LỜI NGƯỜI RA ĐI:
TINH THẦN HY SINH


1.- THẬP GIÁ ĐỜI TU SĨ


"Con phải hy sinh nhiều khi sống giữa những người khác chính kiến con, khác địa vị con, khác lý tưởng con. Hãy xem gương Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Ngài sống giữa loài người tội lỗi, 33 năm hy sinh liên lỉ.”

Thánh Louis Gonzaga là một tu sĩ dòng Tên, sống đời khiết tịnh, siêu vượt như thiên thần. Tuy nhiên, ngài vẫn cảm thấy thấm thía những thánh giá do đời sống cộng đồng đem lại: đó là những xích mích va chạm không sao tránh khỏi. Ngài đã chấp nhận vác lấy cách khiêm tốn, vui tươi, coi đó là một dịp đền tội. Ngài nói: “Việc đền tội lớn nhất của tôi là đời sống cộng đoàn”.

2.- NHỮNG HY SINH CỦA VỊ THÁNH NHỎ

“Không hy sinh nơi những việc nhỏ, con sẽ đầu hàng trước những hy sinh lớn lao”.


Trong truyện “Một Tâm Hồn”, thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu thuật lại như sau: “Một lần tại nhà giặt, con ngồi giặt ở đằng trước một chị giặt khăn tay, chốc chốc lại làm bắn nước bẩn vào con. Thoạt đầu, con muốn lùi ngay ra lau mặt cho chị ấy biết…Nhưng nghĩ lại con thấy như thế là dại, vì bỏ mất những hạt ngọc người ta tặng mình …Qua nửa giờ, con đã cảm thấy sự vui thú được vấy nước bẩn…” Nơi khác, người còn viết: “Với lòng kính mến Chúa, thì dù cúi xuống đất nhặt một cây kim nhỏ, ta cũng cứu được một linh hồn”. Môt lần nọ, vì vâng lời chị coi nhà liệt nên thánh nữ Têrêxa đi bách bộ ngoài vườn với những bước đi quá khó khăn, thay vì nằm nghỉ mệt, như một chị khác khuyên bảo. Sở dĩ người hy sinh như thế vì muốn làm ích cho một vị truyền giáo ở cõi xa xăm kia, dường như đã kiệt sức vì mải miết theo đuổi công cuộc mở mang nước Chúa.

3.- MỘT CHỨNG TÍCH TÌNH YÊU

“Hy sinh con, đừng hy sinh kẻ khác”.


Cha Maximilien Kolbe là một tu sĩ dòng Phanxicô Balan đã tình nguyện sang Nhật và cũng đã có dịp ghé qua Saigon. Vì bệnh phổi, ngài phải trở về Balan điều trị và dùng sách báo truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ nên được gán cho biệt hiệu: “Người con điên của Đức Mẹ”. Lúc Phát-xít Đức chiếm đóng Balan, vì ảnh hưởng ngài trên quần chúng quá mạnh nên chúng đã tống giam ngài vào ngục.Ngày nọ, trại giam của ngài có một tù nhân vượt ngục nên mười người tù khác phải đền mạng, theo luật lệ của Phát-xít Đức. Khi gọi đến tên người thứ mười, bổng có tiếng kêu thất thanh: “Khốn cho tôi, tôi còn vợ và một đàn con nhỏ”. Giữa bầu khí thinh lặng rùng rợn đó, một tù nhân bước ra khỏi hàng và tình nguyện chết thay cho người bạn tù đó vì anh còn vợ dại con thơ. Mọi tù nhân có mặt trên sân đều ngơ ngẩn, ngạc nhiên, thán phục…Mười tù nhân lặng lẽ đi vào phong giam đói của nhà ngục và cha Kolbe luôn miệng khuyến khích mọi người cầu nguyện nên họ hát và đọc kinh, thay vì khóc lóc, chửi rửa cho đến chết như thường lệ. Tiếng hát và đọc kinh càng lâu càng yếu dần rồi hoàn toàn im lặng. Ngày thứ mười hai, cửa phòng giam đói được mở ra: mọi người đều chết, trừ một mình cha Kolbe, với đôi mắt vẫn sáng dù thân hình tàn rũ. Viên cai ngục chích cho ngài một mũi thuốc độc ân huệ, ngài chết ngay và họ đưa xe xúc mười xác chết bỏ vào lò đốt.Năm 1971, Giáo hội đã tôn ngài lên bậc Chân phúc. Trong Thánh lễ do Đức Phaolo VI chủ tế, đoàn dâng lễ gồm có người Balan và vài thiếu nữ mặc quốc phục Nhật-Bản. Cảm động hơn cả là lúc Đức Phaolo VI ôm hôn ông già bưng chén thánh: đó chính là tù nhân đã được cha Kolbe thế mạng, trong lúc toàn thể cộng đoàn hát vang khúc tình ca: “Không có tình yêu nào cao quý bằng chết thay cho bạn hữu”. Cha Maximilien Kolbe đã được Đức Gioan Phaolo II phong hiển thánh năm 1982.

4.- CHA DAMIEN, TÔNG ĐỒ NGƯỜI HỦI

“Có những người hy sinh mà muốn mọi người biết mình hy sinh; có những người không hy sinh mà muốn mọi người biết mình hy sinh; có những người hy sinh luôn mà không muốn ai biết mình hy sinh”.


Trên một hòn đảo xa xăm trơ trọi giữa lòng Thái-Bình dương chỉ có toàn người hủi: cụt tay, đứt chân, mắt đui, mày lở, răng rụng…Một hôm đáp lời kêu gọi của Đức Giám mục đăc trách quần đảo, một linh mục trẻ, đẹp trai, thông minh, khỏe mạnh hăng hái đáp lời: đó là cha Damien , về sau được tặng biệt danh: “Tông đồ người hủi”. Chiều hôm đó, trong ngôi nhà thờ đông nghẹt những người hủi da ngăm đen với mùi hôi tanh nồng nặc, Đức Giám mục giới thiệu: “Các con hằng mong ước có linh mục đến ở với các con, yêu thương săn sóc các con, thì đây, cha Damien, một linh mục người Bỉ, sẽ sống chung với các con từ nay cho đến chết. Các con có sung sướng không?” Cả nhà thờ xôn xao, thì thầm to nhỏ. Rồi đám người đó từ từ tiến lên cung thánh, cha Damien càng nhìn thấy họ đến gần càng sởn tóc gáy. Họ giống những thây ma còn sống, những quái thai mất hẳn dạng người. Họ tiến đến bên cha, sờ vào mặt, vào tay, vào áo cha vì họ không thể tưởng tượng được một người ở phương xa, chẳng bà con họ hàng huyết thống, non trẻ đẹp trai, lành mạnh, tự nhiên lại đến phục vụ họ trên mảnh đất cùng khốn nầy.Dần dần cha Damien hòa đồng được với họ, nói tiếng họ và không còn cảm thấy ghê tởm họ như lúc đầu, vì ngài đã quá yêu Chúa Giêsu bị bỏ rơi nơi họ, nên không còn thấy e sợ gớm ghiếc nữa!Nhưng rồi một ngày kia, đến lượt cha cũng mắc bệnh hủi, thân hình lở loét, nhức nhối, mặt mày sù sì, đen đủi, u nần trông rất dễ sợ. Một số báo ở Bỉ đăng hình cha. Thân mẫu của cha, mắt mờ, nhìn vào hình cũng chẳng nhận ra con yêu quí của mình, nên hỏi: “Hình ai đây mà trông ghê rợn vậy?” Con cháu trả lời qua giòng nước mắt: “Một người hủi bên đảo Molokai của anh Damien đấy!” Cha Damien đã sống với người hủi cho đến chết.

5.- VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN DÍNH ĐẦY MÁU ĐỎ “Không hy sinh, không có nhân đức thánh thiện. Ai chưa

“bỏ mình vác thánh giᒠthì chưa “theo Thầy’ được. Đó là điều kiện tiên quyết”.


Vào năm 1896, một linh mục thừa sai đi vào mảnh đất lương dân nghịch đạo ở Cayenne, vùng Sain-Ouen. Khi vừa thấy chiếc áo dòng thâm, một người dân đã lấy đá ném thẳng vào đầu linh mục. Ngài bình tĩnh cúi xuống nhặt viên đá dính đầy máu đỏ và nói: “Xin cám ơn ông, đây là viên đá đầu tiên của ngôi thánh đường tôi muốn xây lên đây trong một thời gian nữa.” Thời gian trôi qua, vị linh mục vẫn bền chí hy sinh, tiếp xúc, cầu nguyện, gặp gỡ, rao giảng…cho đến một hôm, viên đá dính đầy máu đỏ xưa kia trở thành viên đá đầu tiên của ngôi nhà thờ xây trên xứ ấy để dâng kính Đức Mẹ.Hội Thánh Chúa luôn lớn lên từ những hy sinh của con cái mình.

6.- HY SINH ĐỂ CÁM ƠN CHÚA

“Vì yêu thương sẵn sàng hy sinh tất cả: “Để thế gian biết Đức Chứa Cha yêu Thầy và Thầy yên mến Đức Chúa Cha, chúng ta hãy chỗi dậy và ra đi!’”.


Trên một chuyến bay từ Ý qua Mỹ, một nữ chiêu đãi viên rất xinh đẹp phục vụ khách hàng trong đó có một số giám mục đi dự Công đồng Vatican II về. Suốt chuyến bay, cô rất bực mình vì một đôi mắt cứ nhìn chòng chọc vào cô, đó là Đức Tổng Giám Mục Fulton Sheen , vị tông đồ lừng danh nước Mỹ. Khi phi cơ hạ cánh, và đợi cho khách hàng xuống hết, vị Tổng Giám Mục mới tiến đến trước mặt cô, nói nửa nghiêm trang nửa bông đùa: “Cô đẹp lắm! Cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô đẹp!” Vài hôm sau, có tiếng gõ cửa văn phòng làm việc của Đức Cha Fulton Sheen. Cô chiêu đãi viên hôm nọ xuất hiện và vào đề lập tức: Câu nói của Đức Cha làm cho con suy nghĩ mãi. Con phải cám ơn Chúa thế nào?Cô biết trại phong cùi Di-Linh ở Việt-Nam chứ?Vâng, con đọc báo có nghe nói đến!Chúa đã lấy hết sắc đẹp của những người cùi ở đó mà ban cho cô. Cô hãy qua bên đó an ủi họ. Chỉ từng ấy! Cô chiêu đãi viên sau đó trút bỏ cả tương lai huy hoàng, khoác bộ áo nữ tu, và sau một thời gian tập sự, đã tình nguyện sang Việt-Nam phục vụ, ngay giữa những người cùi ở Di-Linh, để cám ơn Chúa vì đã ban cho mình sắc đẹp.

7.- ĐÔI MẮT TRAO TẶNG KẺ MÙ

“Ai cũng kính trọng những người được in Năm Dấu Thánh, nhưng ai cũng sợ Chúa in Năm Dấu Thánh trên mình bằng hy sinh”.


Cuối năm 1955, tại một bệnh viện, cha Don Gnochi thì thầm với bác sĩ: “Khi tôi mất rồi, xin bác sĩ móc hai mắt tôi để ghép vào cho hai đứa trẻ mù mà tôi đã nuôi nấng”. Sau mấy tuần làm việc, bác sĩ đã thành công: hai đứa trẻ bắt đầu thấy ánh sánh và càng ngày càng rõ hơn. Bác sĩ tìm cách hỏi hai em về mối dây liên hệ giữa các em và linh mục Don Gnochi. Hai em cho biết là chẳng có họ hàng gì. Thì ra trong suốt cuộc đời làm linh mục, cha Don Gnochi chuyên kiếm tìm những trẻ tàn tật đem về nuôi dưỡng, săn sóc, huấn luyện…Quá cảm kích trước tấm gương hy sinh vĩ đại, vị bác sĩ đã quyết định hiến dâng cả cuộc đời mình phục vụ các người xấu số. Gương hy sinh lôi kéo nhiều kẻ hy sinh.

8.- GIỌT NƯỚC MẮT THA THỨ

“Người thực sự yêu thương, luôn luôn hy sinh mà không bao giờ kể công”.


Đứng trước hung tín: Jacques, cậu con trai yêu quí vừa tử trận, nữ bá tước Littry vô cùng đau khổ và cảm thấy tiêu tán hết nghị lực. Tuy nhiên, bà vẫn cố gắng lao mình vào công việc phục vụ các bệnh nhân trong bệnh viện do bà sáng lập năm 1870, ở thung lũng Marne, xứ Eperny.Ngày nọ, một thương binh người Đức được chở đến bệnh viện. Dù y thuộc quân đội thù nghịch, bà vẫn tiếp nhận một cách vui vẻ. Khi lục soát đồ đạc, áo quần người thương binh, bà bắt gặp chiếc ví và đồng hồ của cậu Jacques trong túi áo. Vừa bàng hoàng, vừa tức giận, bà chỉ biết thốt lên: “Đúng đây là tên lính đã giết chết con trai mình!” Nhưng kìa, một mảnh giấy trong chiếc ví của Jacques rơi xuống. Bà vội cúi nhặt lên đọc, một hàng chữ đập mạnh vào mắt bà: “…Mẹ yêu quý, con luôn nhớ đến Mẹ và cầu nguyện cho Mẹ. Nếu chẳng may con bị tử trận, xin Mẹ đừng quá bi lụy, nhưng hãy can đảm, quảng đại chịu đau khổ để cầu nguyện cho con…” Sau một hồi xúc động, bà Littry cúi xuống tiếp tục săn sóc tên lính Đức cách tận tình. Trên mặt y, một giọt nước mắt của bà rơi xuống, nóng hổi, lóng lánh như hạt sương mai…!

9.- CHA GIÀ LỰU ĐẠN

“Chúa thường gởi hy sinh đến những người Chúa yêu; những hạng người được Chúa yêu ít lắm, vì không mấy ai chấp nhận hy sinh”.


Nữ tu Antoinette thường gọi ông lính già khó tính trong bệnh viện là “cha già lựu đạn”. Gặp ai ông cũng nhăn nhó, nạt nộ; có chuyện gì khó chịu, ông la lối rùm beng.Ngày kia, đang mãi mê phục vụ, nữ tu Antoinette nghe tiếng “cha già lựu đạn” hét lớn: “Đem cho tôi quả trứng!” Antoinette vui vẻ đem đến. Trứng chưa chín đủ mà cũng đem tới à! “cha già lựu đạn” nhăn nhó bảo. Antoinette tươi cười đem trứng đi luộc lại. Trứng chín quá! Luộc gì mà luộc vô ý đến thế!Antoinette chẳng biết làm sao, bèn đi lấy lò đến kê một bên giường và trao cho ông lính khó tính một cái trứng để ông luộc cho vừa ý. Thấy thế, ông lính già nổi máu nóng lên, đạp đổ lò bếp, quảng trứng xuống nền, miệng quát lớn: “Cô không biết tôi là bệnh nhân sao? Bệnh nhân mà đi luộc trứng à?” Nữ tu Antoinette chẳng nói nửa lời, chỉ thinh lặng cúi xuống thu nhặt, quét dọn…Lát sau, chị lại đem đến cho ông lính già một cái trứng khác: “Anh cố gắng dùng thử cái nầy, tôi luộc vừa chín thôi”. Bất giác, ông lính già cảm động, nói lí nhí trong miệng: “Tôi ăn quả trứng mà cũng là ăn lòng tốt của bà nữa”.

(ĐỌC SÁCH “ NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH TRÊN ĐƯỜNG HY VỌNG” CỦA ĐỨC CỐ HỒNG Y NGUYỄN-VĂN-THUẬN. CHƯƠNG VIII.- “HY SINH” )