Niềm tin Việt Nam: Mỗi bên một vẻ

Niềm tin Việt Nam minh họa trong dạng truyện ngắn về những đời sống Việt Nam và cách thức họ sống với niềm tin, không phải trong quá khứ, cũng không phải trong tương lai, nhưng ngay trong ngày hôm nay và ngay bây giờ. Đọc Niềm tin Việt Nam, có thể bạn sẽ nhận ra những nhân vật xuất hiện trong Niềm tin Việt Nam chính là bạn, hoặc những người thân trong gia đình, hoặc những người hàng xóm, hoặc những người tín hữu trong xứ đạo của chính bạn.

Cuối tuần, sau thánh lễ sáng Chúa Nhật, ba mẹ con vừa về tới nhà. Bà Miêng vô phòng, thay áo dài. Bất ngờ, bà nhận ra cái quần jean Levi gấp gọn mới tinh đang nằm trong tủ áo. Cầm cái quần jean màu xanh lên, bà nhớ tới cô em gái của mình. Chúa Nhật tuần trước hai chị em dẫn nhau lên Uptown khu Việt Nam, mua thẻ điện thoại gọi về Việt Nam. Sau khi kiếm được mấy cái thẻ giá rẻ gọi về Sài Gòn không bị tính lệ phí nối đường dây, nhất cử lưỡng tiện, em ở Mỹ hai mươi năm dẫn chị mới qua Mỹ đi ăn phở Việt Nam; chị gọi Phở Tái, tô lớn, thêm hành trần, em gọi Phở Chín, tô nhỏ, thêm bò viên. Sau hai tô phở, em hứng chí đề nghị hai chị em đi shopping. Chị thắc mắc,

— Đi shopping để mua cái gì?

— Mua cho bà quần áo chứ mua cái gì. Bên đây không ai mặc quần the áo bà ba ra đường đâu bà nội.

— Gì kỳ vậy? Vậy chứ, bên đây người ta mặc cái gì?

Chị hỏi, em đáp. Chị thắc mắc, em nhẫn nại giải thích về đời sống bên vùng đất Bắc Mỹ. Thế là nhất cử không còn là lưỡng tiện nữa, nhưng hóa ra nhất cử tam tiện.

Cả một đời chị mặc quần đen, áo cánh, giờ này em và chị loay hoay trong thương xá chọn lựa quần jean, áo thun cho người vừa mới đặt chân lên vùng đất mới. Sau hai ba tiếng đi ra đi vô liên tục từ khu quần áo phụ nữ trong tiệm Marshalls cho tới phòng thử quần áo, cuối cùng cô em cầm cái quần jean màu xanh ra quầy trả tiền cho cô chị. Đưa cái quần cho bà chị, dì Minh nói,

— Bây giờ mua cho bà một cái mặc trước. Nếu thích, tuần tới mình ghé vào đây mua thêm.

Nhưng đúng một tuần đã trôi qua, chị vẫn chưa dám mặc quần jean đi ra đường. Giờ này, nhận ra bà Miêng đang xuất hiện ngay trước mặt, quần jean Levi vải cứng thơm mùi dường như lay động nhắc nhở với chủ nhân về sự hiện diện của mình trong ngăn tủ đóng kín.

Bà Miêng nhìn cái quần jean, tay sờ sờ mặt vải cứng. Sau những ngần ngại, lưỡng lự, bà cầm cái quần jean lên, mặc vào người. Đi tới trước cái gương lớn đặt ngay trong góc phòng, bà Miêng loay hoay ngó trước, liếc sau. Hết nghiêng sang bên trái, ngắm nghía bên tay phải, bà lại kéo lên, cao hơn lên, cao hơn một chút; nhưng rồi, nghĩ sao, bà lại đẩy xuống một tí. Bà Miêng dường như chỉ còn đôi mắt mở to chăm chú theo dõi bóng mình và cái quần jean Levi mới tinh đang phản chiếu qua gương. Bà Miêng nghĩ tới cô em gái và câu nói,

— Bà mà cứ quần áo bà ba đi ra đường, cảnh sát bắt bỏ vào nhà thương tâm thần dáng mà chịu. Lúc đó đừng có mà khóc. Quần áo bà ba của Việt Nam mình là quần áo chỉ mặc trong phòng ngủ của người Mỹ mà thôi.

— Sao kỳ vậy?

Cô em cười, giải thích mà cũng là kết luận,

— Chị Hai ơi! Bên đây là Hoa Kỳ, không ai mặc quần áo bà ba ra đường hết.

Đang miên man với quần jean, với phong tục của hai vùng đất, với hai nền văn hóa khác nhau về trang phục trong nhà và ngoài phố, bà Miêng chợt quay lại với hiện tại, bởi bên ngoài chuông điện thoại bất ngờ reo vang inh ỏi. Reng, reng, reng! Dừng lại một thoáng, mẹ nghiêng tai nghe ngóng tiếng của cậu Ba Hưởng,

— Hêllô! Dạ, cháu đây, cháu là Hưởng chứ không phải anh Hoàng. Uả! Giọng cháu với anh Hoàng giống nhau lắm hả, dì? Mẹ cháu? Dì muốn nói chuyện với mẹ cháu… Dạ, dạ, cám ơn dì, để cháu nói với mẹ cháu...

Hai phút sau, bà Miêng nhận ra tiếng gõ cửa và giọng của cậu Ba Hưởng oang oang ngay bên cánh cửa,

— Mẹ ơi! Dì Minh vừa mới gọi phone. Dì ấy nói khoảng mười phút nữa, dì sẽ lái xe qua nhà mình chở mẹ và tụi con đi ăn phở dưới Uptown.

Mẹ xoay người, vặn ổ khóa, mở cửa, bước hẳn ra bên ngoài. Cậu Hai Hoàng và cậu Ba Hưởng trợn tròn mắt nhìn mẹ mình. Không hẹn, cả hai cùng buột miệng kêu to,

— Wow!

Cậu Ba Hưởng xuýt xoa,

— Mẹ nhìn đẹp thật. Mặc quần jean với áo thun, nhìn mẹ trẻ hơn mấy chục tuổi. Mẹ mặc cái quần jean này vừa y. Ai lựa cho mẹ cái quần này vậy? Mẹ hay dì Minh?

Bà Miên trả lời,

— Dì Minh, dì Minh mua cho mẹ tuần trước.

Cậu Hai Hoàng miệng điểm một nụ cười,

— Hèn chi lúc nãy trong nhà thờ, con ngó thấy bao nhiêu ông liếc nhìn theo mẹ lúc mẹ xếp hàng đi lên rước lễ.

Bà Miên nói nho nhỏ, giọng ngập ngừng, mặt đỏ gay,

— Tụi bay, hai đứa nói quá làm mẹ quê.

Cậu Ba Hưởng cất tiếng,

— Mẹ mới qua Mỹ gần nửa năm thôi, mà thấy mẹ khác quá. Mai mốt bố con qua đây, chắc không nhận ra mẹ nữa.

Cậu Hai Hoàng chen vào giữa câu chuyện,

— Anh em mình ở với mẹ gần một năm rồi, thế mà còn không nhận ra mẹ, thì còn nói chi bố. Chắc con phải gọi điện thoại về Việt Nam nói với bố, bố ơi, tui con không dám bảo đảm đâu, bố mà không lo qua Mỹ sớm, coi chừng mất mẹ, khi đó đừng than trách hay là cự nự hai đứa con.

Bà Miêng cười, nói nho nhỏ,

— Cái này chắc là tại bơ sữa đế quốc…

Cậu Hai Hoàng nói,

— Hay là tại gạo thơm Thái Lan?

Cậu Ba Hưởng vỗ tay,

— Con biết rồi, chắc là tại phở Việt Nam?

Cậu Ba Hưởng quay sang bà Miêng,

— Nói tới phở con mới nhớ, mẹ ơi, từ hồi qua Mỹ tới nay, mẹ ăn phở mấy lần rồi hả mẹ?

Bà Miêng nhíu mày, suy nghĩ,

— Con hỏi một câu khó mà trả lời! Con hỏi mẹ có bao nhiêu tiền đô la dấu trong phòng, chắc còn dễ đếm hơn là đếm những tô phở đã chui vào trong bao tử từ hồi tới Mỹ.

Cậu Hai Hoàng thắc mắc,

— Con nghe người ta nói phở Việt Nam ở mỗi vùng mang một mùi vị khác nhau. Mẹ qua đây gần nửa năm rồi, cho nên con muốn hỏi mẹ câu này, mẹ thấy phở Mỹ với phở Việt Nam mùi vị khác nhau như thế nào hả mẹ?

Bà Miêng dừng lại một phút,

— Con hỏi làm mẹ nhớ tới hồi còn ở bên Việt Nam, mẹ gặp nhiều người Việt từ Mỹ về thăm họ hàng, nhưng mở miệng ra là họ chê tới chê lui là phở bên Việt Nam dở ơi là dở, tô phở nhỏ tí xíu như cái lỗ mũi, phở chi mà chỉ có dăm ba sợi phở èo uột và lèo tèo có mấy miếng thịt bò thái mỏng dính. Nhưng, ngược lại, mẹ cũng nghe có nhiều người du lịch sang bên Mỹ, về lại Việt Nam họ cũng chê ỏng chê eo là phở ở bên Mỹ nấu dở, tô phở chi mà to như tô phở cứu đói, sợi phở thì cứng ngắc, không mềm và thơm như sợi phở bên Việt Nam. Riêng mẹ, mẹ không nghĩ như vậy. Người ở bên nào thì quen với vị thức ăn ở bên đó. Bên Việt Nam thì ăn quen với vị thức ăn được nấu ở bên Việt Nam. Cho nên không lạ chi, mùi nước mắm khó ngửi với người ngoại quốc, nhưng lại là hương vị thơm tho, đậm đà mùi quê hương đối với người Việt Nam. Bên Mỹ thì quen thuộc với hương vị thức ăn được nấu ở bên Mỹ, cho nên nhà hàng Việt Nam bên Hoa Kỳ pha biến gia giảm lại tô phở Việt Nam cho hợp với khẩu vị của người bên đây.

Bà Miêng gật gật đầu,

— Bởi thế, mẹ nghĩ, cả hai tô phở, phở bên Việt Nam và phở bên Hoa Kỳ cả hai đều ngon. Mỗi bên một vẻ, mười phân vẹn mười. Mà đó là sự thật chứ không phải nịnh nọt bên nào.

Lắng nghe mẹ luận bàn về tô phở Việt Nam, cậu Hai Hoàng trợn mắt,

— Mẹ lý luận cừ khôi thật, không thua chi triết gia.

Bà Miêng cười, mắng yêu con trai,

— Mày đừng có quên, hồi xưa mẹ đã học năm thứ nhất trường Luật rồi đó con ạ.

Bà Miêng tiếp tục dòng tư tưởng,

— Hồi mới tới Mỹ. Mẹ nhớ tụi con chở mẹ vào tiệm phở ở dưới Uptown của Chicago. Bụng thì đói, nhưng ăn mãi mà vẫn không hết một tô phở, bởi vì lúc đó mẹ ngán tô phở bên Mỹ tới tận cổ. Tô phở bữa đó tụi con gọi cho mẹ, mẹ vẫn nhớ là một tô xe lửa, to bằng cái mâm, mới nhìn mà đã thấy ngán. Lúc đó thật tình mà nói, mẹ chỉ muốn quay về Việt Nam ăn tô phở Việt Nam mà mẹ đã từng quen thuộc hương vị trong suốt sáu chục năm qua. Nhưng ăn riết rồi thành quen. Cho nên tuần trước, sau khi mua được cái quần jean mà con thấy mẹ đang mặc đây nè, dì Minh hỏi, “Bây giờ hai chị em mình đi ăn trưa. Chị thích ăn cái gì?” Mẹ nói liền là, “Hai chị em mình đi ăn phở đi”.

Bà Miêng nghĩ ngợi,

— Mẹ chưa qua Âu châu, chưa qua Úc châu, nhưng nghe dì Minh và mấy người bạn có dịp đi qua đó nói phở bên đó không ngon bằng phở bên Mỹ nhưng tiệm phở vẫn đông người. Lắng nghe họ nói, mẹ không dám chia sẻ với họ tư tưởng mà ba mẹ con đang bàn luận bây giờ, bởi ngại đụng chạm, nhưng thật tình mà nói, mẹ không thích cái kiểu so sánh như vậy. Nếu phở tại Paris hoặc bên Sydney không ngon, tại sao người Việt tại những thành phố đó vẫn kéo tới để thưởng thức hương vị Phở. Mà khỏi nói hai đứa con cũng biết rồi đó, phở nguyên thủy là bắt nguồn từ ngoài Bắc, ở ngoài đó, Phở Bắc không ăn với giá sống. Vô trong miền Nam, tô Phở Bắc mới trộn thêm với hương vị miền Nam hóa ra tô Phở có giá sống, rồi có giá trụng. Sau năm 75, người ngoài Bắc vô trong miền Nam ăn tô phở than thở là tô phở trong Nam không có vị phở nhưng toàn là hương vị hủ tíu nước lèo! Đến phiên người miền Nam đặt chân lên Hà Nội, ăn được tô phở Bắc, họ càm ràm là tô phở Hà thành toàn là nước lèo và bột ngọt!

Cậu Hai Hoàng chen vào câu chuyện,

— Mẹ nói con mới chợt nhớ, hồi nọ lúc hãng gửi con qua bên Úc làm việc. Con cũng có dịp ghé vào khu thương xá Springvale của người Việt Nam tại thành phố Melbourne ăn một tô phở. Con thấy phở bên Úc sợi phở to hơn sợi phở bên Mỹ. Cũng là một tô phở Việt Nam, nhưng tô phở tại Springvale khác với tô phở tại Chicago. Thoạt tiên con không hiểu tại sao nước phở bên đó nhìn có vẻ trong hơn tô phở bên Mỹ. Nói chuyện với người Việt Nam bên Úc một hồi con mới biết tại vì nước uống ở bên Úc sạch hơn ở bên Mỹ, chưa kể Úc là một trong những nước nổi tiếng với thịt bò. Cho nên tô phở của Úc hương vị khác với tô phở Chicago, phở Bolsa. Rồi có lần, con cũng có dịp ghé vào tiệm Phở Việt Nam tại thủ đô Đài Bắc và phố Đào Viên của Đài Loan. Rõ ràng phở bên đó cũng là phở bò Việt Nam, cũng vẫn có mùi hồi, mùi quế, mùi gừng, mùi hành, và mùi thịt bò, nhưng tô phở Việt Nam trên đảo quốc Đài Loan phảng phất mùi vị thuốc Bắc.

Bà Miêng vỗ tay vào trán,

— Nhắc tới Úc mẹ mới chợt nhớ chuyện này. Mẹ nghe mấy người bạn bên Úc họ nói ở bên đó, người ta không lái xe bên tay phải như bên Việt Nam hoặc bên Mỹ, nhưng bên tay trái như bên Anh. Bước xuống phi trường Sydney hoặc Melbourne thì chuẩn bị tinh thần tay trái, bên bởi đó xe cộ dọc ngang trên xa lộ và trên những đường phố đều lái bên tay trái, tài xế thì ngồi bên tay phải.

Cậu Hai Hoàng gật đầu,

— Mẹ biết không, bởi người Úc không lái xe bên tay trái, cho nên khi mấy ông đồng nghiệp người Úc bay qua Chicago họp với tụi con, họ nói, “Trong lúc đi ăn lunch, phải băng qua bên kia đường, tụi này không biết phải nhìn bên nào, bên trái hay bên phải, bởi bên Mỹ, dân cao bồi Yankee lái xe ngược đời”. Nghe họ nói vậy, tụi con phá ra cười to, nói, “Tụi tớ tưởng là bên đó dân Aussie Kangaroo của mấy ông mới lái ngược đời chứ”. Thế là tụi con, bên Úc cũng như bên Mỹ cùng phá ra cười, bởi thấy cách nhìn khác nhau của hai nền văn hóa đông tây.

Cậu Ba Hưởng chen vào,

— Con nhớ nước Úc cũng như tất cả những nước nằm dưới Nam Bán Cầu, thời tiết hoàn toàn ngược lại với thời tiết của Bắc Bán Cầu. Trong khi Chicago tháng Mười Hai đang là tuyết trắng, bên Melbourne tháng Mười Hai đang là nắng lửa. Cho nên trong khi ba mẹ con mình đang hát, “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, người Việt Nam tại Sydney thì hát, “Đêm hạ trời nóng Chúa sinh ra đời”…

Bà Miêng nhìn ra ngoài sân, nắng trưa mùa hạ Chicago đang cháy đỏ nung lửa ngoài sân vườn. Bà nói,

— Chúa tạo dựng ra trái đất quay vòng chung quanh mặt trời với thời tiết bốn mùa luân phiên thay đổi. Chúa cũng lấy đất sét nặn ra người nam và người nữ. Bởi Chúa tạo dựng, mùa hè có những cái đẹp của mùa hè; mùa thu có những nét quyến rũ của mùa thu; mùa xuân có những hương vị của mùa xuân; mùa đông có những vẻ đẹp của mùa đông. Mùa nào cũng có cái nét đẹp của mùa đó. Trong ngày thứ Sáu, Thiên Chúa tạo nên người nam và người nữ trong hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu vậy, cả hai, người nam và người nữ không có người nào hay hơn người nào, nhưng khác nhau. Người nam có nhiệm vụ và vai trò hợp với bản chất và bản thế của người nam. Người nữ có nhiệm vụ và vai trò hợp với bản chất và bản thế của người nữ. Mỗi bên một vẻ.

Bà Miêng nói thật chậm, lắc đầu,

— Mẹ không thích cái kiểu so sánh bên này hay hơn bên kia, hay là bên này đúng hơn bên kia. Bên tôi tháng Mười Hai tuyết rơi, bởi thế gian tuyết rơi mùa đông, thì bên kia tháng Mười Hai cũng tuyết bông phải ngập đường. Bên tôi lái xe bên tay trái, bên kia lái xe bên tay phải, như vậy là ngược đời, giống như đẻ ngược. Bên tôi sợi phở nhỏ như sợi bún, tô phở nhỏ, thì bên kia tô phở cũng phải nhỏ, sợi phở cũng phải nhỏ như sợi bún. Những cái so sánh kiểu này hay tạo ra những hiềm khích, những căng thẳng, những hiểu lầm không cần thiết. Từ đó, dẫn đến tình trạng căng thẳng. Mẹ thích cái kiểu so sánh tích cực hơn. Tôi có những cái hay của tôi, anh cũng có những cái hay của anh. Phở nấu ở bên Việt Nam có những cái hay của tô phở quê hương. Phở nấu ở Hoa Kỳ cũng có những cái hay riêng của tô phở hải ngoại. Mỗi bên một vẻ mười phân vẹn mười.

Bà Miêng nhìn vào cái quần jean đang mặc trên người,

— Bởi có cơ hội, cho nên mẹ mới mua được cái quần jean này, mặc vào làm mình trẻ lại. Bởi mẹ có cơ hội, cho nên mẹ mới qua đây sống một đời sống mới. Nhưng quần jean, và bơ sữa không làm cho mẹ ngon lành hơn bất cứ ai, nhưng chỉ làm mẹ khác với những người chung quanh.

Lạy Chúa, cám ơn Chúa đã tạo dựng chúng con khác nhau, mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười. Xin cho chúng con chân thành nhận ra bởi Chúa tạo dựng nên những nền văn hóa khác nhau, mỗi nền văn hóa xuất hiện trên mặt địa cầu đều có những sắc thái, vẻ đẹp riêng tư của nền văn hóa đó. Xin dạy cho chúng con biết tôn trọng những khác biệt giữa chúng con, tế nhị trong ngôn ngữ khi đối thoại trong cuộc sống hằng ngày. Lạy Chúa, xin dạy cho chúng con biết rằng, nếu chúng con biết tôn trọng những nét đẹp riêng tư, bình an sẽ ngự trị và chiếm ngự trong tâm hồn của chúng con.

www.nguyentrungtay.com