Suy niệm Lời Chúa qua hoàn cảnh.
Một ngày, có rất nhiều việc xảy ra cho một người, nhưng có lẽ ít ai để ý vì đôi lúc trở thành thói quen, vì đã trở thành thói quen nên dễ dàng oán trời trách người khi gặp sự cố đột xuất.
Các nữ tu cần phải để ý đến điều ấy, vì đôi lúc các nữ tu được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần về “mọi sự, mọi việc, mọi ngày đều là của Chúa” và do Chúa gởi đến cho mỗi người chúng ta, nhưng nếu sáng hôm nay chuẩn bị đi đến nhà trẻ mà chiếc xe máy đã có người chị em dùng rồi thì trong lòng như thế nào nhỉ, lẩm bẩm trách người chị em lấy xe mà không báo trước, hay vui vẻ tìm cách khác để đi đến nhà trẻ; hoặc nếu tối nay đang tập hát cho ca đoàn ở giáo xứ, mà đột nhiên bị cúp điện thì tâm hồn của các nữ tu sao nhỉ, thầm rủa nhà đèn “chơi không đẹp” hay là vui vẻ nói với các ca viên: Chúa cho mình nghỉ giải lao vài phút. Tất cả các nữ tu đều biết rõ Lời Chúa không chỉ ở trong Kinh Thánh mà thôi, không chỉ ở trong khi cầu nguyện mà thôi, nhưng cũng ở trong mọi biến cố của hoàn cảnh, mà chỉ có những ai thường xuyên suy tư và khiêm tốn để cho lời Ngài hướng dẫn, thì mới có một sự hiểu biết đức tin trong biến cố xảy ra như Mẹ Maria, trong ngày Mẹ được truyền tin cưu mang con Đức Chúa Trời (Lc 1, 28-38).
Không suy tư và thấm nhuần Lời Chúa, thì không ai có thể hiểu được hoàn cảnh sống chính là thông điệp tình yêu mà Thiên Chúa muốn gởi đến cho chúng ta, có hoàn cảnh thuận thì cũng có hoàn cảnh nghịch, và con người ta chỉ thích những gì thuận và có lợi cho mình, cho nên dù có thuộc lòng từng câu từng chữ trong Kinh Thánh thì họ cũng không hiểu được thông điệp mà Thiên Chúa muốn gởi đến cho họ, nên khi thành công thì họ hớn hở vui mừng, và khi thất bại thì oán trách mọi người và đổ lỗi cho Thiên Chúa là không thương yêu họ.
Tại sao người ta mến các nữ tu hơn những người khác, vì chính các nữ tu biết đem Lời Chúa ứng dụng vào trong hoàn cảnh của cuộc sống, dù hoàn cảnh thuận hay nghịch, các nữ tu vẫn luôn giữ được thái độ điềm đạm, vui tươi, yêu thương, đó chính là hiệu quả của việc luôn luôn suy niệm Lời Chúa, và nhìn thấy ý Ngài qua cuộc sống của mình. Thời nay có nhiều nữ tu mà thời gian ở ngoài nhiều hơn ở trong tu viện, vì nhu cầu học hành, làm việc và truyền giáo, đó chính là hoàn cảnh và qua hoàn cảnh này, mà người ta nhận ra được “khuôn mặt” thật của người nữ tu bên trong bốn bức tường tu viện -hay nói cách khác- nhận biết được tôn chỉ và mục đích của đời sống tận hiện của các nữ tu hơn, qua việc chấp nhận thánh ý của Thiên Chúa nơi mỗi nữ tu...
Suy tư Lời Chúa qua ý bề trên.
Tưởng cùng nên nhắc lại: bề trên hợp pháp của mỗi hội dòng là do toàn thể thành viên trong dòng bỏ phiếu chọn ra với sự tự nguyện dưới sự chủ tọa của giám mục địa phận, cho nên khi vâng lời bề trên thì không phải vâng lời cá nhân của bề trên mà vâng lời tiếng nói chung của toàn thể hội dòng, khi mệnh lệnh của bề trên đã được ban cố vấn đồng ý và nhân danh hội dòng để ban lệnh (1).
Thánh Phaolô tông đồ đã dạy rằng: “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”Pl 2, 4), nhưng tìm thấy lợi ích cho người khác thế nào được, khi mà có những phần tử trong cộng đoàn Phi-lip-phê rao giảng Tin Mừng vì tranh chấp ganh tị (Pl 1, 15), cho nên ngài đã đưa ra một bằng chứng hùng hồn bằng sự khiêm hạ của Chúa Giêsu khi Ngài vâng lời Chúa Cha:
“Đức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nổi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự”.(Pl 2, 6-8),
Nếu Chúa Giêsu không liên lĩ kết hợp với Chúa Cha, thì Ngài không thể thực hiện ý của Cha trên trời; nếu Chúa Giêsu không thâu đêm chuyện trò với Chúa Cha, thì Ngài sẽ không bằng lòng chịu chết trên thập giá, dù cho cái chết ấy sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người, nhưng Ngài vâng phục ý Chúa Cha để chúng ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi (Cl 1, 14).
Việc thường xuyên suy niệm Lời Chúa sẽ làm cho các nữ tu nhận ra thánh ý của Thiên Chúa qua bề trên của mình, dù ý ấy -đôi lúc- như lưỡi dao đâm xé trái tim của mình, hoặc là khiến cho kế hoạch mà mình đang xây dựng cho cộng đoàn nơi mình phục vụ bị ngưng trệ. Chính trong những hoàn cảnh như thế, nhờ Lời Chúa soi sáng, mà các nữ tu hân hoan được biết mình đang trở nên của lễ tận hiến cho Thiên Chúa để nhiều chương trình của hội dòng được phát triển, và nhiều chị em khác trong hội dòng nhờ sự hy sinh của mình mà học được những bài học quý giá cho bản thân, chị thánh Têrêxa Hài Đồng đã làm như thế khi chị thánh tuyệt đối nghe lời mẹ bề trên dù bề trên luôn cứng rắn và không tỏ ra thông cảm với chị thánh (2).
Có những bề trên khắc khe cứng rắn, có những bề trên hiền từ, có những bề trên thông minh khôn ngoan, nhưng dù các bề trên thuộc loại nào thì các nữ tu cũng phải cảm tạ Thiên Chúa đã dùng các bề trên để cho các chị biết thánh ý của Ngài. Chúng ta có thể ví nôm na như thế này: ý của bề trên hợp pháp chính là ổ khóa vạn năng, mà chìa khóa để tra vào ổ khóa ấy chính là cách thấm nhuần suy tư Lời Chúa của các nữ tu, càng hiểu càng yêu mến, càng thực hành Lời Chúa thì các nữ tu càng cảm thấy “ổ khóa vạn năng” ấy sao dễ mở, và khi mở được rồi thì các nữ tu thấy đời tận hiến của mình có rất nhiều ý nghĩa và rất hạnh phúc, vì đã dâng mình cho Thiên Chúa qua hội dòng mà mình đã chọn.
Không ai hằng yêu mến và luôn thực hành Lời Chúa, mà không có tâm hồn khiêm hạ trong việc phục tùng bề trên hợp pháp của mình.
Gẫm suy Lời Chúa qua các chị em.
Mỗi nữ tu là một bông hoa đẹp nhất dâng hiến cho Thiên Chúa, chính Ngài khi tạo dựng bà Eva, thì đồng thời Ngài cũng biết rõ những nữ tính nơi họ, và với tâm tình của người Cha trên trời, Ngài hằng luôn thương yêu và mời họ nên thánh trong đời sống tận hiến, và qua đời sống tận hiến này, do sự mời gọi và tuyển chọn của Chúa Giêsu, Ngài đã muốn các nữ tu trở nên những chứng nhân anh hùng thực hiện lời của Ngài giữa xã hội qua mọi thòi đại.
Người ta nói đùa rằng: nơi nào có hai phụ nữ cộng thêm một con vịt nữa là nơi ấy trở thành cái chợ, xét cho cùng, cũng không sai lắm đâu; nhưng chúng ta có thể tự hào rằng, ở đâu có hai ba nữ tu thì ở đó biến thành một cộng đoàn phục vụ và truyền giáo, mà quả thật như thế, hiện nay không phải các nữ tu cứ ba hoặc bốn người ở chung với nhau là thành một cộng đoàn nhỏ hay sao ? Tại sao các nữ tu lại làm được chuyện ấy mà những phụ nữ khác không làm được, là bởi vì các nữ tu biết im lặng để suy tư và biết thinh lặng để lắng nghe lời của Thiên Chúa qua đời sống cộng đoàn của mình.
Dù là mang thân phận người phụ nữ bởi dòng máu Eva, nhưng Mẹ Maria vẫn được Thiên Chúa tuyển chọn và gìn giữ để làm mẹ của Chúa Giêsu -Đấng cứu chuộc trần gian- thì các nữ tu cũng có thể tự hào rằng, cả nhân loại -từ thuở tạo thiên lập địa cho đến tận thế- chỉ một mình Đức Mẹ Maria là được Thiên Chúa tuyển chọn để nói với Thiên Chúa trong sự “im lặng” của mình, và nơi cung lòng Mẹ biến thành thiên đàng của trời cao để cho nhân loại -qua Mẹ- thấy được Thiên Chúa làm người là Chúa Giêsu Kitô. Các nữ tu cũng vậy, tuy là người nữ nhưng trong chương trình “sau Phục Sinh” để tiếp tục ơn cứu độ của Ngài, cũng có “chỗ” cho các chị em để làm công việc rao giảng Tin Mừng cứu độ ấy bằng chính đời sống thánh hiến của mình.
Tuy nhiên, ngọc cần phải giũa phải mài mới sắc sảo và đẹp ra, các nữ tu cũng cần phải được Thiên Chúa gọt giũa bằng thử thách, bằng hy sinh và bằng ân sủng của Ngài thì mới trở thành viên ngọc cực đẹp cho Ngài và cho đời.
Gọt giũa đau nhất nhưng công hiệu nhất mà Thiên Chúa dùng để thử thách các con cái ưu tú của Ngài chính là đời sống cộng đoàn, chính những va chạm trong đời sống cộng đoàn này làm cho tâm hồn các nữ tu sáng và đẹp ra hơn cả viên ngọc, chính những va chạm giữa các chị em mà Thiên Chúa ban nhiều hồng ân xuống cho những ai biết nhận ra thánh ý của Ngài. Nhưng không phải ai cũng biết nhận ra thánh ý của Thiên Chúa qua sự va chạm giữa các chị em với nhau, nếu các nữ tu không có một “trình độ” hiểu biết và thường xuyên suy tư lời của Ngài.
Cộng đoàn -dù lớn dù nhỏ- thì cũng là một phần tử của nhà dòng mẹ, hay nói cách khác, là một “tiền đồn” truyền giáo của đại bản doanh là nhà mẹ ở cách xa hàng trăm hàng ngàn dặm, cho nên không phải vì thế mà các nữ tu nghĩ rằng chuyện va chạm giữa chị em sẽ không xảy ra ! Chính vì nghĩ như thế mà ma quỷ lợi dụng cái cộng đoàn -tiền đồn cỏn con- ấy để tấn công bằng những lý do rất chính đáng như: bận học thêm, bận phục vụ bệnh nhân, bận thực tập, bận trực ca.v.v...để làm cho các nữ tu lơ là trong việc tuân giữ các giờ kinh, các giờ nguyện ngắm chung với các chị em khác...
Nhưng cái quan trọng hơn chính là những va chạm với chị em, dù là cộng đoàn nhỏ, nhưng là một cộng đoàn với những con người với những cá tính khác nhau; dù là cộng đoàn nhỏ, nhưng kinh nghiệm tu đức và kinh nghiệm sống không giống nhau; dù là cộng đoàn nhỏ, nhưng sự giáo dục và ảnh hưởng gia đình không giống nhau, cho nên rất dễ dàng va chạm nhau trong đời sống cộng đoàn, sự va chạm này ít người biết khi ở trong một cộng đoàn lớn, nhưng nó sẽ nổi bật và lấy làm khó chịu khi ở trong một cộng đoàn nhỏ, do đó, nếu không thật thấm nhuần Lời Chúa thì không thể chịu đựng lẫn nhau, nếu không luôn suy tư Lời Chúa thì không thể tiếp tục ơn gọi tận hiến của mình được.
Va chạm với nhau trong đời sống cộng đoàn chính là dịp đễ các nữ tu cảm nghiệm được Thiên Chúa vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống của mình, khi một chị em không thích mình, kèn cựa với mình chỉ vì mình được mọi người thương mến, đôi lúc làm cho mình khó chịu và cảm thấy người chị em ấy quả không đáng thân thiện, và ma quỷ sẽ thôi thúc làm cho mình cảm thấy chị em ấy ngày càng đáng ghét hơn. Nhưng nếu là một nữ tu luôn lấy Lời Chúa làm mẫu mực của việc làm, thì họ sẽ biết nhìn thấy ý Thiên Chúa trong trường hợp đáng tiếc ấy, điều trước tiên mà họ thấy là người nữ tu không thích mình ấy thật đáng thương hơn là đáng ghét, đáng kề cận hơn là xa cách, cho nên cần phải tha thứ và đánh tan những ý nghĩ ghét ghen nới người chị em ấy, bằng sự phục vụ và lòng yêu mến chân tình của mình...
Lời Chúa như là đèn soi làm cho các nữ tu nhìn rõ chân giá trị của sự va chạm, chính là Thiên Chúa đang thử thách mình qua các chị em trong cộng đoàn, bởi vì việc tu đức và đường nên thánh không phải trên giáo án của các vị linh hướng, nhưng trong chính cuộc sống thực hành Lời Chúa của mỗi người, mà mỗi một người chị em trong hội dòng chính là những công cụ gọt giũa, để cho mình ngày càng hoàn thiện hơn trong đời sống tận hiến. Nếu không có ơn của Thiên Chúa giúp đỡ, nếu không được Lời Chúa hướng dẫn thì không một cộng đoàn tu hội nào tồn tại, đó là sự thật, bởi vì cộng đoàn tu trì là do Thánh Thần soi sáng và thúc giục những người muốn phụng thờ Thiên Chúa cách tích cực và quãng đại hơn, cho nên họ cần phải được Lời Chúa hướng dẫn, soi sáng và thanh luyện, có như thế các nữ tu mới thật sự là những viên ngọc đẹp nhất được dâng hiến lên Thiên Chúa và tỏa sáng cho mọi người.
(còn tiếp)
------------------------------------
(1) Mời xem “Nữ tu Việt Nam với ơn gọi truyền giáo của thế kỷ 21
(2) Một Tâm Hồn, chương “Khuôn vàng thước ngọc của luật phép nhà”, bản dịch của Kim Thiếu.
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai
Một ngày, có rất nhiều việc xảy ra cho một người, nhưng có lẽ ít ai để ý vì đôi lúc trở thành thói quen, vì đã trở thành thói quen nên dễ dàng oán trời trách người khi gặp sự cố đột xuất.
Các nữ tu cần phải để ý đến điều ấy, vì đôi lúc các nữ tu được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần về “mọi sự, mọi việc, mọi ngày đều là của Chúa” và do Chúa gởi đến cho mỗi người chúng ta, nhưng nếu sáng hôm nay chuẩn bị đi đến nhà trẻ mà chiếc xe máy đã có người chị em dùng rồi thì trong lòng như thế nào nhỉ, lẩm bẩm trách người chị em lấy xe mà không báo trước, hay vui vẻ tìm cách khác để đi đến nhà trẻ; hoặc nếu tối nay đang tập hát cho ca đoàn ở giáo xứ, mà đột nhiên bị cúp điện thì tâm hồn của các nữ tu sao nhỉ, thầm rủa nhà đèn “chơi không đẹp” hay là vui vẻ nói với các ca viên: Chúa cho mình nghỉ giải lao vài phút. Tất cả các nữ tu đều biết rõ Lời Chúa không chỉ ở trong Kinh Thánh mà thôi, không chỉ ở trong khi cầu nguyện mà thôi, nhưng cũng ở trong mọi biến cố của hoàn cảnh, mà chỉ có những ai thường xuyên suy tư và khiêm tốn để cho lời Ngài hướng dẫn, thì mới có một sự hiểu biết đức tin trong biến cố xảy ra như Mẹ Maria, trong ngày Mẹ được truyền tin cưu mang con Đức Chúa Trời (Lc 1, 28-38).
Không suy tư và thấm nhuần Lời Chúa, thì không ai có thể hiểu được hoàn cảnh sống chính là thông điệp tình yêu mà Thiên Chúa muốn gởi đến cho chúng ta, có hoàn cảnh thuận thì cũng có hoàn cảnh nghịch, và con người ta chỉ thích những gì thuận và có lợi cho mình, cho nên dù có thuộc lòng từng câu từng chữ trong Kinh Thánh thì họ cũng không hiểu được thông điệp mà Thiên Chúa muốn gởi đến cho họ, nên khi thành công thì họ hớn hở vui mừng, và khi thất bại thì oán trách mọi người và đổ lỗi cho Thiên Chúa là không thương yêu họ.
Tại sao người ta mến các nữ tu hơn những người khác, vì chính các nữ tu biết đem Lời Chúa ứng dụng vào trong hoàn cảnh của cuộc sống, dù hoàn cảnh thuận hay nghịch, các nữ tu vẫn luôn giữ được thái độ điềm đạm, vui tươi, yêu thương, đó chính là hiệu quả của việc luôn luôn suy niệm Lời Chúa, và nhìn thấy ý Ngài qua cuộc sống của mình. Thời nay có nhiều nữ tu mà thời gian ở ngoài nhiều hơn ở trong tu viện, vì nhu cầu học hành, làm việc và truyền giáo, đó chính là hoàn cảnh và qua hoàn cảnh này, mà người ta nhận ra được “khuôn mặt” thật của người nữ tu bên trong bốn bức tường tu viện -hay nói cách khác- nhận biết được tôn chỉ và mục đích của đời sống tận hiện của các nữ tu hơn, qua việc chấp nhận thánh ý của Thiên Chúa nơi mỗi nữ tu...
Suy tư Lời Chúa qua ý bề trên.
Tưởng cùng nên nhắc lại: bề trên hợp pháp của mỗi hội dòng là do toàn thể thành viên trong dòng bỏ phiếu chọn ra với sự tự nguyện dưới sự chủ tọa của giám mục địa phận, cho nên khi vâng lời bề trên thì không phải vâng lời cá nhân của bề trên mà vâng lời tiếng nói chung của toàn thể hội dòng, khi mệnh lệnh của bề trên đã được ban cố vấn đồng ý và nhân danh hội dòng để ban lệnh (1).
Thánh Phaolô tông đồ đã dạy rằng: “Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác”Pl 2, 4), nhưng tìm thấy lợi ích cho người khác thế nào được, khi mà có những phần tử trong cộng đoàn Phi-lip-phê rao giảng Tin Mừng vì tranh chấp ganh tị (Pl 1, 15), cho nên ngài đã đưa ra một bằng chứng hùng hồn bằng sự khiêm hạ của Chúa Giêsu khi Ngài vâng lời Chúa Cha:
“Đức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa
Mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nổi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự”.(Pl 2, 6-8),
Nếu Chúa Giêsu không liên lĩ kết hợp với Chúa Cha, thì Ngài không thể thực hiện ý của Cha trên trời; nếu Chúa Giêsu không thâu đêm chuyện trò với Chúa Cha, thì Ngài sẽ không bằng lòng chịu chết trên thập giá, dù cho cái chết ấy sẽ đem lại lợi ích cho nhiều người, nhưng Ngài vâng phục ý Chúa Cha để chúng ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi (Cl 1, 14).
Việc thường xuyên suy niệm Lời Chúa sẽ làm cho các nữ tu nhận ra thánh ý của Thiên Chúa qua bề trên của mình, dù ý ấy -đôi lúc- như lưỡi dao đâm xé trái tim của mình, hoặc là khiến cho kế hoạch mà mình đang xây dựng cho cộng đoàn nơi mình phục vụ bị ngưng trệ. Chính trong những hoàn cảnh như thế, nhờ Lời Chúa soi sáng, mà các nữ tu hân hoan được biết mình đang trở nên của lễ tận hiến cho Thiên Chúa để nhiều chương trình của hội dòng được phát triển, và nhiều chị em khác trong hội dòng nhờ sự hy sinh của mình mà học được những bài học quý giá cho bản thân, chị thánh Têrêxa Hài Đồng đã làm như thế khi chị thánh tuyệt đối nghe lời mẹ bề trên dù bề trên luôn cứng rắn và không tỏ ra thông cảm với chị thánh (2).
Có những bề trên khắc khe cứng rắn, có những bề trên hiền từ, có những bề trên thông minh khôn ngoan, nhưng dù các bề trên thuộc loại nào thì các nữ tu cũng phải cảm tạ Thiên Chúa đã dùng các bề trên để cho các chị biết thánh ý của Ngài. Chúng ta có thể ví nôm na như thế này: ý của bề trên hợp pháp chính là ổ khóa vạn năng, mà chìa khóa để tra vào ổ khóa ấy chính là cách thấm nhuần suy tư Lời Chúa của các nữ tu, càng hiểu càng yêu mến, càng thực hành Lời Chúa thì các nữ tu càng cảm thấy “ổ khóa vạn năng” ấy sao dễ mở, và khi mở được rồi thì các nữ tu thấy đời tận hiến của mình có rất nhiều ý nghĩa và rất hạnh phúc, vì đã dâng mình cho Thiên Chúa qua hội dòng mà mình đã chọn.
Không ai hằng yêu mến và luôn thực hành Lời Chúa, mà không có tâm hồn khiêm hạ trong việc phục tùng bề trên hợp pháp của mình.
Gẫm suy Lời Chúa qua các chị em.
Mỗi nữ tu là một bông hoa đẹp nhất dâng hiến cho Thiên Chúa, chính Ngài khi tạo dựng bà Eva, thì đồng thời Ngài cũng biết rõ những nữ tính nơi họ, và với tâm tình của người Cha trên trời, Ngài hằng luôn thương yêu và mời họ nên thánh trong đời sống tận hiến, và qua đời sống tận hiến này, do sự mời gọi và tuyển chọn của Chúa Giêsu, Ngài đã muốn các nữ tu trở nên những chứng nhân anh hùng thực hiện lời của Ngài giữa xã hội qua mọi thòi đại.
Người ta nói đùa rằng: nơi nào có hai phụ nữ cộng thêm một con vịt nữa là nơi ấy trở thành cái chợ, xét cho cùng, cũng không sai lắm đâu; nhưng chúng ta có thể tự hào rằng, ở đâu có hai ba nữ tu thì ở đó biến thành một cộng đoàn phục vụ và truyền giáo, mà quả thật như thế, hiện nay không phải các nữ tu cứ ba hoặc bốn người ở chung với nhau là thành một cộng đoàn nhỏ hay sao ? Tại sao các nữ tu lại làm được chuyện ấy mà những phụ nữ khác không làm được, là bởi vì các nữ tu biết im lặng để suy tư và biết thinh lặng để lắng nghe lời của Thiên Chúa qua đời sống cộng đoàn của mình.
Dù là mang thân phận người phụ nữ bởi dòng máu Eva, nhưng Mẹ Maria vẫn được Thiên Chúa tuyển chọn và gìn giữ để làm mẹ của Chúa Giêsu -Đấng cứu chuộc trần gian- thì các nữ tu cũng có thể tự hào rằng, cả nhân loại -từ thuở tạo thiên lập địa cho đến tận thế- chỉ một mình Đức Mẹ Maria là được Thiên Chúa tuyển chọn để nói với Thiên Chúa trong sự “im lặng” của mình, và nơi cung lòng Mẹ biến thành thiên đàng của trời cao để cho nhân loại -qua Mẹ- thấy được Thiên Chúa làm người là Chúa Giêsu Kitô. Các nữ tu cũng vậy, tuy là người nữ nhưng trong chương trình “sau Phục Sinh” để tiếp tục ơn cứu độ của Ngài, cũng có “chỗ” cho các chị em để làm công việc rao giảng Tin Mừng cứu độ ấy bằng chính đời sống thánh hiến của mình.
Tuy nhiên, ngọc cần phải giũa phải mài mới sắc sảo và đẹp ra, các nữ tu cũng cần phải được Thiên Chúa gọt giũa bằng thử thách, bằng hy sinh và bằng ân sủng của Ngài thì mới trở thành viên ngọc cực đẹp cho Ngài và cho đời.
Gọt giũa đau nhất nhưng công hiệu nhất mà Thiên Chúa dùng để thử thách các con cái ưu tú của Ngài chính là đời sống cộng đoàn, chính những va chạm trong đời sống cộng đoàn này làm cho tâm hồn các nữ tu sáng và đẹp ra hơn cả viên ngọc, chính những va chạm giữa các chị em mà Thiên Chúa ban nhiều hồng ân xuống cho những ai biết nhận ra thánh ý của Ngài. Nhưng không phải ai cũng biết nhận ra thánh ý của Thiên Chúa qua sự va chạm giữa các chị em với nhau, nếu các nữ tu không có một “trình độ” hiểu biết và thường xuyên suy tư lời của Ngài.
Cộng đoàn -dù lớn dù nhỏ- thì cũng là một phần tử của nhà dòng mẹ, hay nói cách khác, là một “tiền đồn” truyền giáo của đại bản doanh là nhà mẹ ở cách xa hàng trăm hàng ngàn dặm, cho nên không phải vì thế mà các nữ tu nghĩ rằng chuyện va chạm giữa chị em sẽ không xảy ra ! Chính vì nghĩ như thế mà ma quỷ lợi dụng cái cộng đoàn -tiền đồn cỏn con- ấy để tấn công bằng những lý do rất chính đáng như: bận học thêm, bận phục vụ bệnh nhân, bận thực tập, bận trực ca.v.v...để làm cho các nữ tu lơ là trong việc tuân giữ các giờ kinh, các giờ nguyện ngắm chung với các chị em khác...
Nhưng cái quan trọng hơn chính là những va chạm với chị em, dù là cộng đoàn nhỏ, nhưng là một cộng đoàn với những con người với những cá tính khác nhau; dù là cộng đoàn nhỏ, nhưng kinh nghiệm tu đức và kinh nghiệm sống không giống nhau; dù là cộng đoàn nhỏ, nhưng sự giáo dục và ảnh hưởng gia đình không giống nhau, cho nên rất dễ dàng va chạm nhau trong đời sống cộng đoàn, sự va chạm này ít người biết khi ở trong một cộng đoàn lớn, nhưng nó sẽ nổi bật và lấy làm khó chịu khi ở trong một cộng đoàn nhỏ, do đó, nếu không thật thấm nhuần Lời Chúa thì không thể chịu đựng lẫn nhau, nếu không luôn suy tư Lời Chúa thì không thể tiếp tục ơn gọi tận hiến của mình được.
Va chạm với nhau trong đời sống cộng đoàn chính là dịp đễ các nữ tu cảm nghiệm được Thiên Chúa vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống của mình, khi một chị em không thích mình, kèn cựa với mình chỉ vì mình được mọi người thương mến, đôi lúc làm cho mình khó chịu và cảm thấy người chị em ấy quả không đáng thân thiện, và ma quỷ sẽ thôi thúc làm cho mình cảm thấy chị em ấy ngày càng đáng ghét hơn. Nhưng nếu là một nữ tu luôn lấy Lời Chúa làm mẫu mực của việc làm, thì họ sẽ biết nhìn thấy ý Thiên Chúa trong trường hợp đáng tiếc ấy, điều trước tiên mà họ thấy là người nữ tu không thích mình ấy thật đáng thương hơn là đáng ghét, đáng kề cận hơn là xa cách, cho nên cần phải tha thứ và đánh tan những ý nghĩ ghét ghen nới người chị em ấy, bằng sự phục vụ và lòng yêu mến chân tình của mình...
Lời Chúa như là đèn soi làm cho các nữ tu nhìn rõ chân giá trị của sự va chạm, chính là Thiên Chúa đang thử thách mình qua các chị em trong cộng đoàn, bởi vì việc tu đức và đường nên thánh không phải trên giáo án của các vị linh hướng, nhưng trong chính cuộc sống thực hành Lời Chúa của mỗi người, mà mỗi một người chị em trong hội dòng chính là những công cụ gọt giũa, để cho mình ngày càng hoàn thiện hơn trong đời sống tận hiến. Nếu không có ơn của Thiên Chúa giúp đỡ, nếu không được Lời Chúa hướng dẫn thì không một cộng đoàn tu hội nào tồn tại, đó là sự thật, bởi vì cộng đoàn tu trì là do Thánh Thần soi sáng và thúc giục những người muốn phụng thờ Thiên Chúa cách tích cực và quãng đại hơn, cho nên họ cần phải được Lời Chúa hướng dẫn, soi sáng và thanh luyện, có như thế các nữ tu mới thật sự là những viên ngọc đẹp nhất được dâng hiến lên Thiên Chúa và tỏa sáng cho mọi người.
(còn tiếp)
------------------------------------
(1) Mời xem “Nữ tu Việt Nam với ơn gọi truyền giáo của thế kỷ 21
(2) Một Tâm Hồn, chương “Khuôn vàng thước ngọc của luật phép nhà”, bản dịch của Kim Thiếu.
jmtaiby@yahoo.com taibytw@hotmail.com
http://www.vietcatholic.net/nhantai