ĐỌC KINH THÁNH NHƯNG ĐỌC THẾ NÀO?



Năm nay Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chọn làm Năm Lời Chúa. Năm Lời Chúa chắc hẳn sẽ là năm nói nhiều đến Lời Chúa, cổ động và khuyến khích việc học hỏi, lắng nghe và đọc Lời Người. Cũng may là gần đây Lời Chúa trong Kinh thánh được phổ biến rộng rãi bằng tiếng bản quốc, trong những cuốn sách to nhỏ dưới nhiều hình thức khác nhau.

Nhưng đó mới là sách, còn đọc hay không lại là chuyện khác. Vì vậy, nhân dịp tạp chí Chia sẻ mở đầu năm nay bằng một số báo bàn riêng về Lời Chúa, người viết xin có mấy ý kiến dưới đây về việc đọc Kinh thánh, nhưng đọc thế nào, để góp phần vào nỗ lực chung của Hội thánh trên quê hương chúng ta về một công việc hết sức hệ trọng này.

1. Vậy phải đọc Kinh thánh thế nào ?



1. Gỡ bỏ một số định kiến

Trước hết phải gỡ bỏ một số định kiến chung quanh việc đọc các sách Kinh thánh như :

1.1 Đọc Kinh thánh là một sáng kiến mới

Nhiều người cho rằng đọc Kinh thánh là một sáng kiến mới. Trước đây, chẳng những Hội thánh không khuyên đọc mà lại còn giới hạn nữa. Thực ra, Hội thánh không bao giờ giới hạn hay cấm đọc một số sách trong đó, mà chỉ đưa ra những điều kiện phải có để đọc cho hữu hiệu mà thôi. Hội thánh không muốn Kinh thánh được nghiên cứu và học hỏi ngoài khung cảnh sống là chính Hội thánh, nơi truyền thông cách liên tục và linh động kinh nghiệm về Lời Chúa từ thời các thánh Tông đồ tới nay.

Hội thánh cũng không muốn trao sách thánh vào tay giáo dân mà không hướng dẫn. Hội thánh muốn tín hữu liên hệ với lối giải thích theo truyền thống như do một nguồn suối từ xa xưa để lại.

Thật thế, Lời Chúa là một kho tàng quí giá không nên để cho mỗi người tự ý lãnh hội và giải thích mà không được kiểm soát và hướng dẫn.

1.2 Kinh thánh là chuyện thánh, chuyện cho trẻ con

Nói đến Kinh thánh với người lớn tuổi, thường người ta nhớ lại những chuyện trong sách Sấm truyền cũ. Hồi ấy, Kinh thánh chưa được dich sang tiếng bản quốc và phổ biến rộng rãi. Thường là mấy cuốn sách kể các tích chuyện trong Kinh thánh được trình bày với những tranh vẽ ngây ngô nhưng hấp dẫn. Vì vậy, người ta mới đồng hóa những chuyện này với các sách chuyện dành cho trẻ con, như các sách vẽ tranh hoạt hình của Walt Disney dành cho thiếu nhi bây giờ. Nhưng sách thánh không chỉ kể những tích chuyện mà đàng sau còn có ý nghĩa nữa. Đó mới là điều quan trọng vì những chuyện ấy bày tỏ cho chúng ta ý định của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ của Người.

1.3 Đọc Kinh thánh có lợi gì ?

Có người vấn nạn khi được khuyên mời đọc Kinh thánh. Người ấy bảo : “Chúng ta đã có các bí tích và có thể cầu xin cùng các thánh. Vậy đọc Kinh thánh sẽ mang lại cho ta những ích lợi gì ? Ơn thánh chẳng do bí tích mang lại cho ta ư ?

Quả thật, nhờ các bí tích, chúng ta được ơn thánh, nhưng với điều kiện là chúng ta phải có lòng tin và sạch tội trọng. Nếu các bí tích ban ơn mà không tùy thuộc ở mức độ thánh thiện của người cử hành thì ngược lại điều ấy phải tùy thuộc ở lòng tin và xu hướng của người lãnh nhận. Còn về các thánh, nếu chúng ta yêu mến và cầu xin các ngài chuyển cầu cho chúng ta, thì chúng ta đừng quên là các ngài đã hằng yêu mến và tôn sùng Lời Chúa. Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su về cuối đời có bộc lộ rằng các sách tu đức làm cho bà ngao ngán và bà chỉ còn “chịu” được các sách Tin Mừng thôi. Các điều bà viết đều tràn đầy những trích dẫn Kinh thánh và chủ thuyết về con đường thơ ấu thiêng liêng của bà cũng khởi đầu bằng một câu lấy trong Kinh thánh : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng đuọc vào Nước Trời.” (Mt 18,3)

1.4 Sách Kinh thánh có nhiều chỗ không xây dựng

Có người cho rằng Kinh thánh không xây dựng vì nói đến chiến tranh, giết chóc, hận thù, ngoại tình v.v… Thật sinh gương xấu. Đúng là trong Kinh thánh có những điều đó. Nhưng chúng ta nên hiểu tại sao như vậy. Nếu hiểu, chúng ta sẽ thấy rằng Kinh thánh là lịch sử một dân tuy được chọn, nhưng vẫn còn là một dân thô lỗ bất trung. Thiên Chúa đã chấp nhận và kén chọn dân đó để huấn luyện và giáo dục họ nay một ít mai một ít. Đáng lẽ chúng ta phải cảm phục Thiên Chúa vì lòng khoan dung nhẫn nại của Người mới phải. Dân Do thái quả thật không phải là một dân đạo đức, đáng yêu thương gì. Nhưng tại sao Chúa lại chọn và yêu thương họ. Thật là một mầu nhiệm, mầu nhiệm của tình thương Thiên Chúa. Họ chẳng hơn gì các dân khác. Đó là một tiểu nhược quốc đầy đam mê, nặng về nhục thể. Chúng ta cần hiểu điều đó để thấy lòng Thiên Chúa yêu thương trong việc chịu đựng và giáo dục dân Do thái cho họ nên khá hơn. Đó là hình ảnh công trình tạo dựng. Thiên Chúa nhào nặn con người như người thợ gốm nhào nặn cái bình. Kinh thánh là cuốn sách kể lại cho chúng ta công trình giáo dục mà người kể không tìm cách tô điểm con người đáng ghê tởm của kẻ thụ giáo. Ai chối cãi được sự hữu ích của hình ảnh này khi áp dụng vào con người chúng ta, để chứng tỏ Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như đối xử với dân Do thái.

Kinh thánh cũng không phải là một cuốn sách xây dựng theo nghĩa nhạt nhẽo. Nó không giống như hạnh các thánh, ở đó cái gì cũng hoàn hảo, xây dựng ngay từ đầu nên nhiều khi hóa ra giả tạo. Tựu trung, sở dĩ có những chuyện ít xây dựng hay không xây dựng là vì hai lý do :

* Bày tỏ một cách chân thành và trung thực lịch sử một dân tộc mà không tô điểm

* Minh chứng sức mạnh biến đổi lạ lùng của Thiên Chúa mà không phế bỏ tự do của con người, đi từ chỗ bất toàn đến chỗ kiện toàn để giúp con người đón nhận ơn cứu độ.

2. Thái độ phải có khi đọc Kinh thánh



2.1 Đọc một cách hiểu biết và sáng suốt

Phải đọc Kinh thánh cách hiểu biết và sáng suốt, nghĩa là cố gắng nhận định và phê bình như khi đọc một cuốn sách. Vậy khi đọc một cuốn sách, chúng ta phê bình và nhận định thế nào ? Trước khi mở sách, chúng ta xem tên sách và tác giả. Nếu là tác giả tên tuổi được ưa chuộng, chúng ta sẽ đọc một cách thích thú. Tên của tác giả thường có tính quyết định trong việc lựa sách và ảnh hưởng nhiều đến sự phê bình và nhận định của chúng ta. Thành ra cố gắng đầu tiên để phê bình nhận định thường hướng về tác giả. Trong Kinh thánh có hai tác giả : Thiên Chúa và con người. Tác giả người phàm là ai, thuộc chân trời xã hội nào và có cái nhìn ra sao ?

2.2 Các tác giả được linh hứng và Mặc khải

Người ta thường nói các tác giả Kinh thánh là những người được linh hứng. Nếu hiểu đúng từ linh hứng, mọi việc sẽ sáng tỏ. Linh hứng không phải là mặc khải. Cần phân biệt rõ hai từ này. Thật vậy, Kinh thánh không phải là sách được mặc khải mà là được linh hứng. Khi nói về mặc khải trong Kinh thánh, người ta thường hiểu về nội dung sứ điệp. Nội dung này được mặc khải nhưng không phải bản văn : nội dung được mặc khải còn bản văn được linh hứng. Linh hứng nghĩa là được ơn trên soi sáng, nhưng sách không phải được viết sẵn từ trời đưa xuống, không thiếu một dấu chấm, dấu phẩy, nhưng là do người phàm viết ra với các đặc tính cá nhân của con người ấy. Thiên Chúa linh hứng qua nhân cách, tư tưởng, năng khiếu, tâm tình ý nghĩ của người ấy. Tất cả những thứ này đều không ảnh hưởng đến bản chất của sứ điệp và giá trị nội tại của sứ điệp cũng không bị tiêu hủy vì các đặc tính của tác giả phàm nhân.

Do đấy, toàn bộ Kinh thánh, nội dung cũng như hình thức, tư tưởng, danh từ phát xuất bởi hai nguồn hoạt động, không phải xếp cạnh nhau mà chồng lên nhau, đó là Thiên Chúa và người phàm. Soạn giả Kinh thánh, dù khi được linh hứng cũng không phải một cái máy chữ. Tác giả vẫn còn giữ nhân cách của mình, vẫn là mình với tính tình và ý tưởng riêng. Thiên Chúa không xô đẩy mà chỉ dùng những thứ đó để chuyển đạt sứ điệp của Người. Đó là điều rất đáng quí cho loài người chúng ta. Chúng ta chỉ nhìn vào bốn tác giả sách Tin Mừng cũng thấy như thế.

2.2.1 Thánh Mát-thêu là người thu thuế.

Vì thu thuế nên tự nhiên có thói quen kiểm nhận. Tính kiểm nhận này hiện ra rõ rệt nơi ngài nhất. Ngài viết cho người Do thái, đồng bào của mình và mối bận tâm lớn nhất của ngài là tỏ cho thấy Đức Giê-su đã đóng dấu thị thực lên Tin Mừng như thế nào. Ngài không bỏ lỡ một cơ hội nào để lưu ý độc giả về việc Đức Ki-tô được loan báo từ trước và mọi điều Kinh thánh loan báo về Đấng Mê-si-a đã được thực hiện nơi Người. Tác giả đặc biệt chú ý đến những lời nói của Đức Giê-su thay vì chỉ kể lại những sự việc đã xẩy ra theo thứ tự thời gian. Ngài thu gọn lại và phân chia thành chủ đề, có khi xếp liền vào một chỗ những điều quan trọng Đức Giê-su nói về cùng một chủ đề, nhưng không ngay lúc đó mà là lúc khác (như trong bài giảng trên núi).

2.2.2 Thánh Mát-cô viết cho người Rô-ma.

Ngài không chú ý đến văn thể bao nhiêu mà chỉ thuật lại lời giảng của thánh Phê-rô. Tin Mừng của ngài hơi có vẻ cẩu thả về văn từ, ngữ vựng không được phong phú như thánh Lu-ca, nhưng người đọc nhận thấy nơi ngài sự đơn sơ với những chi tiết cụ thể làm cho Tin Mừng của ngài có một vẻ hấp dẫn riêng. Qua Tin Mừng của ngài, người ta hiểu xưa thánh Phê-rô đã giảng thế nào. Đó là một lối giảng cụ thể, linh động đi thẳng vào vấn đề. Khi tác giả thuật chuyện về Đức Ki-tô, người ta thấy Đức Ki-tô như đang xuất hiện trước mắt vậy.

2.2.3 Thánh Lu-ca

Thánh nhân không hề được xem thấy Đức Giê-su cũng không phải là môn đệ của Người. Có lẽ ngài là một trong số những người Hy-lạp theo đạo rất sớm. Ngài viết cho người ngoại giáo. Nền văn hóa Hy-lạp của ngài đã giúp ngài rất nhiều trong việc hiểu biết và cảm thông với những ai cùng có một nền văn hóa như ngài. Tin Mừng của ngài chịu ảnh hưởng rất nhiều do các bài giảng của thánh Phao-lô mà ngài là bạn đồng hành. Ngài khác xa thánh Mát-cô về tâm tính và văn hóa.Thánh Lu-ca là người có văn hóa cao. tế nhị, lịch thiệp lại có tài viết văn. Nhiều đoạn văn của ngài đạt tới mức gần như toàn mỹ, thí dụ đoạn văn nói về người con “hoang đàng” và hai người lữ khách trên đường Em-mau. Ngoài ra, ngài lại còn rất chú ý đến sự chính xác của lịch sử, địa dư hơn các vị khác. Ngài đã xác định thánh Phao-lô bị bắt vào năm 58-60 ở Césarée (Xê-da-rê), tìm gặp những nhân chứng đích thực và thu thập những dữ liệu cần thiết để viết Tin Mừng. Ngài đã nhắc lại những dữ liệu đó ngay ở đầu Tin Mừng thứ ba.

2.2.4 Thánh Gio-an

Thánh Gio-an viết Tin Mừng rất muộn, vào mãi cuối thế kỷ I. Ngài là người thần bí, cao siêu, muốn bổ túc lời chứng của ba tác giả Tin Mừng đi trước về một số điểm, bằng những kỷ niệm riêng rất cụ thể và chính xác. Từ những kỷ niệm này, ngài nói nhiều về Chúa Giê-su theo khuynh hướng một người chiêm niệm, thành ra ít kể về cuộc đời mà nói nhiều về mầu nhiệm của Chúa Giê-su.

Đó là bốn nhân vật rất khác nhau về tính tình, lối viết cũng như cách nhìn vấn đề. Tuy thế, sứ điệp vẫn là một. Đức Ki-tô được trình bày trong bốn Tin Mừng không phải là bốn Đức Ki-tô khác nhau nhưng chỉ là một, dù mỗi tác giả đã nhìn vấn đề dưới những góc cạnh khác nhau.

Đối với các tác giả khác trong các sách Kinh thánh cũng vậy. Các ngài không thoát khỏi định luật này : không viết như nhau vì có người là mục đồng như ngôn sứ A-mốt, có người là vua như vua Đa-vít và vua Sa-lô-môn, có người bị lưu đày biệt xứ như ngôn sứ Ê-dê-ki-en, có người được bình an yên ổn như ông Ben Sira.

3. Môi trường, tư tưởng, truyền thống



Nhân cách, tư tưởng, lối nhìn của các tác giả là những yếu tố quan trọng cần lưu ý khi đọc Kinh thánh, vì có những môi trường sinh sống và tư tưởng có thể ảnh hưởng nhiều đến cách diễn tả. Một nhà bác học khi viết về những vấn đề ngoài phạm vi chuyên môn của mình không thể viết như một ký giả. Chính vì môi trường sinh sống có ảnh hưởng và ghi dấu lên tác giả nên mới có những tâm lý riêng cho từng giới.

Trong Kinh thánh, chúng ta cũng thấy dấu vết của những môi trường sinh sống và tư tưởng khác nhau trên các tác giả được Chúa Thánh Thần linh hứng. Vậy thiết tưởng cần phải nói đến môi trường ở đây.

Chúng ta thường nghe nói đoạn này trong Kinh thánh thuộc truyền thống gia-vít (yahviste), đoạn kia thuộc truyền thống ê-lô-ít (éloiste). Như thế nghĩa là gì ? Nghĩa là những đoạn ấy đã được viết ra trong môi trường sinh hoạt theo truyền thống gia-vít hay ê-lô-ít. Truyền thống gia-vít phát xuất từ nước Giu-đa, truyền thống ê-lô-ít phát xuất từ nước Ít-ra-en, còn truyền thống tư tế sau này mới có thì phát xuất từ các thày tư tế ở Giê-ru-sa-lem. Mỗi truyền thống có một cách nhìn riêng biệt, cũng giống như người Việt Nam ở hai miền Nam Bắc chịu ảnh hưởng thời tiết và tâm lý khác nên cũng có cách nhìn và lối xử sự khác nhau. Sự hiểu biết kỹ lưỡng những môi trường sinh hoạt và tư tưởng tạo ra những bản văn theo những truyền thống không giống nhau giúp ngươi ta hiểu sứ điệp cốt yếu của Kinh thánh cách rõ hơn. Thí dụ trong sách Sáng thế, chúng ta thấy thuật lại việc Thiên Chúa tạo thành trời đất theo hai truyền thống. Trình thuật I bắt đầu từ 1,1 đến chương 2; trình thuật II bắt đầu từ 2,4 đến 2,25. Việc ông bà nguyên tổ sa ngã được thuật lại ở ngay sau trình thuật II và tiếp theo. Nếu đọc kỹ hai bản trình thuật đó, chúng ta sẽ thấy cách diễn tả khác nhau. Bản thứ hai thơ mộng hơn bản thứ nhất. Bản thứ hai thuộc truyền thống gia-vê vì trong đó hay dùng chữ Yahvé (Gia-vê) để chỉ Đức Chúa. Nét đặc biệt trong bản này là sống động, dùng lối văn thơ ý nhị để diễn tả sự việc.

Trái lại, bản văn thứ nhất thuộc truyền thống tư tế mới mẻ hơn, được gọi là theo truyền thống tư tế, vì được viết ra trong môi trường các tư tế. Bởi vậy, bản văn cũng thường trừu tượng, mang tính luân lý và được xếp đặt có hệ thống. Trong bản tường thuật này, chúng ta thấy các vật được phân loại cách tỉ mỉ kỹ lưỡng theo lối tăng tiến từ nhỏ đến lớn.

Có nên ngạc nhiên vì hai bản trình thuật về cùng một sự kiện được trình bày khác nhau như thế không ? Một bản há chẳng đủ sao ? Vấn đề này cũng tương tự như vấn đề bốn tác giả sách Tin Mừng. Một người không đủ mà lại phải cần tới bốn người sao ? Nếu xếp đặt các đoạn Tin Mừng giống nhau trong bốn sách làm một, chúng ta cũng sẽ có những trình thuật giống nhau như trong sách Sáng thế.

Nhưng xét cho cùng để như vậy lại quí hơn, vì cũng một vấn đề mà có nhiều lối trình bày khác nhau, để chúng ta rút ra được cái chính yếu nổi bật, qua những cái phụ thuộc ít quan trọng. Đức Giê-su đã chẳng dùng phương pháp sư phạm này hay sao, khi đưa ra nhiều dụ ngôn khác nhau để nói về cũng một thực tại là Nước Trời ? Nếu không biết những truyền thống khác nhau đó, chúng ta khó lòng hiểu nổi những đoạn đầu trong sách Sáng thế.

4. Năm tháng xẩy ra các biến cố



Vấn đề năm tháng xẩy ra các biến cố cũng khá quan trọng. Thật vậy, đọc một cuốn sách mới xuất bản so với một bản cổ văn thì thái độ, sự đón nhận cũng như phê bình của người đọc cũng sẽ khác. Các sách trong Kinh thánh nhiều cuốn được viết ra cách nhau khá xa. Vì thế, thời gian trong sách thánh là một điều đáng kể. Đã hẳn, chúng ta có thể đọc sách triết ngôn cách hữu ích mà không biết những sách đó được viết ra vào những năm nào, vì đó là vấn đề muôn thuở như đoạn văn sau đây trích trong sách Giảng viên : “Con ơi, từ thiếu thời, hãy hấp thụ giáo huấn thì tới khi tóc bạc, con sẽ được khôn ngoan.” (Hc 6,18)

Nhưng khi đọc các sách ngôn sứ thì lại cần phải biết những sách đó được viết ra vào thời kỳ nào, trước hay sau khi Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, trước hay sau thời lưu đày. Vấn đề này quan trọng đối với chúng ta cũng như những việc xảy ra trước hay sau 1945, trước hay sau 1954 hoặc 30.4.1975 v.v… vì chúng đánh dấu một giai đoạn, một thời đại, một não trạng, một lối sống. Đối với người Do thái thì năm 587 trước công nguyên là thời kỳ ghi dấu một tai nạn khủng khiếp, một cuộc lưu đày ô nhục. Trước thời lưu đày, các ngôn sứ ở cả hai miền Nam Bắc (nước Do thái chia hai sau thời vua Sa-lô-môn) đều dùng những lời cảnh cáo đe dọa những ai không trung thành với Lề Luật, còn sau thời lưu đày thì lại ngọt ngào an ủi. Vì thế, khi đọc cần biết các ông thuộc về thời đại nào. Để minh chứng, xin được kể ra đây hai đoạn văn trích trong sách các ngôn sứ I-sai-a và Giê-rê-mi-a :

“Các ngươi hãy nghe và hãy lắng tai, đừng tự cao tự đại, vì chính ĐỨC CHÚA phán. Hãy tôn vinh ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các ngươi trước khi màn đêm buông xuống, trước khi các ngươi vấp chân vào núi giữa bóng đen. Các ngươi mong đợi ánh sáng, nhưng Người biến nó thành bóng tối âm u thành mây mù dày đặc.” (Gr 13.25)

Những lời trên đây, ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết ở miền Nam vào thời trước khi Do thái đi lưu đày. Còn sau đây là lời một người môn đệ ngôn sứ I-sai-a, cũng viết ở miền Nam, nhưng sau khi lưu đày :

Hỡi Xi-on, thức dậy, thức dậy đi, hãy biểu dương sức mạnh ! Hỡi thành thánh Giê-ru-sa-lem, hãy mặc lễ phục huy hoàng ! Từ nay kẻ không cắt bì cũng như người ô uế. Sẽ không còn bước vào thành thánh nữa.” (Is 52,1)

Hiểu những bản văn này thế nào được, nếu không đặt chúng vào khung cảnh thời gian chính xác.

(còn tiếp...)