2. Tiết chế

Em thử nhìn lại mình xem sao, em thích gì thì em làm nấy vì em không phải là linh mục, cũng không phải là một tu sĩ, đôi lúc cái em thích là điều không tốt cho bản thân, như em thích uống rượu là uống, thích chơi bời thì chơi, thích hút thuốc là hút.v.v... em khỏi phải cần tiết chế gì cả, nhất là trong xã hội hưởng thụ như hiện nay.

Nhưng nếu em muốn đi tu trở thành một linh mục –đương nhiên là một linh mục thánh thiện- thì em cần phải tập cho mình tính tiết chế ngay từ bây giờ, bằng không khi em đã làm linh mục rồi, thì em sẽ khó mà tiết chế mình được, vì lúc đó em có một ý tưởng rất kỳ quái là: đỗ linh mục rồi, sợ quái gì nữa. Vâng, làm linh mục rồi thì không sợ gì nữa, không sợ bị đánh rớt bài thi, không sợ người khác dọa nạt, không sợ đói, không sợ thiếu tiền tiêu.v.v...nhưng điều mà người linh mục phải sợ chính là sợ đánh mất phẩm giá linh mục nơi mình, do đó mà anh muốn nói với em rằng, tiết chế là điều làm cho người linh mục thảnh thơi hơn, quảng đại hơn trong khi thi hành bổn phận mục tử của mình.

a. Tiết chế lời nói

Sách Cách Ngôn dạy rằng:

“Kẻ ngu si không kìm được giận dữ,

Người khôn khéo biết nén nhục nuốt sầu” (Cn 12, 16)
.

Em biết không, anh vẫn luôn xác tín rằng, khi một thanh niên chịu chức linh mục, hoặc một linh mục chịu chức giám mục thì Chúa Thánh Thần luôn làm cho các vị đó được trở thành người khôn ngoan, ngoại trừ những vị đó cảm thấy mình không cần đến sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần nữa, sự khôn ngoan ấy được bộc lộ rõ nhất là trong lời nói của các ngài, tức là các ngài biết tiết chế lời nói, biết lúc nào nên nói và lúc nào không nên nói.

Có nhiều người mắc nạn cũng vì không tiết chế được lời nói của mình, có những người phải ôm hận vì bản thân không tiết chế được lời nói, và có những người được người khác vị nể cũng do lời nói của mình.

Làm linh mục thì càng phải tiết chế lời nói nhiều hơn, nói khi cần nói và nín thinh khi không cần thiết phải nói. Anh đã thấy một vài linh mục trẻ nói cho sướng miệng, nói cách giận dữ mà không tiết chế lời nói của mình, kết quả là họ đã xúc phạm đến nhân phẩm của người khác và hạ uy tín của mình trước người khác.

Tiết chế lời nói khi tranh luận,

Tiết chế lời nói khi hội họp,

Tiết chế lời nói khi muốn phê bình người khác,

Tiết chế lời nói khi phát biểu...

Càng nói nhiều thì càng bày ra những khuyết điểm, càng nói nhiều thì càng trở thành người có tâm hồn trống rỗng, và có khi trở thành mục đích gièm pha của giáo dân hoặc cho những người có thành kiến không tốt với các linh mục.

Em muốn làm linh mục, thì ngay từ bây giờ phải tập cách tiết chế lời nói, mà cách tập hay nhất là cầu nguyện trước khi nói. Bởi vì như em biết đó, có những lần em “chát” và tâm sự với anh rằng, cha này khi giảng dạy không có ơn Chúa Thánh Thần vì ngài nói theo thói quen và chê bai phê bình giáo dân, cha nọ khi nói chuyện thì không chú ý đến lời nói vì ngài nói mà không biết người đối diện muốn nghe hay không ? Anh cám ơn Chúa vì em đã biết nhận ra đâu là lời giảng dạy của Chúa Thánh Thần nơi người linh mục, đó là lời giảng có tiết chế và chứa đựng giáo huấn yêu thương của Phúc Âm, và khi đã nhận ra được thế nào là tiết chế lời nói thì anh tin chắc rằng, em sẽ tập được cách tiết chế lời nói của mình cho thiên chức linh mục sau này của em.

b. Tiết chế nóng giận

Em biết không,

Không phải ai cũng có thể tiết chế sự giận dữ tính nóng của mình, chính anh đây cũng có lúc la toáng lên khi giáo dân làm trái ý mình, nhất là trong những thánh lễ trọng có nhiều nghi thức, nhưng sau đó thấy mình nóng nảy cách vô lý nên anh hứa sẽ tiết chế sự nóng nảy vô lý của mình. Bởi vì giận dữ và nóng nảy thì không giải quyết được gì cả, đó là điều mà tất cả mọi người đều biết, nhưng vì tính tình nó dính liền với cái tôi, nên dù biết mà cũng rất khó mà không chế được, do đó mà các nhà tu đức khuyên bảo chúng ta phải cầu nguyện và học hỏi gương của Chúa Giê-su và Mẹ Maria cũng như của các thánh nam nữ.

Nóng tính giận dữ là bởi coi mình quá cao trọng hơn người khác, thường có ý tưởng mình giỏi hơn người khác và muốn mọi ý kiến, mọi lời nói của mình cần được người khác nghe và thi hành, cho nên những linh mục có tính giận dữ thì giáo dân chỉ đứng xa xa mà nhìn, và không muốn cộng tác với ngài trong mọi việc ở nhà xứ.

Làm linh mục là để bày tỏ sự hiền lành và khiêm tốn của Chúa Giê-su giữa mọi người, chứ không phải bày tỏ một quyền uy của một chủ nhân ông giữa một cộng đoàn dân Thiên Chúa ngay trong giáo xứ của mình, do đó, nếu em muốn trở thành một linh mục của Chúa Giê-su với tất cả lòng yêu mến Ngài và Hội Thánh của Ngài, thì em cần tiết chế tính nóng giận của mình ngay trong cuộc sống ngay từ bây giờ, bởi vì chính mắt anh đã thấy sự giận dữ nóng nảy của một vài linh mục khi không bằng lòng một điều gì đó, các vị ấy cũng trợn mắt xỉa xói và nói những lời cộc cằn như những thanh niên ngoài đời khác, họ quên mất mình là một linh mục của Chúa Giê-su, họ to tiếng dùng những lời lẽ sâu hiểm để chơi nhau, chính những lúc này anh nghiệm ra được rằng nếu không có cầu nguyện và thực tập nhân đức, thì dù là linh mục họ vẫn như những người khác mà thôi.

Em thử nghiệm lại cuộc sống của em xem sao, có những lúc em kiềm chế được tính nóng nảy thì em thấy đời sao mà đẹp và vui vẻ thế, và những lúc em không kiềm chế được tính nóng mà nói to tiếng nặng lời với người khác, thì dù em có nhận lỗi hoặc em có chủ động bắt tay làm hòa chăng nữa, thì tự sâu thẳm của lương tâm em vẫn còn một chút gì đó rất áy náy ân hận. Đó là kinh nghiệm của anh, và anh muốn nói với em là phải tập tiết chế tính khí nóng giận của mình, nếu em muốn mình trở thành một linh mục tương lai của Chúa Giê-su và của Giáo Hội.

Con người thời nay rất nhạy bén với hành vi ngôn ngữ của các linh mục, họ nhạy bén là vì càng ngày họ càng hiểu rõ giáo lý của Giáo Hội hơn, họ nhạy bén là vì họ không còn giữ đạo theo kiểu pháo đài nữa, nhưng là họ sống đạo giữa đời theo kiểu men trong bột, và họ chỉ mong muốn các linh mục của Giáo Hội sống thật hiền lành và khiêm tốn như Chúa Giê-su, thế là họ an tâm phó thác linh hồn cho các vị mục tử ấy.

c. Tiết chế ăn uống

Em có biết không,

Các nhà tu đức học đều rất chú trọng đến việc tiết chế ăn uống, nghĩa là họ đã nghiên cứu sâu xa về việc ăn uống thoải mái và có nhiều chất dinh dưỡng rất có hại đến đời sống tu đức của các linh mục tu sĩ, bởi vì khi ăn uống no say thì có một trạng thái phát sinh theo là cảm thấy mệt và làm biếng, sau đó thì muốn nghỉ ngơi, em thử nghĩ xem, nếu một ngày chúng ta ăn ba bữa sáng trưa chiều tối với đầy đủ các thứ dinh dưỡng như bia rượu, thì thân xác của chúng ta ngày càng béo phì ra và trở nên mệt nhọc nặng nề không ưa thích hoạt động gì cả…

Tiết chế ăn uống chính là điều chỉnh lại bộ máy sinh học của chính mình, nhất là các linh mục đang làm việc mục vụ ở giáo xứ, các ngài được tự do ăn uống mà không một ai cấm cản hoặc gò bó, cho nên không lạ gì có nhiều linh mục xem ra đẹp mã tốt tướng nhưng thân mang đầy bệnh hoạn.

Tiết chế ăn uống giúp cho chúng ta được rất nhiều việc, mà ý nghĩa lớn lao nhất trong việc tiết chế ăn uống chính là biết cảm nghiệm sự thiếu thốn với những người nghèo khó.

Việc ăn uống cũng nói lên tính cách của người linh mục, có linh mục thích ăn ngon mặc đẹp, có linh mục thích ăn những thức ăn do tự tay mình nấu để hợp với khẩu vị mà mình ưa thích, lại có những linh mục thì rất chú trọng đến việc ăn uống và coi việc ăn uống đầy đủ như là một công việc chính trong ngày của mình. Anh thấy có nhiều linh mục trẻ, có lẽ sống trong môi trường -trước khi đi tu- thiếu thốn và ăn uống bị hạn chế, nên khi làm linh mục thì tha hồ ăn uống mà không tiết chế, lại còn chê bai này nọ khi thức ăn không ngon và ăn uống rất lãng phí.

Tiết chế không có nghĩa là không ăn uống gì cả, hoặc mỗi ngày chỉ ăn cháo mà sống, nhưng tiết chế chính là tự mình kiềm chế những sở thích ăn cho thật ngon mặc cho thật đẹp không phù hợp với nhân cách của một linh mục.

Tiết chế ăn uống không những làm cho thân xác được khỏe mạnh, mà còn làm cho tâm hồn được nhẹ nhàng vì không phải chú trọng quá đến việc ăn ngon mặc đẹp. Em phải nhận ra được điều này trước khi chuẩn bị tập làm linh mục, bởi vì làm một linh mục truyền giáo thì không làm việc theo giờ hành chánh nhưng làm việc theo nhu cầu của giáo dân, có nghĩa là giáo dân cần xức dầu bệnh nhân hoặc muốn xưng tội lúc nào thì đi lúc ấy, nếu em hưởng thụ ăn uống no say thì khó mà nhanh nhẹn vui vẻ khi giáo dân đến gặp cha sở buổi trưa hoặc những giờ khác, em hãy cố gắng tập tự mình tiết chế trong cách ăn uống nếu em muốn trở thành một linh mục truyền giáo vui vẻ, khỏe mạnh và không vướng bận bởi việc ăn ngon mặc đẹp trong cuộc sống, đó là kinh nghiệm của anh.

c. Tiết chế sự vui vẻ

Vui vẻ là điều ai cũng muốn, nhất là sự vui vẻ nơi các linh mục của Chúa Giê-su, vui vẻ thì luôn đem lại bầu khi vui tươi cho những người chung quanh, nó là cây cầu nối kết giữa những người chưa quen biết với nhau, như những đóa hoa đem tặng cho nhau giữa ngày đại hội.

Em có biết không,

Anh đã nhìn thấy nhiều linh mục rất vui vẻ, lời nói rất thân tình dí dỏm, các ngài đi đến đâu thì nơi đó có nụ cười vui, chính các ngài đã nói cho anh biết bí quyết ấy đó là sự luyện tập, các ngài tập vui vẻ khi có điều buồn bực, các ngài tập vui vẻ khi bị người khác công kích hoặc hiểu lầm, sự vui vẻ ấy chính là một công cụ truyền giáo đó em ạ.

Vậy thì có cần phải tiết chế vui vẻ không ? Anh trả lời với em ngay là có, vì vui vẻ quá sẽ rất dễ dàng sinh ra sự bừa bãi tùy tiện, một thanh niên trong lúc cao hứng thì dễ dàng nói hoặc làm những điều quá đà cho phép, và như thế sẽ trờ thành gương xấu và khó coi hoặc khó nghe cho người khác. Cũng vậy, em thử tưởng tượng một linh mục khi sự vui vẻ phấn chấn lên quá độ rồi ăn nói bừa bãi tùy tiện giữa đám đông thì sao, chắc chắn là ngài sẽ bị những lời phê bình nho nhỏ là mất tư cách linh mục, hoặc người khác sẽ nhìn ngài với ánh mắt coi thường.

Ma quỷ thường lợi dụng sự vui vẻ quá độ để lôi kéo người ta phạm tội, linh mục cũng không ngoài “tầm ngắm” của nó, bởi vì ma quỷ rất hiểu tâm lý và nhu cầu của con người, vì khi người ta buồn bực thì ít phạm tội hơn khi người ta vui vẻ, cho nên biết tiết chế vui vẻ chính là một việc làm có tính cách hổ trợ cho tinh thần tu đức mà có lẽ ít người biết, hoặc biết mà không để ý cho mấy...

Nếu em là một thanh niên có tính tình vui vẻ, thì đó là một hồng mà Thiên Chúa ban cho em, và nếu em tin rằng đó là một khí cụ mà Thiên Chúa ban cho em để chuẩn bị cho em làm linh mục sau này, thì em phải biết phát huy sự vui vẻ ấy bằng sự trong sáng và tế nhị, và tự chế khi nó trở nên quá phấn chấn, để khi bước vào đời linh mục thì em sẽ trở nên một linh mục của mọi người thật đúng với ý nghĩa của nó.

(còn tiếp)

http://www.vietcatholic.net/nhantai

jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com