MỒ TRỐNG
(Gio-an 20:1-18)
“Ma-ri-a! Anh bảo em đừng có đi ra mồ Thầy lúc này. Lính tráng canh gác đầy ngoài đấy, nguy hiểm lắm. Em ra ngoài đó làm gì kia chứ?” Phê-rô nói với giọng bực bội khi nghe Ma-ri-a Mác-đa-la cứ nằng nặc đòi ra thăm mồ Thầy Giê-su.
Ma-ri-a sụt sùi, “Em nhớ Thầy lắm. Em ra thăm mồ Thầy chút thôi rồi em sẽ dzề liền. Phận em đàn bà, con gái thì lính tráng tụi nó làm gì được em chứ. Dzả lại, tụi lính La mã cũng biết truyền thống Do thái của tụi mình thường ra mộ khóc thương cho người thân quá cố ba ngày kia mà.”
Không nghe Phê-rô ừ hử gì, Ma-ri-a xuống nước năn nỉ với Gio-an, “Anh Gio-an! Anh nói với anh Phê-rô một tiếng cho em đi.”
Gio-an biết Ma-ri-a thương Thầy Giê-su lắm. Kể từ ngày Thầy Giê-su dùng quyền phép mà xua đuổi bảy quỉ ra khỏi Ma-ri-a, nàng đã dành trọn cuộc đời còn lại đi theo Thầy Giê-su để giúp đỡ Người và các môn đệ. “Thôi, anh Phê-rô! Anh cứ để chị ấy đi đi. Chị ấy ra mồ Thầy để khóc thương Thầy thôi mà,” giọng Gio-an như khẩn khoản.
Ma-ri-a ra đi chưa được bao lâu, nhưng đối với Phê-rô và Gio-an thì chao ôi sao mà lâu thế. Hai người đang bồn chồn, lo lắng chờ Ma-ri-a về để hỏi thăm tin tức. Phê-rô nhìn Gio-an như trách móc: đã bảo là đừng có để cho con Ma-ri-a nó đi mà. Ở ngoài đó nguy hiểm lắm. Cả hai người hết đứng lên rồi ngồi xuống, lo lắng, mong cho Ma-ri-a không mệnh hệ gì.
Dĩ nhiên cả Phê-rô và Gio-an đều có lý do để lo lắng. Chuyện xảy ra mới được ba ngày, nhưng mọi thứ diễn tiến quá nhanh ngoài sức dự liệu của hai ông. Chỉ mới cách đây ba hôm, hai ông còn đang ngồi ăn lễ Vượt qua truyền thống với Thầy mình và toàn bộ anh em. Mọi thứ trông có vẻ tốt đẹp trong đêm hôm đó. Chỉ hơi lạ là khuôn mặt Thầy Giê-su trông có vẻ hơi buồn. Thầy nói một tràng những điều khó hiểu là Thầy sẽ đi một nơi xa để dọn chỗ cho mọi người. Ði đâu kia chứ? Ði xây nhà cho chúng tôi à? Phê-rô hơi sốt ruột nhìn Thầy.
Thầy đi xây nhà nơi nao
Ðể tôi gánh đục, gánh bào theo sau.
Thầy đi cho tớ theo cùng
Ðói no tôi chịu, lạnh lùng tôi cam.
Phê-rô buông lời xác quyết với Thầy mình, nhưng sao hình như Thầy mình không được hài lòng cho lắm. Sao Ngài làm như không hiểu ý mình muốn nói gì nhỉ? Có lẽ vì Phê-rô cảm thấy như vậy, nên ông càng muốn chứng tỏ cho lời nói của mình.
Nhớ đêm thứ năm tối trời trong vườn Ghết-sê-ma-ni, khi bọn lính đến bủa vây bắt Thầy mình, chỉ một mình Phê-rô can đảm vung gươm ngăn chặn. Nhưng một lần nữa, Thầy Giê-su trách ông sao chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, “Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống?” (Ga 18:11).
Rồi thì mọi người chạy tán loạn. Chỉ còn Phê-rô và Gio-an là còn can đảm lén đi theo sau đám lính đến bắt Thầy. Nhưng cả hai tụt lại ở một khoảng cách khá xa cho an toàn, ngộ nhỡ tụi lính phát giác thì nguy to. Khi ở trong sân nhà vị Thượng tế, Phê-rô phải nói dối với mấy người tò mò tọc mạch về ông, rằng ông chẳng có liên hệ gì với người bị bắt cả. Nói dối để bảo vệ mình thôi mà, Phê-rô nghĩ thế. Nếu ông chẳng làm như vậy, chắc ông cũng bị bắt rồi. Phê-rô tưởng sự việc chỉ đến mức ấy. Ông lén ra ngoài để trốn về với những anh em mình, nghĩ rằng trước sau gì tụi nó cũng thả Thầy mình ra vì họ bắt lầm người vô tội mà.
Ngày hôm sau, Phê-rô gặp lại Gio-an đang hớt hải đi tìm mình. Gio-an, giọng như líu lại, báo cho Phê-rô một tin động trời: Thầy Giê-su đã bị xử đóng đinh. Ðóng đinh? Sao lại thế? Phê-rô rụng rời chân tay, mặt ông biến sắc. Ông ngồi bệt xuống đất, nhưng lập tức ông đứng bật dậy ngay và nắm lấy tay Gio-an, “Tụi mình phải trốn lẹ lúc này. Tụi nó nghĩ là tụi mình theo Thầy Giê-su để tạo phản. Chết đến nơi rồi. Tạm ẩn trong nhà một thời gian rồi tụi mình tìm cách về quê Ga-li-lê sau.” Ðó là tại sao bọn họ bồn chồn, lo sợ chẳng dám rời khỏi nhà, và tại sao họ lo lắng cho Ma-ri-a Mác-đa-la lúc này.
Bất thình lình, Ma-ri-a tung cửa chạy vào nhà.
“Cái mồ. ..,” chị vừa nói, vừa thở hổn hển.
“Cái mồ. ..” Phê-rô thất kinh hỏi dồn, “nó bị làm sao?”
“Cái mồ. .. nó. .. nó. ..”
“Nó sao? Nói lẹ lên!”
“Nó. .. TRỐNG!”
Cả Phê-rô và Gio-an nhìn Ma-ri-a ngờ vực, “đúng là bụng đàn bà, dạ trẻ con.” Nhưng khi hai ông nhìn vẻ mặt nghiêm nghị của Ma-ri-a, tự nhiên hai ông chẳng nói chẳng rằng chạy nhào ra đằng cửa. Hai ông bị kẹt ở cửa.
“Anh chạy trước đi.”
“Không, Gio-an chạy trước đi.”
Gio-an thoát ra cửa, Phê-rô cũng chạy đuổi theo. Làm nghề chài lưới bấy lâu nay, dạn dày với sương gió, Phê-rô có một thân hình rắn chắc. Nếu phải chạy thi, thì chắc ông chẳng thua ai. Nhưng sao hôm nay ông cảm thấy chân ông nặng như chì. Thế nghĩa là gì? Tụi lính La mã định giở trò quái gì đây? Có nên tin lời con Ma-ri-a không? Không biết có nguy hiểm ở đó không? Mình có nên chạy đến đó không? Phê-rô nghĩ ngợi lung tung trên quãng đường chạy đến mồ.
Gio-an thì lại khác, ông chạy một mạch với một cảm xúc niềm tin dâng lên. Gio-an chạy đến mồ trước. Ông cúi xuống và nhìn vào trong mồ. Ông nhìn thấy những băng vải liệm vẫn còn đó, nhưng ông không vào. Cuối cùng Phê-rô cũng chạy đến nơi.
“Anh Phê-rô! Tôi chờ anh đó!”
“Sao Gio-an không vào?”
“Tôi chờ anh đó mà!”
Phê-rô hiểu ý Gio-an. Gio-an chạy đến trước, nhưng không vào vì ông không muốn lấn quyền “anh cả” dành cho Phê-rô là trưởng nhóm đồ đệ. Phê-rô lách mình đi vào trong mồ, nhưng ông không cố ý nán lại lâu. Ông nhìn một lượt và chỉ thấy những băng vải liệm và khăn che đầu để ở đó, nhưng thi thể Thầy Giê-su thì không thấy. Gio-an cũng theo sau Phê-rô mà vào trong mồ. Ông “đã thấy và đã tin.”
Còn Phê-rô thì sao? Ông lật đật níu lấy Gio-an và nói: “Tụi mình dzề lẹ thôi. Ở đây nguy hiểm lắm.” Cả hai đi nhanh ra ngoài, chẳng nhìn trái hay phải gì cả, cứ một mạch mà đi, hy vọng chẳng ai nhìn thấy họ.
“Gio-an nghĩ có ai nhìn thấy tụi mình không?” Phê-rô lo lắng hỏi.
“Không đâu, tụi mình ở đó đâu có lâu” Gio-an trấn an.
“Gio-an có nghĩ là tụi lính La mã bày trò để tóm tụi mình không?” Phê-rô vừa hỏi vừa liếc nhìn Gio-an.
Gio-an như nghĩ ngợi, nhưng ông không nói gì cả.
“Tôi nghĩ chắc có lẽ đây là một âm mưu,” Phê-rô vừa đi nhanh vừa nói, “Tụi nó muốn đặt bẫy tụi mình đây. Tụi mình phải cẩn thận ẩn mình một thời gian để coi tình hình như thế nào.”
***
Sau khi hai môn đệ đi khuất, thì đến lượt Ma-ri-a Mác-đa-la đến mồ. Chị cũng nhìn vào trong mồ như hai môn đệ kia. Chỗ mà hai môn đệ nhìn thấy khăn vải liệm thì Ma-ri-a lại nhìn thấy hai thiên thần, một ngồi ở đằng đầu và một ngồi ở đằng chân nơi đã đặt thi hài Thầy Giê-su. Nhưng Ma-ri-a trông chẳng hiểu gì cả. Tại sao chị không hỏi họ từ đâu đến và họ làm gì trong mộ người chết. Tại sao chị không nhận thức được sự xuất hiện của hai người lạ, mặc áo choàng sáng ngời, có liên quan đến việc mất thi hài Thầy Giê-su. Chị chẳng để ý bất cứ điều cả. Nước mắt chị vẫn chan hòa vì không tìm được xác Thầy mình. Các thiên thần “không ngạc nhiên” về việc chị khóc, nhưng “hỏi” tại sao chị khóc? Tại sao chị buồn phiền trong ngày quá sức vui mừng này? Chỉ tay toàn bộ ngôi mộ, thiên thần nói: “Người không có ở đây. Người đã sống lại rồi! Vui mừng lên! Ðừng khóc nữa!” Nhưng Ma-ri-a vẫn không để ý đến lời họ. Chị quay lại phía sau để tìm xác Thầy mình. Bất thình lình, chị chạm mặt Thầy Giê-su đang đứng sừng sững trước mặt chị, nhưng chị không nhận biết Người, vì chị tưởng là người làm vườn.
***
Ba nhân vật Phê-rô, Gio-an, và Ma-ri-a Mác-đa-la, mỗi người có một nhận thức khác nhau khi chứng kiến những dấu hiệu sống lại của Chúa Giê-su. Phê-rô đi vào mồ và chỉ nhìn thấy khăn liệm và vải che đầu như những dấu ấn tang chứng còn lại của sự chết. Ông cần phải nhìn thấy tận mắt Chúa Giê-su hiện ra sau này thì đức tin ông mới vững vàng.
Gio-an cũng vào mồ và nhìn thấy “y chang” những gì Phê-rô thấy. Nhưng khác với Phê-rô, ông không nhìn thấy ở chúng những dấu hiệu sự chết, nhưng là sự sống, và ông đã tin kể từ giây phút ấy. Chỉ có một mình Gio-an là người tin vào sự sống lại của Thầy mình ngay thời điểm đó. Ông trở thành một gương mẫu đức tin tuyệt vời cho nhóm tông đồ về sau, và cả chúng ta nữa, vì niềm tin của ông chỉ cần dựa vào ngôi mộ trống.
Ma-ri-a cũng đi vào mồ, và là người khám phá ra ngôi mộ trống đầu tiên. Chị không thấy bất cứ dấu hiệu gì của sự chết. Trái lại, thay vào chỗ đặt khăn vải liêầm là hai thiên thần, là sự sống siêu phàm đến từ trời cao. Chị tận mắt thấy họ và nghe họ khẳng định Tin mừng Phục sinh. Sau đó, chị chạm mặt với Chúa Giê-su, người mà chị đang tìm kiếm, nhưng chị vẫn không nhận ra Ngài. Ðối với chị, tử thi Chúa Giê-su mới là quan trọng. Nhưng nếu tôi giả sử Ma-ri-a tìm được xác Chúa Giê-su, thì chị làm gì nhỉ? Chị lại đặt cái tử thi ấy vào lại trong mồ. Vậy là chị lại hoàn trả sự chết cho sự chết. Theo Thầy mấy năm trường, nghe Thầy nói ám chỉ về sự phục sinh của mình nhiều lần, thế mà chị chỉ cố tìm người chết nơi sự chết. Chỉ tới khi chị nghe Chúa Giê-su gọi tên mình “Ma-ri-a” - như người chủ chiên tốt lành gọi tên con chiên trong đàn - thì chị mới thoát ra cái sầu thảm của tử nạn để bừng lên trong hân hoan của mầu nhiệm Phục sinh.
***
Bạn đọc thân mến! Ngẫm chuyện các môn đệ Chúa Giê-su năm xưa để nhìn về đức tin chúng ta hôm nay. Trong một năm qua, bao nhiêu lần chúng ta đã không tin vào sự hiện diện của Chúa Giê-su trong đời sống chúng ta qua những dấu hiệu hàng ngày? Bao nhiêu lần ta lầm tưởng vì dư luận “pro-choice,” chỉ nhìn thấy dấu chỉ sự chết nơi phong trào đòi phá thai, của những người bệnh kinh niên, của những người già run rẩy, của những kẻ ốm liệt lào, của những án tử hình, của “văn hóa sự chết”? Bao nhiêu lần ta bắt chước được cái nhìn "pro-life" của Gio-an, chỉ nhìn thấy sự sống vươn lên qua những dấu ấn sự chết? Bao nhiêu lần thiên thần thì thầm sự thật bên tai ta và ta đã bưng tai, bịt mắt làm ngơ? Bao nhiêu lần chúng ta không nhận ra Chúa Giê-su trong hình ảnh người làm vườn hay bất cứ những hình ảnh người nào xung quanh ta? Và ngay cả bao nhiêu lần chúng ta không nhận ra tiếng Chúa Giê-su đang gọi đích danh tên ta?
Có lẽ những khiếm khuyết của chúng ta không thể nhận ra những dấu hiệu hiện diện của Chúa Giê-su trong một năm qua càng làm cho chúng ta trân trọng hơn ý nghĩa ngày lễ Phục sinh năm nay.
Bạn đọc thân mến! Chúa Giê-su đã sống lại và hiện diện giữa chúng ta. Người KHÔNG có trong mồ nữa. Người đã hiện ra cho Ma-ri-a Mác-đa-la và các môn đệ sau đó. Và đến hôm nay Ngài vẫn hiện diện một cách thiêng liêng nơi Bí tích Thánh thể. Ngài đang gọi đích danh tên bạn, tên tôi, tên từng mỗi người. Bạn muốn nhìn thấy cái gì? Khăn liệm của sự chết ư? Áo trắng sáng ngời của thiên thần ư? Hay chính con người “phục sinh” của Chúa Giê-su ư? Bạn nhìn thấy cái gì thì tùy ở niềm tin của bạn.
Bạn thấy gì nơi ngôi mộ trống
Bạn tin gì trong cuộc sống hôm nay.
Tin mừng chân lý là đây
Xác không mồ trống chính NGÀI ÐÃ PHỤC SINH.