ROME>/b> (Zenit. Org).- Bài giải thích về đoạn Tin Mừng phụng vụ Chúa Nhật này, do Cha Capuchin Raniero Cantalamessa, cha giảng Phủ Giáo hoàng.
* * *
Chúa nhật III Phục Sinh-B
Chúa đã Sống lại thật!
Bài Tin Mừng cho phép chúng ta hiện diện tại một trong nhiều sự hiện ra của Chúa Sống lại. Các môn đệ thành Emmaus vừa mệt lã trở về Jerusalem và đang tường thuật điều gì đã xảy ra cho các ông dọc đàng, khi Chúa Giêsu đích thân hiện ra giữa các ông và nói:" bình an cho anh em!" Trước tiên là sợ vì dường như các ông thấy một thần linh; rồi tới sự kinh ngạc đến sự không tin; sau cùng là niềm vui. Còn hơn thế nữa, sự không tin và niềm vui xảy ra cùng lúc" "Và đang khi các ông còn không tin vì vui mừng, và sửng sốt."
Sư không tin của các ông là hoàn toàn đặc biệt. Đó là thái độ của một người tin (bằng không thì không có vui) nhưng không biết nhận thức điều đó cách nào. Như có ngưới nói: "Thật lạ lùng nếu đúng như vậy" Chúng ta có thể gọi điều đó, cách nghịch lý, là một đức tin hoài nghi. Để làm cho các ông xác tín, Chúa Giêsu hỏi các ông có gì ăn không, bởi vì không có gì bằng sự ăn chung hầu an ủi và tạo ra niềm hiệp thông.
Tất cả sự đó nói với chúng ta một diều quan trọng về sự Sống lại. Sự Sống lại không những là một phép lạ lớn, một luận cứ hay là một bằng chứng bênh đỡ sự thật về Chúa Kitô. Còn hơn điều đó, đó là một thế giới mới, người ta đi vào trong đó với đức tin kèm theo sự kinh ngạc và niềm vui. Sự sống lại của Chúa Kitô là một sự "sáng tạo mới."
Vấn đề không phải là tin Chúa Giêsu đã sống lại; vấn đề là được biết Đức Kitô, quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh" (Phil. 3:10).
Chiều kích sâu hơn nữa của Phục Sinh được anh em Chính Thống giáo chúng ta cảm nghiệm cách đặc biệt. Đối với họ, sự sống lại của Chúa Kitô là tất cả. Trong mùa Phục Sinh, khi gặp ai là họ chào nhau: "Chúa kitô đã phục sinh!", và người kia trả lời: "Người đã sống lại thật!"
Tập quán này đã ăn rễ sâu trong dân chúng đến nỗi giai thoại sau đây được nói đã xảy ra lúc bắt đầu Cách mạng Bôn-sơ - vích. Một cuộc tranh luận được tổ chức về sự Chúa kitô sống lại. Trước hết người vô thần nói, có ý đả phá vĩnh viễn đức tin Kitô hữu vào sự phục sinh.
Khi người ấy xuống thì vị linh mục Chính Thống giáo bước lên bục để nói bênh vực. Linh mục khiêm tốn đó nhìn xuống đám đông và nói cách đơn giản : "Chúa Kitô đã sống lại!" Trước cả sự suy nghĩ, tất cả mọi người đồng đáp lại: " Người đã sống lại thật!" Và vị linh mục xuống khỏi bệ trong thinh lặng.
Chúng ta biết rõ sự phục sinh được diễn tả cách nào trong truyền thống phương Tây, ví dụ, trong Piero della Francesca. Chúa Giêsu đi ra khỏi mồ giơ thánh giá lên như một tiêu chuẩn chiến thắng. Gương mặt của Người linh hứng sự tín thác và an ninh lạ lùng. Nhưng chiến thắng của ngài chỉ ở trên những kẻ thù bên ngoài, trần thế của Người. Các thẩm quyền đã đóng ấn trên mộ Người và đặt những lính canh để canh chừng, và trông kìa, các dấu ấn bị bẻ gãy và những lính canh ngủ mê. Những người nam hiện diện, chỉ như những chứng nhân bất lực và tiêu cực; họ không thật sự thông phần vào sự Sống lại.
Trong hình ảnh phương Đông, các khung cảnh hoàn toàn khác biệt. Khung cảnh đó không được diễn ra ngoài trời, nhưng dưới hầm đất. Trong sự phục sinh, Chúa Giêsu không đi ra nhưng đi xuống. Bằng nghị lực phi thường Người nắm lấy tay Adam và Eva, đang chờ đời trong lãnh vực những kẻ chết, và lôi kéo ông bà về với Người đến sự sống và phục sinh. Bên sau hai ông bà, một đoàn lũ vô số những người nam và nữ đã chờ đợi sự cứu chuộc. Chúa Giêsu chà đạp trên những cửa hỏa ngục mà chính Người đã phá vỡ và bẻ gãy. Chiến thắng của Chúa Kitô không ở trên những kẻ thù rõ rệt cho bằng trên những kẻ thù không thể thấy, là những kẻ thù xấu nhất : sự chết, sự tối tăm, sự âu lo, sự dữ.
Chúng ta được can dự trong cuộc trình diễn này. Sự phục sinh của Chúa Kitô cũng là sự phục sinh của chúng ta. Mọi người nam đứng nhìn, được mời hoà đồng với Adam, và mọi người nữ với Evà, và giơ tay mình ra cho Chúa Kitô nắm và kéo ra khỏi mồ. Đó là cuộc xuất hành Phục Sinh phổ quát mới. Thiên Chúa đã đến "với cánh tay hùng mạnh và bàn tay giương ra" hầu giải thoát dân Người khỏi cảnh nô lệ khắt nghiệt hơn và phổ quát hơn là cảnh nô lệ Ai Cập.
* * *
Chúa nhật III Phục Sinh-B
Chúa đã Sống lại thật!
Bài Tin Mừng cho phép chúng ta hiện diện tại một trong nhiều sự hiện ra của Chúa Sống lại. Các môn đệ thành Emmaus vừa mệt lã trở về Jerusalem và đang tường thuật điều gì đã xảy ra cho các ông dọc đàng, khi Chúa Giêsu đích thân hiện ra giữa các ông và nói:" bình an cho anh em!" Trước tiên là sợ vì dường như các ông thấy một thần linh; rồi tới sự kinh ngạc đến sự không tin; sau cùng là niềm vui. Còn hơn thế nữa, sự không tin và niềm vui xảy ra cùng lúc" "Và đang khi các ông còn không tin vì vui mừng, và sửng sốt."
Sư không tin của các ông là hoàn toàn đặc biệt. Đó là thái độ của một người tin (bằng không thì không có vui) nhưng không biết nhận thức điều đó cách nào. Như có ngưới nói: "Thật lạ lùng nếu đúng như vậy" Chúng ta có thể gọi điều đó, cách nghịch lý, là một đức tin hoài nghi. Để làm cho các ông xác tín, Chúa Giêsu hỏi các ông có gì ăn không, bởi vì không có gì bằng sự ăn chung hầu an ủi và tạo ra niềm hiệp thông.
Tất cả sự đó nói với chúng ta một diều quan trọng về sự Sống lại. Sự Sống lại không những là một phép lạ lớn, một luận cứ hay là một bằng chứng bênh đỡ sự thật về Chúa Kitô. Còn hơn điều đó, đó là một thế giới mới, người ta đi vào trong đó với đức tin kèm theo sự kinh ngạc và niềm vui. Sự sống lại của Chúa Kitô là một sự "sáng tạo mới."
Vấn đề không phải là tin Chúa Giêsu đã sống lại; vấn đề là được biết Đức Kitô, quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh" (Phil. 3:10).
Chiều kích sâu hơn nữa của Phục Sinh được anh em Chính Thống giáo chúng ta cảm nghiệm cách đặc biệt. Đối với họ, sự sống lại của Chúa Kitô là tất cả. Trong mùa Phục Sinh, khi gặp ai là họ chào nhau: "Chúa kitô đã phục sinh!", và người kia trả lời: "Người đã sống lại thật!"
Tập quán này đã ăn rễ sâu trong dân chúng đến nỗi giai thoại sau đây được nói đã xảy ra lúc bắt đầu Cách mạng Bôn-sơ - vích. Một cuộc tranh luận được tổ chức về sự Chúa kitô sống lại. Trước hết người vô thần nói, có ý đả phá vĩnh viễn đức tin Kitô hữu vào sự phục sinh.
Khi người ấy xuống thì vị linh mục Chính Thống giáo bước lên bục để nói bênh vực. Linh mục khiêm tốn đó nhìn xuống đám đông và nói cách đơn giản : "Chúa Kitô đã sống lại!" Trước cả sự suy nghĩ, tất cả mọi người đồng đáp lại: " Người đã sống lại thật!" Và vị linh mục xuống khỏi bệ trong thinh lặng.
Chúng ta biết rõ sự phục sinh được diễn tả cách nào trong truyền thống phương Tây, ví dụ, trong Piero della Francesca. Chúa Giêsu đi ra khỏi mồ giơ thánh giá lên như một tiêu chuẩn chiến thắng. Gương mặt của Người linh hứng sự tín thác và an ninh lạ lùng. Nhưng chiến thắng của ngài chỉ ở trên những kẻ thù bên ngoài, trần thế của Người. Các thẩm quyền đã đóng ấn trên mộ Người và đặt những lính canh để canh chừng, và trông kìa, các dấu ấn bị bẻ gãy và những lính canh ngủ mê. Những người nam hiện diện, chỉ như những chứng nhân bất lực và tiêu cực; họ không thật sự thông phần vào sự Sống lại.
Trong hình ảnh phương Đông, các khung cảnh hoàn toàn khác biệt. Khung cảnh đó không được diễn ra ngoài trời, nhưng dưới hầm đất. Trong sự phục sinh, Chúa Giêsu không đi ra nhưng đi xuống. Bằng nghị lực phi thường Người nắm lấy tay Adam và Eva, đang chờ đời trong lãnh vực những kẻ chết, và lôi kéo ông bà về với Người đến sự sống và phục sinh. Bên sau hai ông bà, một đoàn lũ vô số những người nam và nữ đã chờ đợi sự cứu chuộc. Chúa Giêsu chà đạp trên những cửa hỏa ngục mà chính Người đã phá vỡ và bẻ gãy. Chiến thắng của Chúa Kitô không ở trên những kẻ thù rõ rệt cho bằng trên những kẻ thù không thể thấy, là những kẻ thù xấu nhất : sự chết, sự tối tăm, sự âu lo, sự dữ.
Chúng ta được can dự trong cuộc trình diễn này. Sự phục sinh của Chúa Kitô cũng là sự phục sinh của chúng ta. Mọi người nam đứng nhìn, được mời hoà đồng với Adam, và mọi người nữ với Evà, và giơ tay mình ra cho Chúa Kitô nắm và kéo ra khỏi mồ. Đó là cuộc xuất hành Phục Sinh phổ quát mới. Thiên Chúa đã đến "với cánh tay hùng mạnh và bàn tay giương ra" hầu giải thoát dân Người khỏi cảnh nô lệ khắt nghiệt hơn và phổ quát hơn là cảnh nô lệ Ai Cập.