Đọc Thánh Kinh, nhưng đọc thế nào?

(2)

(tiếp bài trước)

5. Năm tháng khi các bản văn ra đời

Ngoài ra, còn phải biết năm tháng các bản văn được viết ra nữa. Nhưng làm sao biết được ? Chữ viết, lối văn làm cho người thành thạo có thể nhận ra được. Đối với các người thông thạo tiếng híp-ri thì việc đó không đến nỗi quá khó khăn, cũng như bây giờ đọc văn của Nam Phong, Đông Dương tạp chí hay Tự lực văn đoàn, người ta có thể nói được những loại văn đó thuộc thời kỳ nào.

Chúng ta cần phân biệt những điều đã được viết ra vào một thời gian nhất định với những điều từ xa xưa truyền lại trước khi được viết ra, như trường hợp liên quan đến các tổ phụ Ap-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, vì những bản văn được viết ra sau một thời gian truyền khẩu thường vắn hơn và có tính dạy đạo nhiều hơn. Điều này không làm cho sự việc mất tính lịch sử, nhưng chỉ làm cho người ta chú ý đến một thể văn rõ rệt, thí dụ những đoạn đầu trong sách Sáng thế. Việc xác định những bản văn đó đã được viết ra là điều rất quan trọng để giúp cho sự hiểu biết. Đoạn I viết trong thời lưu đày, đoạn II viết trong thời tiếp liền thời vua Đa-vít. Việc sắp đặt năm tháng cho những bản văn đó có ảnh hưởng lớn lao xét về phương diện thần học. Chúng giúp chúng ta hiểu những đoạn ấy chú trọng đến ý nghĩa thần học hơn lịch sử. Vấn đề cốt yếu ở đây là sự suy tư thần học của một dân tộc đã sống một phần lịch sử của mình và đã bị thử thách trong giai đoạn đó, một sự suy tư dựa trên những truyền khẩu xa xưa liên quan đến nguồn gốc thế gian và loài người. Nhưng cái nhìn khôn ngoan được dùng làm nền tảng cho sự suy tư thần học đó dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, chỉ có được sau một thời gian kinh nghiệm. Chính qua lịch sử của họ, một lịch sử thường được Thiên Chúa hướng dẫn, chở che mà dân Do thái dần dà ý thức được sự siêu việt của Thiên Chúa, Đấng hướng dẫn, giải thoát họ và do đấy hiểu được ý nghĩa toàn bộ của định mệnh con người. Nền thần học của những người hiền trong dân Do thái đã được linh hứng, chính là nhờ việc nghiên cứu lịch sử của họ.

6. Thể văn

Khi đọc Kinh thánh, cần lưu ý đến tác giả, năm tháng xẩy ra biến cố và thời gian những bản văn đó đã được viết ra. Ngoài ra, cũng cần phải biết những bản văn đó được viết theo thể loại nào.

Chúng ta cứ việc mở một tờ báo hàng ngày ra đọc rồi phân tích cũng đủ thấy trong đó có nhiều thể loại và lối văn. Bên cạnh những bài bình luận về thời cuộc bày tỏ lập trường, quan điểm chính trị, chúng ta thấy những hàng tít lớn đưa những tin quan trọng hay những biến cố xẩy ra trên thế giới. Lại có những trang bên trong đăng quảng cáo, rao vặt, tiểu thuyết kiếm hiệp hay phóng sự v.v… Tất nhiên, chúng ta không đọc các loại bài đó như nhau. Trong Kinh thánh cũng vậy, có nhiều loại văn khác nhau. Linh hứng tôn trọng cả bản ngã của văn sĩ lẫn lối hành văn của ông. Vì vậy, khi đọc Kinh thánh cần phải biết mình đang đọc loại văn nào đây. Trong Kinh thánh, có những chuyện đích thật, nhưng có những loại chỉ nhằm mục đích khuyến thiện mà không chú ý nhiều đến tính lịch sử của câu chuyện, thí dụ chuyện cậu Tô-bi-a và cô Xa-ra, chuyện ông Gio-na. Lại cũng có những bài thi ca, nhưng câu cách ngôn ngạn ngữ, những lời triết ngôn thần bí v.v… Ngay cả khi kể những chuyện đích thật như chuyện tổ phụ Ap-ra-ham, chuyện ông Mô-sê, chúng ta nên nhớ rằng tác giả không thuật lại với tất cả vẻ nghiêm chỉnh, chính xác mà khoa học ngày nay đòi hỏi, vì đó chỉ là một chuyện gia đình được người viết làm nổi bật những đoạn chính yếu và nhất là để đề cao ý nghĩa tôn giáo mà thôi. Ngay cả người Do thái, dù rất bận tâm đến việc làm cho nổi bật sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa cũng quên ghi chú rằng Người cũng chỉ dùng những hoàn cảnh tự nhiên, không xô đẩy trật tự thiên nhiên, nhưng những hoàn cảnh ấy lại xẩy ra rất thuận hợp và qui hướng lạ lùng. Thí dụ trường hợp sau đây minh chứng điều đó;

Kinh thánh kể rằng thời xứ Xa-ma-ri thất thế. đạo quân của Xan-na-kê-rít, vua xứ Xi-ri vây thành Giê-ru-sa-lem. Thành phố này sắp mất đến nơi, vì viện binh Ai-cập không thấy đến. Dân chúng liền đem lòng sốt sắng cầu xin Chúa của cha ông họ. Và bỗng nhiên bàn tay quan phòng của Đức Chúa tỏ ra rất lạ lùng. Kinh thánh thuật lại một buổi sáng kia, thiên sứ của Người đi qua, làm cho một phần đạo quân đối phương chết, còn bao nhiêu thì sợ hãi chạy tán loạn. Nhưng thực sự, cái gì đã xẩy ra. Một đoạn văn của sử gia Hérodote (Hê-ro-đót) thuật lại cùng một biến cố đó, nhưng theo quan điểm hoàn toàn thế tục. Theo ông, đạo quân của vua Xen-na-kê-rít bấy giờ đang vây thành Giê-ru-sa-lem thì bỗng nhiên chuột ở đâu đổ đến xung kích, gây ra một trận dịch kinh khủng, giết hại quân lính và làm cho họ sợ hãi chạy tứ tán.

Kinh thánh kể lại mà chỉ làm nổi bật ý nghĩa tôn giáo, đề cao sự can thiệp thần thánh của Đức Chúa mà bỏ qua không nói Người dùng phương thế tự nhiên nào để đạt tới mục đích.

Về các vết thương của Ai-cập và cuộc vượt qua Biển đỏ cũng thế, chúng ta có thể nói như trên. Không cần phải nói rằng mỗi lần Thiên Chúa đảo lộn trật tự thiên nhiên để can thiệp vào lịch sử của loài người. Thường thường Người dùng những biến cố tự nhiên chúng ta không ngờ tới, nhưng am hợp với dự định quan phòng của Người để làm hiệu cho ta. Nhưng với những ai có lòng tin thì vẫn nhìn thấy trong những biến cố đó có đủ ánh sáng soi dẫn cho họ.

Tất cả những điều trên đây đều muốn nhắn bảo chúng ta rằng việc đọc sách thánh đòi ta không được coi thường phần soạn thảo của con người và phần linh hứng của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nhớ nguyên tắc này : Kinh thánh là một cuốn sách vừa do Thiên Chúa vừa do con người viết chung. Tuy vậy cũng không được nói rằng phần tư tưởng là của Thiên Chúa, phần văn thể là của con người. Kinh thánh là của Thiên Chúa và của con người dưới hai góc cạnh đó.

Phần của Thiên Chúa hiện tỏ trong sự thâm thúy, cao siêu, thánh thiện hữu hiệu; phần của con người ở chỗ có giới hạn, khuyết điểm mà hoạt động của Chúa Thánh Thần còn để rơi rớt lại trong tâm trí và ngôn ngữ của tác giả trần gian. Nếu trong văn bản, Kinh thánh chỉ là lời Chúa mặc khải thuần túy thì đó chỉ là bản kê khai những chân lý tuyệt đối mà mỗi câu đều là do Thiên Chúa chuyển đạt đến cho con người như một dụng cụ không đáng kể và quá ư thụ động. Nhưng nếu xét về văn bản thì Kinh thánh không phải chỉ là mặc khải thuần túy mà là do linh hứng; như thế người ta sẽ hiểu rõ hơn góc cạnh nhân loại với những giới hạn thiếu sót khuyết điểm trong ngôn ngữ và tư tưởng của tác giả. Cũng như chúng ta nói rằng Ngôi Hai đã mặc lấy xác phàm nhân, chịu mọi khổ sở bất toàn của thân xác đó chỉ trừ tội lỗi thì Kinh thánh, sứ điệp của Thiên Chúa thể hiện trong một hình thức nhân loại, với tư tưởng và cách diễn tả của loài người chứa đầy khuyết điểm, nhưng không sai lầm trong phạm vi nội dung sứ điệp.

Đó là thái độ phê bình và nhận định của chúng ta khi đọc sách Kinh thánh, nghĩa là cố gắng tìm hiểu thân thế, thời đại các tác giả sống và viết. Những môi trường trí thức và nhân bản của các ông giúp ta có thể hiểu các ông muốn nói gì trong thể văn này hay loại văn kia.

7. Đọc với tinh thần đức tin

Cố gắng đầu tiên của chúng ta là đọc với tinh thần phê phán và nhận định để tìm hiểu. Cố gắng thứ hai là đọc với tinh thần đức tin. Kinh thánh là lời của Thiên Chúa. Qua những chữ viết của con người, chính là Thiên Chúa nói. Khi Thiên Chúa nói, chúng ta nghe không nguyên bằng trí hiểu mà còn bằng đức tin nữa.

7,1 Một thái độ tin

Chỉ đức tin mới có thể đón nhận và hiểu cái gì là thần thánh trong lời Thiên Chúa truyền lại cho chúng ta, vì trí khôn loài người chỉ hợp với ánh sáng của thế gian, còn khi nói về ánh sáng của Thiên Chúa thì trí khôn loài người chỉ việc chờ đợi nơi Đấng đề nghị, để Người mở rộng tầm nhìn cho mình đón nhận ánh sáng thiêng liêng. Nếu đức tin trọng kính sự tự do đón nhận của con người thì đức tin đó cũng là một ân huệ của Thiên Chúa làm cho trí khôn chúng ta chịu nhận ánh sáng của Người.

Trong việc đức tin xuất hiện, lời Thiên Chúa giữ một vai trò tối ư quan trọng. Thường nhờ những dịp chúng ta đọc hay nghe lời Người mà đức tin nảy nở trong lòng. Thí dụ chương 6 trong Tin Mừng thánh Gio-an, sau khi làm cho bánh ra nhiều, Đức Giê-su lại nói đến một thứ bánh khác. Những lời này bỗng nhiên trở nên xa lạ, khó hiểu đối với dân chúng đang nghe Người lúc đó. Tuy vậy, Người vẫn không thay đổi ngôn ngữ khi tiếp tục nói : “Thật, tôi bảo thật các ông, nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi là thật của ăn và máu tôi thật là của uống.” (Ga 6, 53-55)

Thật là những lời lạ lùng, nghe thấy chói tai. Nhưng Đức Giê-su không nói đến cơm bánh trần gian mà có ý qui hướng người nghe về hồng ân Người sẽ ban cho nhân loại trong bữa Tiệc ly và trên cây Thập tự sau này. Muốn hiểu mầu nhiệm này, ngoài sự suy luận ra còn phải có một cái gì khác nữa. Chính ở đây đức tin phải can thiệp vào và cũng chính ở đây người tin và không tin được phân loại vì những lời chói tai, khó hiểu và tối ư kỳ cục này.

7,2 Đón nhận Tin Mừng

Ngoài việc làm cho chúng ta bám chặt vào lời Chúa, đức tin lại còn là một tin mừng dạy cho chúng ta biết mình là ai, bởi đâu mà đến rồi đi về đâu, vì Đức Giê-su đến để nói cho chúng ta biết chúng ta là con Thiên Chúa, được dựng nên giống hình ảnh Người.

Chính trong ánh sáng đức tin này mà toàn bộ Kinh thánh xuất hiện dưới mắt chúng ta với tất cả sự liên lạc chặt chẽ. Cựu Ước dọn đường cho Tân Ước, Tân Ước mang lại cho chúng ta tất cả sứ điệp trọn hảo về việc Thiên Chúa muốn cứu chuộc loài người và dành cho nó một số phận tốt đẹp cao quí trong Nước của Người. Từ nay chúng ta phải đọc Tân Ước đối chiếu với Cựu Ước. Việc tổ phụ Ap-ra-ham hiến tế con mình là I-xa-ác cho Thiên Chúa báo trước việc Đức Giê-su, Con Một Thiên Chúa hiến mình trên thập giá để cứu chuộc loài người. Ông Mô-sê giải thoát đồng bào khỏi ách nô lệ Ai-cập là hình ảnh Đức Ki-tô giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Ong Gio-suê vượt qua sông Gio-đan đưa dân vào Đất hứa là hình ảnh tiên báo Đức Giê-su chịu phép rửa và dùng phép ấy để dưa chúng ta vào đất hứa mới là thế giới ân sủng, vì tất cả Cựu Ước đều qui hướng về Đức Ki-tô như Tin Mừng theo thánh Lu-ca viết : “Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.” (Lc 24.27).

Phải đọc Kinh thánh trong viễn tượng đó, nghĩa là với cái nhìn của đức tin và ngoài nghĩa đen còn phải hiểu theo nghĩa bóng, tức là điều tác giả muốn nói với chúng ta. Như vậy mới có nghĩa lý và khỏi nhàm chán. Nói chung, Kinh thánh chú trọng đến tầm mức thần học và đạo đức hơn những gì khác.

7,3 Một lịch sử có liên hệ với chúng ta

Lịch sử dân Do thái tuy xa vời nhưng đối với chúng ta vẫn có tính hiện tại. Câu Thiên Chúa nói với tổ phụ Ap-ra-ham vẫn là câu Người còn nói với chúng ta bây giờ : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi.” (St 12,1)

Sau này Đức Giê-su cũng nói như thế : “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” (Mt 5,1) Lúc nào chúng ta cũng phải bỏ nhà, nghĩa là bỏ lòng ích kỷ, tính thích an hưởng để trở thành những tín hữu đích thật của Chúa. Cử chỉ bất trung và thái độ phản nghịch của dân Do thái đối với Thiên Chúa phải chăng cũng là cử chỉ và thái độ của chúng ta đối với Người khi chúng ta không nghe tiếng gọi của Người mà trở nên độc lập, khinh thường luật Chúa. Lòng nhẫn nại hay tha thứ của Thiên Chúa đối với dân Do thái chẳng phải là phản ánh tình thương của Người đối với chúng ta trong toà giải tội hay sao ? Nhìn dân Do thái sống trong tình trạng khó lòng chấp nhận sự tùy thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, chúng ta sẽ học tập kinh nghiệm của họ để trở nên mềm mại dễ uốn nắn trước mặt Người hơn. Lịch sử của dân Do thái có thể là bài học cho chúng ta trong hành trình đi về với Thiên Chúa, lịch sử từ những phản bội, bất trung đi tới tín nghĩa ân tình.

Thánh Gia-cô-bê nói lời Chúa là tấm gương : “Thật vậy, ai lắng nghe lời Chúa mà không thực hành thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình.” (Gv 1, 23). Khi soi gương, người ta không soi gương đâu mà soi mình trong đó. Vậy, chúng ta thử soi mình trong tấm gương đó xem sao, không phải để khen phục mình cho bằng nhìn theo đó mà sửa mình, vì như Kierkegaard (Kiết-kê-gô) nói : “Thoạt khi mở sách này ra thì nó liền tra hỏi chúng ta. Chúa nói với tôi, Người nói về tôi. Không có cách nào thoát khỏi ánh sáng chói chang của Người.”

Vì thế, thường những ai không muốn bị quấy rầy hay bị tra hỏi về cách ăn nết ở của mình thì không đọc sách thánh. Còn những ai không sợ bị quấy rầy, không ngần ngại đón nhận lời Chúa như môt tiếng gọi vang tới tận trái tim, thì đắm mình trong lời Người và lấy đó làm thức ăn nuôi dưỡng và sức mạnh trên đường mình đi. Chỉ những ai có kinh nghiệm mới khao khát mến yêu lời này như thi hào Paul Claudel nói : “Thật vĩ đại việc Thiên Chúa nói rõ ràng với loài người và lời Người đã được ghi trong một cuốn sách để lại cho mọi thế hệ. Lời này chúng ta không thể rảo qua bằng mắt hay nói sơ qua ngoài miệng mà phải bám chặt, ở trong đó và thấm nhiễm lấy, không phải vì tò mò mà do lòng sốt sắng. Phải sống với lời đó và lưu trữ nó trong mình, thức ngủ với nó và xác tín rằng đó là bánh và chỉ duy bánh đó là ta đói.”

Thành ra đối với người này thì Kinh thánh là một cuốn sách kỳ cục, đối với người kia có lòng tin thì lại là ánh sáng và thức ăn nuôi dưỡng.

7,4 Phải cầu nguyện mới mong hiểu nổi

Ngay từ đầu trước khi đọc Kinh thánh, chúng ta cần phải đặt mình trong một tình trạng và một xu hướng thiêng liêng, nghĩa là bắt đầu bằng việc cầu nguyện. Thái độ cầu nguyện chỉ là bước đường khai mào cho việc cầu nguyện sâu sắc hơn trong giai đoạn tới, vì càng đắm chìm trong Sách thánh, người ta càng được thôi thúc phải cầu nguyện và học tập để cầu nguyện tốt hơn. Tư tưởng về Chúa ở đây luôn luôn phảng phất và nghĩ về Chúa theo một nghĩa nào đó đã là cầu nguyện rồi. Hơn nữa, trong Sách thánh có những lời cầu nguyện tuyệt hảo như của tổ phụ Ap-ra-ham cầu nguyện cho thành Xơ-đôm, ông Mô-sê can thiệp cho dân, bà An-na cầu nguyện cho con là Sa-mu-ên, hay của vua Đa-vít sau khi biết mình được Chúa chọn, của vua Sa-lô-môn trong ngày cung hiến đền thờ, của cậu Tô-bi-a, của bà Giu-đi-tha v.v… Trong Tân Ước thì có lời cầu nguyện của ông Da-ca-ri-a chúc tụng (Benedictus), của Đức Mẹ Ma-ri-a ngợi khen Đức Chúa (Magnificat) và cuối cùng của Đức Giê-su trong kinh Lạy Cha.

Không những trong Sách thánh có những lời cầu xin tuyệt đẹp mà còn thấy lan tràn một không khí cầu nguyện liên lỉ, đến nỗi khi đọc Kinh thánh, nếu ngay từ đầu chúng ta đã có thái độ sẵn sàng, thì sau đó dần dà chúng ta sẽ tạo được một tâm hồn quen cầu nguyện. Nhiều người vẫn bảo mình không cầu nguyện được, không có thời giờ hay không biết cách cầu nguyện. Vậy thử đọc Kinh thánh xem thế nào. Hãy đọc như đọc một cuốn chuyện có liên quan đến chúng ta; hãy biến những cơn lo lắng, sự đợi chờ, những nỗi vui mừng phấn khởi trong chuyện thánh thành của mình rồi dần dần chúng ta sẽ biết cầu nguyện. Không khí đạo đức của Kinh thánh sẽ thấm vào chúng ta, sẽ linh hứng và hướng dẫn chúng ta cầu nguyện. Phải chăng vì vậy Hội thánh đã lấy Kinh thánh làm sách cầu nguyện hằng ngày của mình ?

Cuối cùng chúng ta cũng tìm thấy trong sách thánh những lời cầu nguyện có thể được chia làm ba loại :

7,3,1 cầu nguyện như một người nghèo

Phải cầu nguyện như một người nghèo đáng thương, nghĩa là ý thức sự yếu đuối và nghèo nàn của mình trước mặt Chúa.

7,3,2 Cầu nguyện không biết mệt mỏi chán nản (đọc dụ ngôn người bạn bị quấy rầy).

7,3,3 Cầu nguyện nhân danh Chúa Giê-su

Phải cầu nguyện nhân danh Chúa Giê-su như Người dạy : “Nếu anh em nhân danh Thày mà xin Thày điều gì thì chính Thày sẽ làm điều đó.” (Ga 14,14)

Như thế, Kinh thánh và lời cầu nguyện gặp nhau và quyện lấy nhau. Muốn đọc Sách thánh phải cầu nguyện và muốn học cầu nguyện, phải đọc Sách thánh.

8. Mối bận tâm dấn thân

Cùng với thái độ cầu nguyện, một thái độ nữa cũng cần thiết, đó làsự dấn thân. Ta càng mau mắn thực hành điều Sách thánh đòi hỏi về công lý hòa bình thì càng mau hiểu sự cần thiết phải có thái độ này. Sách thánh không phải là sách người ta ngồi ghế bành mà đọc cũng không phải sách đọc xong là thôi, không còn liên hệ gì nữa. Trong Sách này, cuộc đời của mỗi người thường được luôn luôn đối chiếu và nhắc nhở. Vì thế, những người đọc vì tò mò không thể hiểu nổi Sách thánh. Ngược lại, những tấm lòng đơn sơ đã thực hành những mệnh lệnh của Tin Mừng trước khi đọc thì bao giờ cũng nhận ra chân lý và giá trị của Sách thánh, khi tìm thấy trong đó những đoạn văn nâng đỡ họ.

9. Đọc với Hội thánh và trong Hội thánh

Ngoài ra lại còn phải đọc với Hội thánh và trong Hội thánh nữa. Thời gian đặc biệt để đọc Sách thánh, đó là lúc cử hành phụng vụ, nhất là trong thánh lễ khi đọc các bài đọc. Nếu biết quí yêu và sử dụng phụng vụ cho đích đáng thì đó là một phương pháp rất tốt để đưa chúng ta vào thế giới đạo đức của Kinh thánh.

10. Theo con đường nào ?

Đọc Kinh thánh, hay lắm. Chắc hẳn có người sẽ bảo như vậy, sau khi nghe nói về sự cần thiết và bổ ích của việc đọc Kinh thánh. Nhưng đọc thế nào và phải theo con đường nào để giúp cho việc đó được dễ dàng và có hiệu quả. Thực ra khó lòng chỉ định một con đường chung thích hợp cho mọi người được. Có điều đối với phần đông, nên bắt đầu bằng đọc Tân Ước, vì tương đối dễ hiểu và dễ lãnh hội hơn. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với lời Chúa rồi thì mỗi người sớm muộn sẽ tìm thấy con đường thích hợp cho mình. Một người thiên về sinh hoạt trí thức có khi sẽ thấy thích sách Châm ngôn hoặc sách Khôn ngoan hơn. Một người gặp nhiều đau khổ có khi dễ cảm kích và tìm được an ủi trong sách ông Gióp. Một thi sĩ sẽ cảm kích hơn khi đọc thánh vịnh. Một người tội lỗi sẽ dễ bồi hồi xúc động khi đọc đoạn văn nói về người con “hoang đàng” hay nghe ngôn sứ Hô-sê nói về lòng từ bi khoan hồng của Thiên Chúa.

Kinh thánh không phải là một cuốn sách mà có khi phải nói là cả một tủ sách, vì trong đó có 73 cuốn vừa giống nhau lại vừa khác nhau. Quả thật như thánh Phao-lô viết là Thiên Chúa đã nói với chúng ta nhiều lần nhiều cách. Người đã tỏ cho chúng ta cũng một lòng yêu thương của Người, nhưng bằng nhiều cách. Mỗi người tùy theo cảm tính có thể tìm thấy điều thích hợp riêng, nhờ đó khám phá ra toàn bộ sứ điệp của Thiên Chúa.

Kết luận

Nói cho cùng, phải đọc Kinh thánh cách bình thản, không thiên kiến, có phê bình nhận định, tìm hiểu và nhất là đọc với niềm tin, vì đó là lời Chúa được đặt làm căn bản cho đức tin của chúng ta. Tất nhiên mới đầu ai cũng thấy là khó và ngại, nhưng nếu nhẫn nại thì cùng với ơn Chúa Thánh Thần, trước sau rồi chúng ta cũng sẽ nếm cảm được ý vị và ơn ích của sự tiếp xúc với lời Chúa.