THÁNH GIÁ VINH QUANG
Đứng dưới thập giá, có lẽ thánh Gioan lần đầu mục kích tận mắt cảnh nhục nhã, đau khổ cùng tận của hình khổ thập giá. Có thể đó là lý do thánh nhân không nhập đoàn với các bà đi ra thăm mồ Chúa. Can đảm đứng bên thập giá Chúa trước mặt đối phương, thì Ngài còn sợ gì người Do-thái nữa, nhưng ra thăm mồ để nhớ lại cảnh tang thương của Thầy mình, có lẽ Ngài không muốn.
Nhưng khi được báo tin “mồ trống”, thánh nhân đã vội vàng chạy tới xem, mồ trống đã giúp Ngài biết rằng “Chúa đã sống lại” (Gioan 20,8 : Ngài đã thấy và Ngài đã tin). Đức tin nhờ “trực giác” đó đã giúp thánh nhân nhận ra ngay Thầy hiện ra ven bờ biển Tibêria và báo cho thánh Phêrô biết (Gioan 21, 1-7).
Như vậy, thánh Gioan đã khám phá ra “Chúa phục sinh” mau hơn các Tông đồ khác bằng trực giác bén nhạy hơn là bằng suy luận. Về sau, triền miên trong chiêm niệm, đào sâu mầu nhiệm nầy, thánh nhân đã nhận ra chiều sâu thẳm cuộc khổ nạn và tử nạn của Chúa một phương diện tích cực nhất của mầu nhiệm Chúa chịu chết là phục sinh. Ngài đã lưu ý chúng ta như vậy trong các kiểu nói :
1. GIỜ “CỦA CHÚA”
Tại tiệc cưới Cana, Đức Mẹ ngỏ ý muốn giúp nhà đám khỏi mất mặt với thực khách, vì lạ gì phong tục Do-thái xem “ăn tiệc và nốc rượu” đồng nghĩa với nhau, gọi đi ăn tiệc hay nốc rượu cũng vậy, không có rượu là không có tiệc, nhưng Chúa Giêsu đã trả lời : “Thưa Mẹ, Mẹ với con có hệ gì tới việc đó ? Giờ con chưa đến” (Gioan 2,4). Lời nói của Đức Mẹ “Họ không còn rượu nữa” để mong muốn Chúa can thiệp. Câu trả lời của Chúa “Giờ con chưa đến” như là một thử thách đức tin của Đức Mẹ (vì phép lạ tỏ quyền năng của Chúa Cha qua trung gian Chúa Kitô chỉ ban cho người có đức tin) và hướng các Tông đồ về Giờ Tử Nạn của Ngài. Giờ của Thiên Chúa Cha tỏ quyền năng, vinh quang nơi Ngài.
Khi Giờ đó đến, Ngài tuyên bố : “Giờ đã đến rồi ! Giờ Con Người được vinh hiển” (Gioan 12,23).
Mặt tích cực, Giờ của Chúa là thế, nhưng nhìn sang mặt khác, Chúa cũng ớn lắm : “Lạy Cha, xin cứu con khỏi Giờ này sao ? Nhưng : chính vì thế mà Con đã đến vào Giờ này” (Gioan 12,27).
2. ĐÂY LÀ VUA CÁC NGƯƠI
Sau khi Chúa bị đánh đòn tàn nhẫn, đầu đội mão gai, Philatô điệu Ngài ra giới thiệu cho dân chúng : “Người nầy đâu còn là người nữa” (Ecce homo). Thánh Gioan nhìn thấy Chúa dưới hình dáng đau đớn, thiểu não thê thảm đó một vẻ uy nghi của vị Vua : “Đức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội triều thiên gai, và khoác áo choàng mầu của điều” (Gioan 19,5).
Kết thúc vụ án, thánh nhân càng cảm thấy vẻ uy nghi của Chúa : Philatô nghe được các lời đó thì cho điệu Đức Giêsu ra ngoài, và đặt Ngài ngồi trên tòa ở nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbara. Hôm ấy là ngày dọn lễ Vượt Qua. Vào lối giờ thứ sáu, Philatô nói cùng người Do-thái : “Nầy là Vua các ngươi” (Gioan 19, 13-14).
3. TREO LÊN THẬP GIÁ
Bị đóng đinh trên thập giá, bị treo trên thập giá là hình phạt khổ nhục nhất, nhưng đối với Chúa thì chính là lúc Chúa ban ơn cứu độ cho mọi người tin : “Như Môisen treo con rắn trong sa mạc thì Con Người cũng phải được treo lên như vậy, ngõ hầu kẻ nào tin thì nhờ Ngài mà được sống đời đời” (Gioan 3,14).
Chúa còn hứa sẽ kéo mọi sự lên với Ngài : “Và Ta, một khi được treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta” (Gioan 12,32).
Trên thập giá, trước khi tắt thở, Chúa phán : “Mọi sự đã hoàn tất” (Gioan 19,30) và thánh Gioan thêm : “Đoạn Ngài gục đầu xuống và phó thác Thần khí Ngài” (Gioan 19,30b) tức là Chúa Giêsu tuyên bố Ngài đã hoàn thành sứ mạng cứu độ thế gian (Gioan 3,17) đúng theo Thánh Ý Chúa Cha đã định (Gioan 4,34; 17,4; 18,4) và lập tức Ngài bước vào vinh quang Thiên Chúa (Gioan 12,23; 17,1; 20,17) khai mạc giai đoạn chung cục của lịch sử cứu rỗi là ban Thánh Thần xuống cho nhân loại mới, cho Giáo hội.
Giáo hội phát xuất từ cạnh sườn Chúa bị đâm thâu qua mà thánh Gioan đã thấy và đã ghi lại rõ ràng : “Một người lính cầm đòng đâm thủng cạnh sướn Ngài, và lập tức có máu và nước trào ra. Người xem thấy đã làm chứng, và chứng của người ấy là chứng thật, vì người ấy biết là đã nói thật, ngõ hầu cả anh em cùng tin” (Gioan 19, 34-35). Máu chỉ lễ hy sinh của Đức Kitô, Chiên Thiên Chúa đã dâng để cứu rỗi nhân loại (Gioan 6,51), nước biểu tượng Thánh Thần ban xuống cho nhân loại. Thánh Công Đồng Vatican II mô tả sự phong phú khôn lường từ cạnh sườn Chúa bị đâm thâu : Sự khai nguyên và phát triển của Giáo Hội được biểu thị bằng máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Chúa Giêsu chịu đóng đinh và được tiên báo qua lời Chúa nói về cái chết của Người trên thập giá : “Và Ta, khi bị treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta” (Lumen gentium, đoạn 3).
Như vậy đã rõ, qua con người đau khổ, chịu nhục của Chúa Giêsu về bản tính loài người cách thực sự, chứ không phải giả vờ, đi sâu vào mầu nhiệm Cứu chuộc, thánh Gioan gặp phương diện vinh quang nằm ẩn trong đó, và là nền tảng cơ bản của mặt đau khổ. Không phải qua thánh giá mới đến bến vinh quang, nhưng trong thánh giá đã có vinh quang, triển nở viên mãn sau thánh giá.
Vinh quang ta được hưởng hay nước thiên đàng tức là hạnh phúc sống với Chúa, bằng sức sống của Chúa, hưởng kiến Nhan Thánh Chúa không phải chỉ có thể đến với ta sau chuỗi ngày sống “thập giá” ở trần gian, nhưng nước thiên đàng đã có trong ta ngay ở đời này, và ta đang vui hưởng một phần nào; tới lúc chết, mọi ngăn trở bị tiêu diệt, ta hưởng ngay sự sống của Chúa có sẵn trong ta cách viên mãn, ta hưởng kiến Nhan Chúa.
Đó không phải là lý thuyết. Có lẽ trong thực tế, ta chỉ thấy thập giá và chỉ thập giá, không thấy bóng dáng vinh quang. Ê chề và chỉ ê chề. Nhưng thật ra vinh quang đã có nơi thập giá, vinh quang là nền tảng của thập giá. Chỉ có đức tin mới cho ta thấy được vinh quang trong thập giá, nhưng thập giá lại là phương thế luyện Đức Tin tinh ròng, không có thập giá thì không có Đức Tin tinh ròng ! Thánh Phaolô đã được “nhắc lên tầng trời thứ ba” nghĩa là được hưởng một phần vinh phúc của Chúa trong lúc sinh thời, nhưng Ngài vẫn cảm thấy ê chề, đau khổ do bao nhiêu thử thách trên bước đường truyền giáo của Ngài. Ngài dạy chúng ta hãy để cho thập giá ta thành thành phần bổ túc cho thập giá Chúa. Những gì còn thiếu sót trong cuộc Tử nạn của Chúa, chính là phần của ta phải bổ túc.
Thập giá dành cho Chúa là Thập giá Rôma, là lực lựong tội lỗi của Do Thái, của Philatô, của con người lọai trừ Chúa ra khỏi thế gian; Thập giá dành cho Thánh Phaolô cũng thế, và các chi thể cũng vậy. Còn Thập giá của Chúa Kitô tức là Thánh giá Chúa Kitô là Thánh giá cứu độ, bác ái. Chúa ban ơn tha tội, Chúa làm phép lạ cứu giúp người què quặt, đui mù, bệnh hoạn v.v... nghĩa là kéo toàn diện con người lên khỏi tội lỗi, khỏi đau khổ. Và đến lượt Chúa chúc phúc cho những ai đưa “phép lạ bác ái” của Chúa đến cho mọi người, đặc biệt “phúc cho ai vì Ta đói đã cho ăn, Ta khát đã cho uống, Ta là khách lạ đã tiếp rước, Ta trần truồng đã cho mặc, Ta bệnh tật đã thăm viếng v.v…” (Mt 25, 35-36). Vậy, nếu làm cho người khác đau khổ là tôi đưa Thập giá Rôma đến cho họ, và khi tôi giúp đỡ người ta, an ủi người ta v.v… là tôi đưa Thánh giá Chúa Kitô cho họ.