3. Biết nói cám ơn và xin lỗi

Có một vài giáo dân thường nói “móc họng” rằng: ông cha đó làm “cha người ta” rồi nên không cần nói tiếng cám ơn hay xin lỗi gì cả khi vô cớ trách mắng ông X...

Em có biết không, lời phê bình ấy cũng rất có căn cứ vì anh cũng đã từng thấy cha sở nọ vì tính nóng nảy mà bạt tai chú giúp lễ, vì em ấy nhỏ con bê giá sách đụng vào bàn thờ, nhưng sau đó thì ngài vẫn tỉnh bơ như không có gì cả, còn em bé thì cái má bị đánh đỏ rần và khóc thút thít; anh cũng thấy linh mục nọ nói như tát nước vào mặt ông trùm họ vì một chuyện vô lý cỏn con mà không một lời xin lỗi: ông xin cha giảng vài lời sau khi đọc Phúc Âm, vì thánh lễ ngày thường ngài không giảng.

Những đức tính nhân bản nơi người linh mục phải trổi vượt trên những người khác, dù là nói lời xin lỗi hoặc lời cám ơn, bởi vì trong cuộc sống tâm linh, linh mục là người ban ơn cho người khác nhiều nhất, vì linh mục được chọn để làm việc đó, và cũng trong cuộc sống đời thường, người chịu ơn nhiều nhất có lẽ là linh mục, và người làm tổn thương giáo dân nhiều nhất cũng có lẽ là linh mục. Có lẽ chúng ta dễ dàng nói cám ơn hơn là nói xin lỗi, vì nói cám ơn là lòng dạ sung sướng khi được người khác tặng quà hoặc giúp đỡ mình, còn nói xin lỗi thì chúng ta cứ cảm thấy rằng nó nhục sao ấy, vì chẳng khác chi nói mình có lỗi, nhưng thực ra lời nói cám ơn hay nói xin lỗi đều đề cao phẩm giá của mình trước mọi người, và làm cho người khác cảm phục vì sự khiêm tốn của mình khi cám ơn hoặc xin lổi người khác.

Phải biết nói cám ơn khi người khác làm ơn cho mình, và phải biết nói xin lỗi khi mình làm thương tổn hoặc làm hại người khác.

Cám ơn và xin lỗi thì không miễn trừ một ai, dù là giáo hoàng hay tổng thống, dù là giám mục hay giáo dân cũng đều phải dùng đến nó, vì nó thể hiện lên một phong cách rất nhân bản của con người thì huống gì là linh mục, linh mục thì càng phải biết nói cám ơn và xin lỗi nhiều hơn nữa, vì chính các linh mục là những người trực tiếp làm việc với giáo dân, nên rất dễ dàng va chạm với người này người nọ, cho nên hai chữ cám ơn và xin lỗi là những viên thuốc xoa dịu những căng thẳng giữa cha sở và giáo dân, hoặc giữa nhóm này nhóm nọ trong giáo xứ.

Anh đã từng tham gia nhiều hội đoàn, đã tiếp xúc nhiều người và anh thấy đâu đâu người ta cũng đặt hai chữ cám ơn và xin lỗi trên môi miệng họ, họ xích lại gần nhau hơn bởi hai chữ cám ơn và xin lỗi ấy, đó là một biểu hiện của văn minh và có giáo dục. Và anh cũng thấy có rất nhiều linh mục cũng như thế, các ngài cũng vẫn nói cám ơn khi cô phục vụ trong tiệc chiêu đãi rót cho mình một ly nước lã, các ngài cũng nói lời xin lỗi khi thấy lời nói của mình làm giáo dân khó chịu...

Em biết không, bây giờ người ta cũng cài hệ thống ngôn ngữ vào trong người máy (robot) rồi đó, mà hai chữ cám ơn và xin lỗi được nhiều người thích thú nhất, vì nó thể hiện tính người nơi người máy, người ta cố gắng hiện đại hóa cuộc sống, hiện đại hóa công nghệ, và ngoài những lập trình vĩ đại dành cho người máy, thì người ta cũng không quên cài vào hai chữ cám ơn và xin lỗi nơi người máy, và khi nó biết nói cám ơn và xin lỗi, thì mọi người cười ồ vui vẻ nói: nó giống con người.

Người máy biết nói cám ơn và xin lỗi đã được gọi là giống như con người thật, và ngược lại, nếu con người ta không biết nói cám ơn và xin lỗi thì sẽ giống như người máy nặng nề không cài hệ thống ngôn ngữ cám ơn và xin lỗi.

Em thân mến, nếu sau này em chọn con đường làm linh mục, thì em đừng quên hai chữ cám ơn và xin lỗi trên môi miệng em, dù hai chữ đó em dùng để xin lỗi một thiếu nhi trong giáo xứ, thì em sẽ trở thành một linh mục dễ mến nhất của mọi người.

4. Biết lắng nghe

Em có biết không, lắng nghe ý kiến của người khác là việc làm quan trọng của một linh mục, nhất là các linh mục coi sóc xứ đạo, lắng nghe chứ anh không nói là làm theo ý của giáo dân, nhưng lắng nghe ý kiến của giáo dân rồi phân tích với tất cả khôn ngoan và kinh nghiệm, bởi vì cộng đoàn giáo xứ là của họ, là nơi họ sinh ra và lớn lên, còn linh mục là người được phái đến để coi sóc họ về phần linh hồn, để họ sống như ý của Thiên Chúa muốn.

Lắng nghe cũng là thái độ khiêm tốn của người mục tử, bởi vì có những linh mục không hề biết lắng nghe lời góp ý của giáo dân, các ngài chỉ muốn giáo dân thụ động nghe lời của mình mà thôi, nên giáo xứ của các ngài vắng đi nụ cười thân ái giữa cha và con, vắng đi lời giảng hùng hồn truyền cảm của cha sở, vì lòng ngài không vui khi có giáo dân góp ý cho mình trong việc xây dựng giáo xứ. Anh đã nghe nhiều giáo dân than phiền cha này cha nọ chỉ biết làm theo ý riêng của ngài mà thôi, bởi vì ngài muốn chứng tỏ cho giáo dân biết mình là người toàn năng, giỏi toàn diện trên mọi công việc. Có những việc cha sở phải “độc quyền” như lễ nghi và giáo lý, có những việc cha sở phải bàn hỏi với giáo dân và có quyết định sau cùng, có những việc cha sở giao cho giáo dân chủ động quyết định.v.v…thì giáo xứ chắc chắn sẽ phát triển về mọi mặt, mà phát triễn đẹp nhất chính là cha con trong giáo xứ biết yêu mến và thong cảm nhau.

Em biết không, đôi lúc anh tự nghĩ rằng có lẽ thiên chức linh mục cao quý quá, cao trọng quá, nên tự nhiên có những linh mục sau khi mới chịu chức thì thay đổi cả tính tình vốn hiền hòa khiêm tốn của mình, thay đổi luôn cả tư cách vốn rất bình dân thân thiện của mình để trở thành một con người tuy gần mà xa với giáo dân, đương nhiên anh không nói rằng tất cả các linh mục đều như thế, nhưng thực tế vẫn còn có nhiều linh mục vẫn không thay đổi gì sau khi làm linh mục, vì làm linh mục đối với các ngài là để phục vụ dân Thiên Chúa mà thôi.

Anh còn nhớ rất rõ hồi anh còn làm thầy giúp xứ, cha sở (và cũng là nghĩa phụ) của anh đã dạy anh rằng: “Lắng nghe giáo dân là một nhân đức, thầy cần phải tập ngay bây giờ và sau này làm linh mục”, cho nên anh không lạ gì ngài đến giáo xứ nào thì giáo xứ ở đó phát triển, và giáo dân rất đoàn kết cộng tác với ngài trong việc mở mang giáo xứ.

Đã nhiều lần trong công tác mục vụ anh đã lắng nghe ý kiến của giáo dân về một số vấn đề, và anh thấy những ý kiến ấy làm cho công việc truyền giáo của mình càng tốt đẹp hơn, giáo dân thấy cha sở biết lắng nghe ý kiến của mình họ cũng rất vui vẻ phấn khởi, và khi họ biết cha sở không có độc quyền độc đoán thì họ sẵn sàng làm tất cả những gì mà giáo xứ cần đến. Vậy thì lắng nghe trong những dịp nào, trong những dịp sau đây:

- Những lần hội họp ban hành giáo.

Những lúc họp như thế này thì thường thảo luận những việc sắp làm và kiểm thảo những việc đã làm, có một kinh nghiệm nho nhỏ của anh là khi ban hành giáo thảo luận vấn đề thì cha sở nên lắng nghe, không góp ý giữa chừng, tuyệt đối lắng nghe, chỉ nói khi họ hỏi ý kiến, tại sao vậy ? Bởi vì cha sở là người quyết định cuối cùng, nên phải lắng nghe để quyết định của mình được cả hai phía thuận, nghịch đồng ý, hơn nữa khi lắng nghe những lời bàn cải của họ, mình có thể hiểu thêm được nhân cách trí tuệ và khả năng từng cá nhân, để mời họ cộng tác vào những ban bệ trong giáo xứ của mình.

- Lắng nghe khi tiếp xúc trò chuyện với giáo dân.

Giáo dân chỉ thố lộ tâm tình hoặc góp ý cho cha sở khi ngài vui vẻ mà thôi, nhưng cũng có những trường hợp vì quá bức xúc nên giáo dân góp ý với cha sở mà không đợi khi ngài vui vẻ, trong những trường hợp như vậy thì linh mục cần phải lắng nghe hơn nữa, bởi vì khi những bức xúc được nói ra và được người lắng nghe thì giáo dân có cảm tưởng dễ chịu hơn và vui vẻ góp ý hơn.

Thường thì lời góp ý của giáo dân không có gì là to lớn lắm đâu, cũng chung quanh mấy vấn đề như: xin cha giảng ngắn lại chút xíu, xin cha đọc lớn tiếng trong thánh lễ để chúng con nghe được, hoặc xin cha cố gắng tiếp xúc hòa đồng với tụi thanh niên.v.v… tất cả những lời đề nghị như thế có lúc đụng chạm đến cha sở đấy, nhưng nếu sau này em làm cha sở thì nên biết bình tĩnh lắng nghe và nở nụ cười, rồi em sẽ thấy lời góp ý ấy quả không sai và dể dàng chấp nhận…

Anh cũng đã từng chia sẻ với các anh em linh mục rằng: lắng nghe giáo dân không phải là một việc làm nhục nhã của cha sở, cũng không phải là cha sở hạ thấp mình xuống, nhưng trái lại, khi biết lắng nghe giáo dân thì mình biết được cách quản trị giáo xứ của mình chổ nào chưa được và chổ nào đã ổn định cần phát triển tiếp tục (1), bởi vì lời và thánh ý của Thiên Chúa không đóng khung trong nhà thờ, không đóng khung nơi các mục tử của Giáo Hội, mà còn là nơi những người giáo dân của chúng ta, bởi vì khi cần thiết thì Thiên Chúa cũng có thể mở miệng con lừa để cho người ta biết thánh ý của Ngài ( Ds 22, 28-30), thì huống gì là giáo dân, những con người được Thiên Chúa giao phó cho các linh mục của Chúa Giê-su và của Giáo Hội chăm sóc.

Em thử tập lắng nghe tiếng của Thiên Chúa trước qua đức tin của em, rồi sau đó em tập lắng nghe tiếng của bạn bè khi họ góp ý cho em điều này điều nọ, tập lắng nghe cho biết ý của Thiên Chúa, để sau này khi vào học trong chủng viện hay một hội dòng nào đó, thì em biết lắng nghe các vị bề trên và các cha giáo của em, và khi trở thành linh mục thì em sẽ là một linh mục biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của giáo dân mà em có bổn phận coi soc.

(còn tiếp)

---------------------------------------------

(1) Mời đọc: “Chia sẻ công tác mục vụ giáo xứ trong thời đại ngày nay”. http://www.vietcatholic.net/nhantai

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com