Suy niệm tĩnh tâm linh mục tháng Tư

CHÚA THÁNH THẦN, SỨC MẠNH CỦA LỜI GIẢNG

GIẢNG DẬY LÀ SỨ MẠNG ĐẶC HỮU CỦA LINH MỤC

.


Dù là Vua Chúa,Tổng Thống hay Thủ Tướng…, nếu có đạo, khi tham dự Thánh Lễ, các ông cũng chỉ có quyền “Nghe”, chứ không có quỵền “Giảng”.

Louis Pasteur, dù là Viện Trưởng Viện Khoa Học Paris, nhưng mỗi lần tham dự Thánh Lễ, ở một họ đạo nhỏ, vẫn chăm chỉ và tôn kính lắng nghe vị linh mục miền quê giảng thuyết về Thiên Chúa.

Cái gì đã làm những vị trên lắng nghe và tôn kính lời giảng của linh mục, cho dù ông chỉ là một linh mục miền quê?

CHÚA THÁNH THẦN, SỨC MẠNH CỦA LỜI GIẢNG

1- GIẢNG DẬY LÀ SỨ MẠNG ĐẶC HỮU CỦA LINH MỤC.

Dù là Vua Chúa,Tổng Thống hay Thủ Tướng…, nếu có đạo, khi tham dự Thánh Lễ, các ông cũng chỉ có quyền “Nghe”, chứ không có quỵền “Giảng”.

Louis Pasteur, dù là Viện Trưởng Viện Khoa Học Paris, nhưng mỗi lần tham dự Thánh Lễ, ở một họ đạo nhỏ, vẫn chăm chỉ và tôn kính lắng nghe vị linh mục miền quê giảng thuyết về Thiên Chúa.

Cái gì đã làm những vị trên lắng nghe và tôn kính lời giảng của linh mục, cho dù ông chỉ là một linh mục miền quê?

Đó là nhờ Thiên Chức, được trao ban cho các ngài ngày thụ phong, để trở thành khí cụ cho Thiên Chúa, thực hiện công việc cứu độ của Ngài: “Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc. 4, 18).

Được truyền chức, cũng có nghĩa là được truyền giảng, được thông truyền sứ mệnh, mà Đức Kitô đã ủy thác cho các Tông Đồ và các thế hệ kế nghiệp các ngài: “Anh em hãy đi, dậy bảo muôn dân tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt. 28,20). Thánh Phaolô cũng đã quả quyết: “Thật vậy, Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi để làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng” (1Cr.1, 17).

Tiếp theo, ngài còn cảm nhận sâu sắc tầm trọng yếu của nó: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr. 9, 16).

Sứ vụ trên là một sứ vụ cao cả. Chính nó biến chúng ta thành những người Tuyên Cáo của Vua cao cả, kẻ Bảo Vệ cho tường thành Giêrusalem trên Trời và là Lính Canh cốt cán của núi thánh Sion.

Khi chúng ta được trao ban Thừa Tác Vụ Linh Mục, Đức Giám Mục cũng ân cần hỏi chúng ta: “Chúng con có muốn tỏ ra xứng đáng và khôn ngoan chu tòan nhiệm vụ Lời Chúa, trong việc rao giảng Phúc Am và trình bầy đức tin Công Giáo không?”

Tất cả chúng ta đều đã quả cảm thưa lại: “Con muốn”.

Lời Chúa và câu hỏi của Giáo Hội, qua vị Chủ Phong đã nói lên thật rõ:

2- NỘI DUNG CỦA LỜI GIẢNG.

Là chính Tin Mừng của Chúa. Trách nhiệm đặc hữu của chúng ta là phân phát nó, như là Thần Khí và sự sống cho mọi người. Bởi đó, chúng ta không có quyền nói lời của mình, mà phải nói lời của Chúa. Muốn nói được lời của Chúa và nói như Chúa đã nói, ta phải có tâm tình của Chúa, phải học ngôn ngữ của Ngài. Càng học nhiều, khả năng nói lời của Chúa càng lưu lóat. Nhờ đó, người khác mới nghe được và hiểu được cách dễ dàng.

Học Lời Chúa không phải để thi, để đổ đầy thùng kiến thức, mà là để sống. Lời Chúa không bao giờ nên coi như một tri thức suông, mà phải hiểu như một năng lực biến đổi và tái tạo, nhờ quyền năng Thánh Thần.

Nó cũng là một suy tư, nhưng không phải suy tư để trở thành uyên bác, mà là suy tư mang tính cứu độ. Nhờ nó, chúng ta trở nên như người bác sĩ lành nghề, mau mắn nhận ra thương tích, mà các linh hồn đang phải mang trên mình và thấy được phương thức chữa trị, như một mẹ hiền với đứa con bệnh họan. Nó còn dẫn ta đi, từ những thảm cảnh xã hội, từ những băn khoăn của con người trên đường tìm về Thiên Chúa, hầu thấy được mình phải làm gì để giúp đỡ họ. Nhờ nó, chúng ta có thể theo sát những dấu chân đi hoang, để có thể dẫn nó trở về, bên gối cha già, nước mắt dàn dụa.

Bởi đó, nếu chỉ thu nhặt kiến thức mà thôi, thì nhất định chưa đủ. Cần phải biết hình thành nó trong suy ngắm và cầu nguyện. Từ đó và qua ơn soi sáng của Chúa, ta mới thấy được phải làm gì. Biết phải làm gì, cũng vẫn chưa đủ, mà cần phải biết áp dụng vào cảnh sống của mình, cũng như của thính giả hôm nay và trong thế giới phức tạp này.

Mang sứ mạng giảng Lời Chúa, nhưng đừng quên, mình chỉ là một khí cụ, khí cụ vô duyên nữa.

3- SỨC MẠNH CỦA LỜI GIẢNG,

Không bao giờ nằm ở phía ta, dù ta có tài giỏi tới đâu đi nữa, nhưng lệ thuộc một Đấng khác. Đó là Chúa Thánh Thần. Ngài là Thiên Chúa ẩn mình, nên muốn tiếp xúc và xin ơn Ngài, ta phải làm trong khiêm tốn và thầm lặng.

Trong cuộc hành trình truyền giáo của thánh Phaolô, ngài đã có dịp ghé qua thành phố A-then và đã được mời tới Hội Đồng A-rê-ô-pa-gô thuyết giảng. Từ sự kiện, ở A-then, có một bàn thờ, trên đó ghi hàng chữ: “Kính thần vô danh”, thánh Phaolô đã dùng khả năng văn chương và hùng biện của ngài, để minh chứng về Đức Kitô tử nạn và phục sinh….Nhưng kết quả thật bẽ bàng: Chỉ được mấy người tin theo. Trong số đó, có hai người được ghi rõ danh tính: Ông Điônixiô và bà Đamari. Đại đa số còn lại chỉ từ chối khéo: “Để khi khác chúng tôi sẽ nghe ông nói về vấn đề ấy” (X. Cv. 17, 16-33).

Từ thất bại trên, Phaolô đã đi đến một cảm nhận sâu sắc. Cảm nhận đó được tiếp tục đào sâu, trong suốt 10 năm truyền giáo của ngài: Nếu chỉ dựa vào khả năng của mình để rao giảng, thì chẳng thể chuyển đổi được gì. Chỉ khi nào biết vượt trên mọi ưu điểm tự nhiên, để thực sự đặt mình, dưới sức tác động của Chúa Thánh Thần, công việc rao giảng mới mang lại thành quả.

Các Tông Đồ, trước lễ Hiện Xuống, chỉ là những con “Cáy ngày”. Nhưng khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, các ông đã trở nên những người hùng, những Tông Đồ lửa, dám khảng khái tuyên bố trước những thế lực giết người không gớm tay: “Không ai dưới gầm trời này có quyền cấm chúng tôi nói về Danh thánh Đức Giêsu Kitô.”

Lời tuyên bố hùng hồn đó của Phêrô, nếu so với cung giọng yếu xìu của ông, trước lời bắt nọn nhẹ ký của một nữ tỳ, trong dinh Thượng Tế Anna…, thì phải nói là một biến chuyển kỳ diệu, một sự lột xác lạ lùng. Điều kỳ diệu đó, chính Chúa Thánh Thần đã là tác nhân, làm nên nó.

Thánh Viannê, xét về mặt trí thức, so với giám mục Bossuet, thì khỏang cách phải nói: Một trời một vực. Nhưng hiệu quả của lời giảng, thì Viannê lại vượt xa giám mục Bossuet, cũng cả trời vực. Lý do của sự khác biệt nằm ở chỗ: Viannê đã hòan tòan nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần làm công việc của Người.

Chúa Thánh Thần lại chỉ họat động qua những khí cụ ngoan ngùy. Sức mạnh Người tòan năng, nhưng Người chỉ muốn làm nên những việc lạ lùng qua những con người khiêm nhu mềm mại, như mảnh đất thó trong tay người thợ kỳ tài.

Từ những miếng đất vô danh, trở thành một tác phẩm bất hủ, cần phải có thời gian. Vì thế, chẳng nên sốt nóng đốt giai đọan, mà phải biết chờ. Cứ làm hết khả năng mình là đủ. Những gì còn lại, hãy dâng tất cả cho Chúa Thánh Thần. Hãy vững tin: Người làm hiệu quả hơn ta làm nhiều. Một ông Việt kiều, ở Mỹ, về thăm quê hương. Ông đến gặp tôi, đúng lúc tôi đang đảo ximăng, làm mấy chiếc “Lam” cửa Nhà Thờ. Vào nhà tiếp ông ta, nhưng tay chân vẫn lem luốc mầu ximăng. Thấy vậy, ông ta góp ý: “Cha để người khác làm dùm, mó vào làm chi cho tội nghiệp!”. Tôi trả lời: “Ở Việt Nam không như Mỹ được. Linh mục Việt Nam là linh mục bách khoa. Khoa nào cũng phải mó tay vào. Nhưng cũng vì thế, mà chẳng khoa nào ra khoa nào cả…”. Chưa kịp nói hết, ông đã lắc đầu, góp ý: “Con nghĩ, nhiều việc phải để Chúa Thánh Thần lo dùm. Người làm hay hơn mình nhiều…”.

Câu góp ý của ông ta, có khía cạnh không thể theo được, nhưng lời khuyên: “Tín cẩn phó thác cho Chúa Thánh Thần”, thì rất đáng trân trọng.

Mỗi người chúng ta chỉ là khí cụ. Vai trò này cần được chân nhận đúng đắn. Chẳng bao giờ nên nghĩ: Thành quả của việc này việc kia, là do tài cán mình, để từ đó, hãnh diện khoe khoang. Bởi vì, hành xử như thế, chúng ta đã biến mình thành những chiếc loa. Am thanh phát ra to đấy, nhưng chỉ chói tai người nghe, chứ chẳng gây được hiệu ứng cần thiết, nơi tâm hồn họ.

Tác động trên, chỉ một Chúa Thánh Thần làm được. Giả dụ, chúng ta có thành công ở một điểm nào, thì cũng chẳng nên tự mãn, như ông biệt phái, mà chỉ nên tự nhận: Mình chỉ là đầy tớ, một đầy tớ vô duyên, có được cái gì hay cũng đều do Chúa. Phần mình, tất cả chỉ là chu tòan bổn phận phải làm.

Là khí cụ, nhưng không phải như chiếc Ô-pác-lơ (Haut parleur), mà là một khí cụ sống.

Chúng ta không nên chỉ giảng những chân lý trong sách vở, mà nên và phải giảng những chân lý mình đã sống, những chân lý đã được nẩy nở, nhờ ánh sáng của Mặt Trời tình yêu. Nhờ đó, nó mới đủ độ nóng, làm tan đi những băng giá của cuộc đời.

Một khí cụ sống là một khí cụ có hồn. Bởi vì thiếu hồn thì xác không thể sống. Thái độ trang nghiêm thánh thiện nào cũng tạo nên một hấp lực, khiến người khác phải kính nể. Đối diện với những con người đó, chưa cần phải nghe, chỉ cần thấy, người khác đã bị thuyết phục. Lý do: Các ngài không nói chỉ bằng ngôn từ, mà còn nói bằng tâm hồn. Nói bằng tâm hồn, cũng có nghĩa là nói bằng thinh lặng. Bởi vì, ngòai mình ra, có ai nghe được hồn mình đâu. Tuy nhiên, hiệu ứng của nó lại thật tuyệt vời. Vì trong thinh lặng, người ta nghe được nhiều nhất, nghe được cả những âm thanh của chiếc lá lìa cành. Nói ít làm nhiều, luôn luôn là một cách nói gây ấn tượng.

Khí cụ có tâm hồn, còn có nghĩa là có trái tim. Một con tim hiền hòa, chắc chắn, sẽ thóat ra tiếng nói nhẹ nhàng, từ tốn và dễ dàng thấm sâu vào lòng người. Con tim đã là hoa, thì nhất định, lời nói sẽ nưng nức hương thơm của hoa. Những ngôn từ mang tính đe loi, khó nghe, nặng nề…,sẽ chẳng bao giờ thóat ra từ những con tim là hoa.

Muốn là những con tim đó, chúng ta phải cảm được tiếng đập của con tim người khác. Suy bụng ta ra bụng người mà. Hiểu được nỗi khổ của người khác và cảm được niềm đau của riêng mình…, ta mới dễ dàng có thái độ cảm thông.

Một khi đã xác tín: Giảng là sống. Sống thế nào, giảng thể ấy, thì lời giảng mới đủ sức đánh động lòng người.

Muốn sống những lời mình giảng, chúng ta cần học Lời Chúa. Để cái học đạt được độ sâu, phải suy tư. Suy tư cũng có nghĩa là đào sâu. Mọi lọai “Mỏ quí”, đều phải đào sâu mới khai thác được. Một số quốc gia vùng Tây Á, mỏ dầu nằm ngay dưới nền sa mạc, nhưng vẫn phải đào, mới có thể lấy được dầu thô. Mỏ dầu ở nước ta, thì không thể nói đến đào, mà phải khoan thật sâu dưới lòng biển, dầu mới có thể phun lên.

Việc giảng dậy của chúng ta cũng không khác gì. Phải “Đào”, đào thật sâu Lời Chúa, chúng ta mới lấy được “Chất” cho bài giảng của mình. Lời Chúa càng được đào sâu, càng cung cấp cho ta nhiều “Bửu bối”, để làm sinh động bài giảng.

Nhờ biết suy tư, ta sẽ có đầy đủ hạt giống, để gieo trồng vào mảnh đất, không những của mình, mà còn của cả cộng đồng họ đạo.

Những con Ong thợ, cần mẫn và liên tục, bay từ hoa này sang hoa khác, hút lấy tinh túy của hoa, để bào chế thành mật thế nào…, thì những suy tư miệt mài, thầm lặng của chúng ta cũng sẽ làm cho bài giảng trở thành mật ngọt, nuôi sống người khác như thế.

Thánh Bêđa, một tiến sĩ thời danh, một nhà giảng thuyết tuyệt vời của Giáo Hội, đã có một nhận định rất đáng lưu tâm: “Chẳng có gì ngọt ngào hơn là đọc, học và viết”, (Nihil dulcius quam legere, discere, sribere).

Suy tư của chúng ta, còn cần được tưới ướt, bằng cầu nguyện. Thiếu điều này, cánh đồng truyền giáo sẽ khô cháy. Giáo xứ Ars, trước ngày thánh Viannê tới, chỉ là một mảnh đất khô cằn. Nhưng từ khi có mặt ngài, nó đã biến thành một thửa ruộng mầu mỡ, hoa lá xanh tươi, trái chín nặng cành. Sự biến chuyển kỳ diệu đó, là nhờ nước cầu nguyện phong phú của đời ngài. Lời nguyện liên lỉ suốt đời mục tử của ngài, đã là những tiếng van xin dâng lên Thiên Chúa Ngôi Ba, Người là nguồn suối dạt dào, là lửa thiêng, là tình mến…,ban xuống cho ngài ánh sáng để nhìn rõ đêm đen, tình yêu để sưởi ấm lòng người và suối mát để tưới ướt những cõi lòng khô cháy.

Nội dung lời giảng là Phúc Am, sức mạnh cải đổi là Chúa Thánh Thần, nhưng

4- PHƯƠNG TIỆN CHUYỂN TẢI

Là chính chúng ta.

Trước tiên, là chuyển tải bằng ngôn ngữ.

Ngôn ngữ ở đây cần có chất ngọt ngào. Lời ngọt, nhất định, phải lọt tới xương. Một lít giấm chẳng thể bắt được một con ruồi. Nhưng một chút mật, rất có thể làm nhiều con ruồi rũ cánh chịu chết. La mắng bao giờ cũng dễ hơn thuyết phục. Mà la mắng, thì không bao giờ là lời của Chúa, mà chỉ là lời của mình. Chúng ta đã lạm dụng Lời Chúa, ỷ vào tòa giảng để lên án, để mạ lị người, chúng ta đang muốn công kích.

Ngôn ngữ phải ngọt ngào, nhưng cái ngọt ở đây rất nên vừa tầm với người nghe. Thính giả ở miền quê, không thể được coi ngang tầm với thành phố.Vì thế, phải nói thế nào, để người nghe hiểu được, nắm được những gì chúng ta muốn chuyển tải. Có anh chị em giáo dân đã phàn nàn: “Cha nói gì chúng con chẳng hiểu.” Cách nói như thế thật mâu thuẫn với những gì, chúng ta đã được khuyến dụ, trong ngày lãnh nhận Thừa Tác Vụ Đọc Sách: “Khi đọc sách thánh, các con hãy đọc cho rõ và rành mạch, sao cho các tín hữu có thể hiểu được đọan sách đang đọc và được ích lợi bởi bài sách đó.” Những người miền quê, đọc sách chưa thông, nhưng lại được nghe những từ, đượm mầu hoa mỹ của cô nữ tỳ thần học “Philosophia est ancilla theologiae”, thì nhất định chỉ là tiếng à ơi, ru họ vào giấc ngủ. Nghe mà chẳng hiểu, nhưng vẫn phải nghe, thì ngủ hoặc truyện trò với người bên cạnh, có gì là khó hiểu đâu?

Ngược lại, nếu gập thính giả cấp thành phố, mà chúng ta lại dùng ngôn ngữ của miền quê, thì nhất định người ta chỉ nghe một lần, rồi “Bai” luôn. Muốn thích ứng với tầm vóc người thành phố, chúng ta cần chịu học, cần trau dồi kiến thức phổ thông, cần đọc sách báo, để có thể nói được thứ ngôn ngữ của họ. Nhờ đó, mới có thể hấp dẫn, lôi cuốn được họ. Tóm lại, ngôn ngữ của chúng ta vừa cần có chất cao quí, trang nhã, vừa phải thực tế và am hợp với từng lọai thính giả.

Phương tiện chuyển tải thứ hai, là chính con người chúng ta. Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 41, đã coi việc làm chứng bằng đời sống, là một điều không thể thiếu, trong thời đại hôm nay. Vì hôm nay, “Người ta thích nhìn thấy chứng nhân hơn là nghe lời giảng”.

Dù chúng ta nói hay mấy đi nữa, nhưng con người mình chưa tóat ra một gương mẫu sống động, thì vẫn chưa có sức lôi cuốn người nghe đón nhận ơn sám hối.

Một nhà phê bình về lịch sử dòng Phanxicô, đã có một nhận xét rất ấn tượng về thánh nhân: “Thánh nhân chỉ dùng gương sáng của bản thân: Sống Tin Mừng một cách trọn vẹn, để đổi mới Giáo Hội, thay vì chỉ trích hoặc bút chiến”.

Như thế, gương sáng về đời sống, cách cư xử và những đức tính luân lý của ta…là một thứ ngôn ngữ có sức tác động hơn cả.

Một đời sống giản dị, khiêm tốn; nhà cửa đơn sơ, đạm bạc; rộng rãi giúp đỡ người khác và tiết kiệm khi phải chi tiêu cho mình; một đôi mắt biết nhận ra những nỗi thống khổ của cuộc sống; một lòng trí luôn quan tâm tới lợi ích thiêng liêng và cả vật chất của mọi người; một cách cư xử thân tình gần gũi, không phải chỉ bề ngòai, mà bằng cả tư tưởng và con tim của mình….Tất cả những điều đó, quả thực, đã là những ánh sao dẫn đường cho người khác, là những ngọn lửa sưởi ấm cõi lòng cho mọi người.

Một miếng thịt thật ngon, nhưng chỉ bỏ vào luộc, chẳng mắm muối gia vị, thì cũng chẳng thể tạo cho người ăn sự ngon miệng.

5- MẮM MUỐI GIA VỊ ở đây là gì?

Là những tin tức thời sự, được đăng tải trên báo chí và các phương tiện truyền thông khác.

Nó còn là những biến cố gây chấn động cho mình, cũng như người khác: Một tai nạn giao thông nghiêm trọng, một đám tang nhiều xót xa, một em bé bơ vơ khóc trên hè phố, một câu chuyện hay vừa đọc được, một nhức nhối vì bị người khác xử tệ, một bài hát gây cảm kích…. Tất cả đều là mắm muối, bột ngọt, làm cho bài giảng của ta trở thành sống động và tiêu hóa dễ dàng.

Có thịt thà, có mắm muối, hành tỏi, tiêu ớt…đầy đủ, nhưng còn phải thấy được thị hiếu của thực khách, món ăn chúng ta dọn ra, mới được chiếu cố tận tình. Cha Nhân Tài, ở Đài Loan, đã ghi lại một kinh nghiệm của đời ngài: Trong thời gian đi giúp xứ, vào một ngày Chúa Nhật, sau lễ, một giáo dân đã nói với ngài: “Thưa thầy, nếu sau này thầy làm linh mục, khi giảng lễ, thì xin thầy giảng Phúc Am cách thực tế trong cuộc sống, để chúng tôi còn hiểu được và dễ thực hành. Thầy đừng như cha sở hôm nay, giảng gì mà tụi tôi chẳng hiểu gì hết….”

Bài giảng, như thế, phải là một kinh nghiệm sống, một chia xẻ với cộng đòan, một cảm nghiệm sâu sát, chứ chẳng nên chỉ là lý thuyết sách vở. Có đi sâu, đi sát vào cảnh sống, vào nỗi băn khoăn và ưu tư của thính giả, ta mới có thể làm cho bài giảng trở thành “Nhớ đời” được.

Khi đã thấy được nhu cầu của người khác, thì giai đọan tiếp theo, là chế biến thực phẩm. Việc chế biến có lúc cần “Đường”, nhưng chỉ nên vừa đủ. Quá đáng, bài giảng sẽ trở thành miếng bánh quá ngọt. Người nghe chỉ dùng chút ít, đã ớn, không dám dùng thêm. Đôi khi thay vì đường, phải dùng muối. Muối cũng chẳng nên quá. Quá sẽ trở thành mặn đắng, người nghe chỉ thấy rùng mình, chứ không tài nào nuốt trôi qua cổ. Tiêu ớt, cũng thế. Quá tay, bài giảng sẽ trở thành cay cú, chứ không thể xoa dịu người nghe. Nói gọn lại, mắm muối, tiêu ớt, hành tỏi…nên được lượng định đúng mức, bài giảng mới trở nên nguồn cảm thông, an ủi và cứu giúp người khác được.

Một chút ngọt ngào, sẽ làm cho những điều khó nghe, trở nên dễ chấp nhận. Nhưng nếu quá, thì sẽ biến thành mị dân. Một chút muối vừa đủ, sẽ làm cho món ăn đậm đà. Nhưng quá, thì chỉ tạo xót xa. Một chút tiêu ớt, có thể đánh tan mùi tanh của cá. Nhưng nếu quá, thì chỉ là “Bún giò Huế”.

Qui trình thứ ba là nấu nướng. Đây là một nghệ thuật, phải học mới có thể sở hữu được. Bài giảng nào cũng cần bố cục, dàn bài rõ ràng. Thiếu yếu tố này, bài giảng sẽ như chiếc Boeing, bay siêu thanh, nhưng chẳng biết đáp chỗ nào: Cụ chỉ dặn mấy điều, nhưng mãi, mà không đời đời chẳng cùng amen được. Cũng rất nên có những cách vào đề đa dạng, để tạo sự gợi cảm, ấn tượng và thích thú cho người nghe. Nhờ đó, họ sẽ bị lôi cuốn vào bài giảng và không cảm thấy nặng nề nữa.

Bước sang phần chính, cách trình bầy của chúng ta nên rập khuôn theo phong cách của thánh Phaolô, mỗi khi ngài lên tiếng giảng. Một tác giả đã nhận xét về thánh nhân như sau: “Mỗi lời nói của Phaolô đều nóng bỏng và đầy sức sống…cách phát biểu của ngài rất đa dạng và phong phú, từ chỗ trang trọng sâu sắc đến chỗ xúc động thực sự, từ chỗ bất bình khó chịu đến chỗ “Giận dữ thánh”, từ chỗ yêu thương tha thiết, đến chỗ thuyết phục thân mật. Lời nói của ngài đầy mầu sắc, đượm mầu chiến thắng vinh quang, kể cả những than trách buồn phiền, những cảm thông sâu sắc, và đôi khi cũng thực sự có tính cách hăm dọa” (X. Đặc Sủng của Đời Linh Mục. Tr.216).

Sau mỗi bài giảng, nếu người nghe có được cảm nhận: “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc. 24,31), khi nghe cha giảng… thì thật là một hồng phúc rất đáng ước mơ.

Một điểm nữa, chúng ta cũng chẳng nên quên: Bữa ăn, nếu được chuẩn bị trong một căn phòng ấm cúng, với bầu khí thân mật, người phục vụ gọn gàng, tươi mát… hương vị của nó, nhất định, sẽ được nâng cao. Những điều thông thường đó, áp dụng vào bữa ăn Lời Chúa cũng chẳng khác mấy. Vẻ đẹp của Thánh Đường, bầu khí thân tình trong các buổi giảng và cung cách lịch sự, lễ phục xứng đáng, nét mặt tươi vui…của diễn giả…nhất định sẽ tạo nên một sức hút đáng kể nơi những người nghe.

Mục đích bài giảng nhắm tới, là cộng đòan. Nhắm tới không phải để làm gì khác, mà là để xây dựng tâm hồn họ, trở thành Đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Mục đích đó, không phải là điều dễ làm. Nó cần sự kiên trì và cố gắng trong học hỏi, suy niệm và sống Lời Chúa.

Khó với chúng ta, nhưng với Chúa thì thật dễ dàng. Chúng ta cùng nhau xin Chúa cho mình có thể làm được những điều đó.

VẤN TÂM.

Lời nguyện XIN THA.

1- Lậy Chúa, khi chúng con lãnh nhận chức vụ Linh Mục, chúng con đã trở thành người cha linh hồn, người thầy chỉ dậy đức tin, người hướng đạo để dẫn đưa người khác đến với Chúa. Muốn thực thi sứ mạng đó, chúng con phải thấm nhuần Lời Chúa. Ngày được thụ phong, chúng con đã được khuyến dụ: Phải tin những gì mình đọc, dậy những gì mình tin và thực hành những gì mình dậy. Trách vụ đó, quả thực, chúng con đã có nhiều thiếu sót. Lời Chúa, chúng con chẳng đọc. Nếu có đọc, cũng chỉ đọc như cái máy, chứ không phải từ cõi lòng, từ cuộc sống. Bởi đó, việc rao giảng của chúng con chẳng đem lại nhiều kết quả.

Lậy Chúa, xin ân tha điều đó cho chúng con.

2- Lậy Chúa, Chúa đã truyền dậy chúng con, phải rao giảng những gì Chúa đã truyền. Thế mà, nhiều khi, chúng con lại làm ngược lại: Chỉ giảng những lời của mình. Chúng con đã lạm dụng tòa giảng huấn, để nói móc người này, cạnh khóe người kia, những người đang là đối tượng bực tức, giận hờn của chúng con.

Lậy Chúa, xin ân tha cho chúng con những điều không phải đó.

3- Lậy Chúa, Chúa không gọi chúng con là tôi tớ, mà là bạn hữu. Là bạn Chúa, thì phải đồng cảm với Chúa. Chúa luôn tha thứ, thì chúng con cũng phải tha thứ như Chúa. Thế nhưng, nhiều bực bội của chúng con, không thể bỏ qua được. Thậm chí, bước lên tòa giảng, chúng con ôm cả nó đi theo. Để rồi, tự nhiên, trút tất cả lên đầu người nghe. Quả thực, chúng con đã phạm phải sai lầm: “Giận cá băm thớt”.

Lậy Chúa, xin ân tha cho chúng con sai lầm này.

4- Lậy chúa, Chúa đã dậy chúng con phải khiêm tốn, phải coi người khác hơn mình. Vậy mà, đôi khi, chúng con chỉ thấy mình trên nước người khác. Khi giảng dậy, chúng con nói Lời Chúa thì ít, mà “Dậy đời”, có lẽ, nhiều hơn, dậy cả những người đáng tuổi cha ông mình. Điều đó đã là “Nhân”, tạo nên một “Trái đắng”, là lời phê phán của một vị cao niên, khi được nghe một anh em linh mục chúng con dậy đời: “Chúng tôi đến đây là để nghe lời Chúa, qua miệng các linh mục, là những người thay mặt Chúa, chứ không phải đến để nghe dậy đời, qua môi miệng một người, chưa từng lặn lội với đời như chúng tôi” (Lm Nhân Tài).

Lậy Chúa, xin ân tha cho chúng con những điều không đúng đó.

5- Lậy Chúa, tòa giảng là nơi loan báo tình thương, sự an ủi và niềm khích lệ…nhưng đã có lần, chúng con biến nó thành một Đọan Đầu Đài, để tra tấn tâm hồn người yếu đức tin, làm buốt đau lòng người ngoan đạo và làm rướm máu con tim người, đang hết lòng yêu mến Giáo Hội của Chúa.

Lây Chúa, xin ân tha cho chúng con những biến chất trầm trọng đó.

DỌN MÌNH CHẾT.

Đức Giáo Hoàng Innocente IX, một hôm, mời cha Claudius Aquaviva, đang làm Bề Trên Tổng Quyền Dòng Tên và là bạn thân của ngài, tới đàm đạo với ngài.

Đức Thánh Cha không tiếp cha Aquaviva tại phòng khách, nhưng ở tư phòng. Tại đây, Đức Thánh Cha chỉ cho ngài một chiếc hộp nhỏ, đặt trên bàn làm việc và hỏi :

- “Cha có biết trong hộp chứa đựng vật gì không? một vật rất quí đó! cha mở ra coi đi!”

Cha Aquaviva mở nắp hộp và sửng sốt, khi thấy một hình người, rất giống Đức Thánh Cha, nằm ngay ngắn trong đó. Trong lúc phân vân chưa hiểu dụng ý của Đức Thánh Cha, thì được Đức Thánh Cha giải thích :

- Hình người chết, chính là tôi. Bởi đó, với tôi, nó rất quí, vì nó luôn gợi cho tôi nhớ tới giờ chết … Trong nhiệm vụ Giáo Hoàng, tôi phải quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Nhiều người đã tìm cách gây áp lực với tôi, không chỉ bằng tranh luận, mà bằng cả tiền tài và địa vị…. Thế nên, mỗi khi phải quyết định một vấn đề quan trọng, sau khi cầu nguyện, xin ơn soi sáng, tôi vào đây, mở chiếc hộp ra, nhìn chân dung mình trong đó và liên tưởng tới phút giây phải chết. Sau đó, tôi mới quyết định. Tôi luôn tự hỏi : Nếu phải chết ngay lúc này, tôi sẽ quyết định thế nào về điều đó? Chính vì thế, chiếc hộp nhỏ này rất quý đối với tôi.

Nhớ đến giờ chết, như thế, là một phương thế rất hữu hiệu để tránh sai phạm. (X. Đi Về Vĩnh Cửu của Hồng Nguyên)

Xin Chúa cho anh em chúng ta, mỗi khi làm công việc loan báo Lời Chúa, biết làm nó trong tâm thức hướng về giờ chết, như Đức Thánh Cha Innôcentê đã làm, để có thể tránh được những sai phạm không đáng có.