi ngày một gia tăng về những vấn đề cụ thể, trần thế của con người cộng thêm với phong trào trần tục hóa và giải tỏa quan niệm thiêng thánh trong Giáo hội mấy chục năm năm gần đây ở Au Mỹ, đã góp phần làm cho người ta kém mộ mến và giảm thiểu vai trò của bí tích và phụng vụ trong đời sống Giáo hội.
Sở dĩ như vậy vì thực ra phụng vụ và bí tích không phải là tất cả đời sống của Giáo hội, nghĩa là Giáo hội không nguyên chỉ làm các việc thờ phượng và cử hành các bí tích. Vả lại cũng đừng quên rằng phụng vụ đòi phải có một Giáo hội được thành lập trước đã. Phải xây dựng Giáo hội, đưa những người chưa tin, chưa biết Chúa đến với Giáo hội bằng những hoạt động truyền giáo, hoạt động tông đồ giảng dạy trước, rồi mới đến các hoạt động phụng vụ và bí tích sau. Thiết tưởng thật là sai lầm, nếu nghĩ rằng chỉ mình phụng vụ cũng có thể đảm nhận được vai trò xây dựng này và chỉ cần đưa người ta tới dự lễ và đến tòa xưng tội là đủ làm cho họ thay đổi đời sống.
Hiến chế Phụng vụ nói rất rõ : Phụng vụ không làm hết mọi công việc của Giáo hội, vì trước khi người ta có thể cử hành phụng vụ thì họ cần phải được kêu gọi để tin và thay đổi đời sống. Nhưng làm sao họ có thể kêu cầu Chúa, nếu họ không tin nơi Người ? Làm sao họ có thể tin, nếu không được nghe nói ; làm sao được nghe nói, nếu không có người giảng ? (Rm 10,14-15). Vì thế, Giáo hội loan báo cho những người không tin ơn cứu độ để họ biết có một Thiên Chúa thật và Đấng mà Người đã sai là Đức Giê-su Ki-tô (Ga 17,3) và ăn năn sám hối để thay đổi đời sống. (Cv 2,38)
Ngoài ra, đời sống phụng vụ và bí tích lại còn được tiếp nối bằng một đời sống cầu nguyện riêng tư của mỗi người trong Giáo hội một cách tự do, thong thả. Tất cả những việc đạo đức này như nguyện ngắm, lần hạt, viếng Mình Thánh Chúa, đi đàng Thánh giá v.v... là một phần sinh hoạt cần thiết trong đời sống của Giáo hội nhưng không phải là phụng vụ (x. Vatican II Hiến chế Phụng vụ số 12)
Cuối cùng vì Giáo hội ở trong trần gian và được sai đến với trần gian, nên ngoài sinh hoạt bí tích thuần túy, Giáo hội còn có nhiệm vụ hiến thánh trần gian. Và đó mới là nhiệm vụ chính yếu của nền thờ phượng mới.
Giáo hội hoàn thành nhiệm vụ này, một phần do hoạt động cá nhân của từng tín hữu, một phần do hoạt động cộng đồng của Toàn Thân Thể Mầu Nhiệm, bằng việc thánh hóa những sinh hoạt trong đời sống thông thường hằng ngày, đến việc Ki-tô hóa những cơ cấu tổ chức xã hội trần gian. Xin lưu ý là Ki-tô hóa chứ không phải thay thế, vì đó không phải là nhiệm vụ của Giáo hội và Ki-tô hóa ở đây có nghĩa là thổi vào đó cái hồn sống theo tư tưởng và giáo lý của đạo, làm nẩy sinh và phát triển ngay giữa lòng thế giới tình yêu thương bác ái, vì đó chính là bản tính của Thiên Chúa.
Nói tóm lại, chúng ta không thể thu hẹp đời sống của Giáo hội vào nguyên phụng vụ và các bí tích mà thôi và phải tránh khuynh hướng biến tất cả thành phụng vụ vì e rằng như thế là làm méo mó bộ mặt của Giáo hội.
Nhưng, nếu quả thật các bí tích không phải là tất cả đời sống của Giáo hội thì chúng cũng là phần trọng yếu và trổi hơn cả trong đời sống này.
Có thể nói phụng vụ là đời sống của Giáo hội hiểu theo nghĩa là Giáo hội đã được thành lập để qui tụ nhiều người thành một đoàn thể rộng lớn duy nhất, có nét đặc thù riêng, chứ không theo nghĩa một Giáo hội đang trên đường hình thành, một Giáo hội tản lạc phân tán, một Giáo hội xa lạ với chính mình.
Về điểm này, Hiến chế Phụng vụ cũng viết, sau khi đã minh chứng phụng vụ không phải là tất cả đời sống của Giáo hội rằng : Phụng vụ là đỉnh cao mà hoạt động của Giáo hội hướng tới và đồng thời là nguồn suối từ đó phát ra tất cả sức mạnh của Giáo hội. Vì những công lao vất vả trong việc tông đồ đều nhằm làm cho mọi người khi trở thành con cái Chúa trong Giáo hội, tham dự lễ tế hy sinh và dự tiệc của Chúa.
Chính phụng vụ thúc đẩy những tín hữu đã được thấm nhuần và am hiểu các mầu nhiệm vượt qua đồng tâm nhất trí yêu mến nhau, lại cầu nguyện cho họ thực hành trong đời sống điều họ đã lãnh nhận được do Đức tin.
Quả vậy, không nên quên rằng hoạt động truyền giáo của Giáo hội, việc rao giảng Tin Mừng cho người ngoại giáo hay vô thần chủ ý là nhằm làm cho họ tin và đón nhận các bí tích của đức tin mà gia nhập cộng đồng Giáo hội và tham dự đời sống riêng của Giáo hội. Một hoạt động truyền giáo mạnh mẽ đến đâu mà nếu không chú ý đến việc làm cho đời sống phụng vụ đó đi song đôi thì chắc chắn sẽ dồn những người tân tòng vào một tình trạng bấp bênh về đường thiêng liêng, và liều mình làm tiêu tan hết những gì đã đạt được trước kia nơi họ.
Ngược lại, đời sống cầu nguyện riêng và các thứ lòng sùng kính sẽ bị lệch lạc, méo mó một cách thảm hại, nếu không bắt nguồn từ Phụng vụ và không được Phụng vụ của Giáo hội hướng dẫn. Nhất là, vì đời sống Ki-tô hữu cốt yếu là hiệp thông trong tình bác ái, nên không một hoạt động cá nhân nào có thể gọi được là Ki-tô giáo, nếu từ đầu đến cuối hoạt động đó không được tổ chức sắp xếp một cách tích cực cho ăn nhịp với cộng đoàn là Giáo hội. Hơn nữa, việc thánh hiến trần gian bằng một đức ái hoạt động sẽ có nguy cơ biến thành một mớ những cảm tình lân tuất bâng quơ, chỉ dừng lại ở địa hạt các cơ cấu hay một thứ chủ thuyết luân lý vụn vặt luẩn quẩn trong cái thông thường hàng ngày, nếu nó không thiết thực ăn sâu mọc rễ nơi Chúa, nhờ sự gặp gỡ tiếp xúc sâu xa với Người qua các bí tích.
Bí tích và Giáo hội có liên hệ mật thiết với nhau. Bí tích được cử hành và diễn ra trong Giáo hội, nhưng không phải là tất cả đời sống của Giáo hội. Như vậy có nghĩa là ngoài bí tích ra, Giáo hội còn cần một cái gì hơn thế nữa. Cái đó là tinh thần tông đồ, dấn thân xông pha mạo hiểm trong một thế giới đối nghịch và quay lưng lại với mình như hiện nay. Giáo hội nhận được lệnh truyền của Chúa Cứu Thế phải làm chứng cho Người đến tận cùng trái đất. Lời chứng đó là Người đã chịu chết và sống lại để cứu chuộc và ban thưởng cho những ai có lòng tin, bằng một cuộc đời hạnh phúc không cùng trên Thiên Quốc. Thế nên phải ở rrong Hội thánh và đón nhận các bí tích như những máng thông ơn cứu độ, đang khi chờ đợi hạnh phúc viên mãn trên nơi vĩnh hằng.