CHÚA GIÊSU RA TRƯỚC TÒA ÁN DO-THÁI



Sau khi bắt Chúa Giêsu, một buổi họp bán chính thức xét xử Chúa Giêsu được mở ra ở dinh Thượng tế Caipha ngay. Theo pháp luật Do-thái, trong bất kỳ vụ án đại hình nào cũng bắt buộc phải có ít nhất là hai nhân chứng (Dân số 35,30; Đệ nhị luật 17,6; và 19,15). Họ cũng theo thủ tục pháp lý đó, nhưng cung từ của các nhân chứng mâu thuẫn nhau và Chúa Giêsu thì giữ yên lặng trước các lời vu cáo đó. Cuối cùng Thượng tế Caipha tìm ra được một diệu kế bắt Chúa Giêsu phải lên tiếng : Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi thỉnh cầu ông nói cho chúng tôi biết : ông có phải là Đức Kitô Con Thiên Chúa không ? Chúa Giêsu trả lời : Tôi là thế, song tôi bảo các ông : từ nay các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Quyền Năng và đến trên mây trời (Mathêu 26, 63-64). Nghe thế, Thượng tế Caipha xé toạc áo mình ra và nói : Ta còn cần gì đến nhân chứng nữa. Các ngài đã nghe lời phạm thượng, các ngài nghĩ sao ? Tất cả liền thưa : Hắn đáng chết (Marcô 14,64).

Tội phạm thượng là tội cả dám kêu đích danh Yahvê ra để sỉ nhục, án phạt tử hình. Trong vụ án, ta thấy Caipha tránh thánh húy Yahvê, ông gọi là “Thiên Chúa hằng sống” (hoặc Đấng đáng chúc tụng, theo Marcô) và Chúa Giêsu gọi là “Đấng toàn năng”, nên khó có thể tìm ra lời phạm thượng nơi môi miệng Chúa Giêsu. Còn việc Chúa xưng mình là Đức Kitô thì chính cụ Nicôđêmô, nhân viên trong Hội đồng công tọa đã nhận, và nhận thế đâu có phạm thượng. Lại nữa, câu trả lời của Chúa Giêsu về Đấng Kitô có thể là Ngài mô tả Đấng Kitô quang lâm trong sách Daniel ? Xưng mình là Con Thiên Chúa (Con Đấng toàn năng) thì Cựu Ước cũng đã chỉ danh hiệu đó để chỉ dân được tuyển chọn (Thánh vịnh 2,2; 89,7; Samuel 7,14; 1 Chro 17, 11-14). Do đó, buộc tội Chúa Giêsu phạm thượng thiếu căn cứ hoặc ít ra là quá hấp tấp theo thủ tục pháp luật Do-thái. Nhưng đây chỉ là cuộc họp bán chính thức. Buổi họp chính thức tại pháp đình Do-thái, trụ sở Hội đồng công tọa mới quan trọng.

Hội đồng công tọa nắm quyền tư pháp tối cao sẽ xét xử Chúa Giêsu. Hội đồng gồm 71 vị, nhưng luật chỉ đòi túc số 23 là đủ quyền biểu quyết. Tuy luật Do-thái không trù định có cơ quan công tố viện, ai cũng có thể đến tòa tố cáo tội người khác, nhưng luật dạy phải có nhân chứng, nếu tố oan thì kẻ tố lẫn người chứng phải chịu đúng hình phạt tố người ta có tội. Luật còn dạy, Hội đồng chỉ có thể bắt đầu họp lúc tảng sáng, nhắc nhở thẩm phán không được thiên vị, và trong khi xét xử án hình chỉ những nhân viên quá 40 tuổi mới được bỏ phiếu; nhân viên nào quyết định phạt tội, thì suốt ngày phải ăn chay, cầu nguyện, suy gẫm trước khi bỏ phiếu; số phiếu bỏ quá bán 1 thì đủ túc số tha, nhưng không đủ để phạt.

Luật pháp Do-thái ghi rõ như vậy, nhưng ta thấy họ xử Chúa Kitô thế nào ? Các Phúc âm cho ta biết Hội đồng xét xử Chúa Giêsu trong chốc lát là xong. Vị Thượng tế cũng chỉ lập lại “mưu kế” bắt Chúa Giêsu trả lời để kết án ngay. Thánh Luca thuật : Trời vừa sáng, Hội đồng các kỳ lão của dân nhóm họp, có các Thượng tế cùng Ký lục, và họ điệu Ngài ra trước công nghị của họ, và nói : “Nếu ông phải là Đức Kitô, ông hãy nói cho chúng tôi biết”, Ngài đáp : “Tôi mà nói, các ông cũng sẽ không tin, tôi mà có hỏi, các ông cũng sẽ không trả lời, nhưng từ lúc nầy, Con Người sẽ ngự bên hữu Quyền Năng Thiên Chúa”. Mọi người nhao nhao lên : “Vậy ông là Con Thiên Chúa ?”. Ngài nói cùng họ : “Các ông nói phải, Tôi là thế”. Họ la : “Ta còn cần gì đến chứng nào nữa. Vì chính chúng ta đã nghe từ miệng y nói ra rồi” (Luca 21, 66-).

Có lẽ các thẩm phán xét xử đều là những kẻ toa rập với nguyện Thượng tế Anna và đương kim Thượng tế Caipha, nên họ thông qua vụ án dễ dàng khi mà họ cố tình giết Chúa Kitô bất cứ giá nào. Họ bôi nhòa một khoản luật rất tiêu biểu của nền tư pháp Do-thái : dầu bị cáo nhận lỗi mình theo lời hỏi của Thẩm phán nhưng luật bắt buộc phải có nhân chứng xác thực lời bị cáo đã nói, hay việc đã làm để tránh cho bị cáo bị đòn vào thế kẹt hoặc chịu cực khổ quá nhận ẩu tội đi như một cách thế tự vẫn.

Nhắc lại ít khoản luật đó để cho thấy các vị Thẩm phán xử án Chúa Kitô đã phạm nhiều lỗi, chỉ vì họ đã có định kiến trước, đã lập tâm giết Chúa Giêsu trước, vì thế phiên tòa xét xử Chúa Giêsu cũng chỉ có mục đích kết án mau để rồi xin Philatô thi hành ngay để loại trừ Chúa Kitô cho bằng được.

Loại trừ Chúa Kitô ? – Trong vườn địa đàng, Ađam – Evà đã loại trừ ảnh hưởng Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa, và ông bà đã đưa nhau tới sự thiếu thốn cùng cực : thấy mình trần truồng. Các Thẩm phán muốn loại trừ Chúa Kitô bằng tội ác. Tội ác đẩy lên từ lòng người loại trừ Chúa Kitô, mọi thứ tội ác đều loại trừ Chúa Kitô, và hậu quả là thành Giêrusalem điêu tàn, nước Do-thái bị xóa trên bản đồ. Không phải Chúa phạt họ như thế nhưng tội ác phát sinh tội ác, tội ác chồng lên nhau và đưa đến hậu quả như vậy, trừ khi họ chấp nhận Chúa Kitô, nghe theo Chúa Kitô để thoát khỏi tội ác. Thí dụ : ăn trộm đưa đến giết người, bên bị hại lập mưu đốt nhà, chu di bên ăn trộm. Chúa không bao giờ ra tay tạo điều xấu để phạt người ta, trái lại Chúa muốn mọi người thoát khỏi điều xấu, thoát khỏi tội lỗi bằng cách giúp người ta nghe theo Ngài để sống thánh thiện tốt lành.

Trong vụ án Chúa Giêsu, ta thấy Chúa Giêsu quyết liệt xác nhận Ngài là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa; Ngài biết xưng thật như vậy sẽ bị lên án chết, nhưng sự thật là vậy, Ngài phải nói ra, vì Ngài chết là chết vì Chúa Cha nên Ngài sống lại vinh hiển sau ba ngày nằm trong mồ. LÚC CHẾT VÌ CHÚA LÀ LÚC VUI SỐNG MUÔN ĐỜI.