CHÚA GIÊSU TỰ HẠ MÌNH
Suy niệm Chúa tử nạn và phục sinh
“Ngài, phận là phận của một Vị Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải giành cho được chức vị đồng hành cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã hủy mình ra không, là lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta; đem thân đội lốt người phàm. Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá”. (Philip 2, 6-8)
Thánh Phaolô đã mô tả đời sống trần gian của Chúa Kitô : “Ngài đã hủy mình ra không”. Động từ KENOÔ (vider, exténuer, réduire à rien) trong ngôn ngữ Hy-lạp chỉ một chất lỏng được trút hết khỏi bình đến nỗi bình chứa hoàn toàn trống trơn. Dùng động từ này để mô tả đời sống trần thế của Chúa Kitô, Kinh Thánh đã mạc khải tất cả thân phận làm người của một Ngôi Vị Thiên Chúa.
Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu có địa vị, quyền năng và vinh quang ngang hàng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và không bao giờ Ngài “chối bỏ” hay rời khỏi địa vị đó của Ngài. Khi làm người, đáng lẽ vinh quang Thiên Chúa sẽ lan tỏa khắp bản tính nhân loại của Ngài, nhưng Ngài đã tự ý bỏ (không cho vinh quang lan ra con người của Ngài là một phép lạ), sống đúng định luật “làm người” ngoại trừ tội lỗi.
Nghĩ đến tội lỗi, ta thường cho “con người” không có tốt. Thật ra, mọi thụ tạo đều do Thiên Chúa tạo dựng, chúng phản chiếu quyền năng của Thiên Chúa, nên chúng đều tốt đẹp. Con người là thụ tạo có địa vị hơn các thụ tạo khác (trừ Thiên Thần) nên con người càng đáng quí hơn. Dầu con người đáng quí nhưng từ địa vị Sáng Tạo, địa vị Thiên Chúa toàn năng, xuống mặc lấy thân phận thụ tạo thì chẳng khác chi là hành động “hủy mình ra không” rồi, huống nữa Ngài còn “khước từ” vinh quang đáng lẽ phải tỏa ra nơi con người của Ngài để trở nên giống như chúng ta thì thật là “hủy mình ra trống không hoàn toàn”.
Làm người như chúng ta thì phải mặc lấy các khuyết điểm của thụ tạo : sinh ra, lớn lên, có học mới biết, chịu đau khổ vất vả, đói khát, rét mướt, tủi nhục và chết. Chúa Giêsu đã sống đích thực như vậy. Kinh Thánh loại trừ quan niệm của thuyết ảo thân (docétisme), thuyết này cho rằng Chúa Giêsu chỉ mặc lấy “xác thiêng” (corps céleste) nên Ngài giả vờ sinh ra, giả vờ đau khổ, giả vờ chết v.v… và mọi việc Ngài chịu chỉ có mục đích làm gương cho ta mà thôi. Ta cũng có thể phần nào rơi vào thuyết ảo thân khi ta nghĩ tới Thiên Chúa toàn năng, thánh thiện vô cùng lại xuống làm người, chịu khổ sở như thế hoặc khi nghĩ đã là người thì ai chẳng phạm tội, mà Chúa Giêsu không hề phạm một tội gì; vậy giải pháp hay nhất là cho Chúa Giêsu “giả vờ làm người” như ta.
Thực ra, Chúa Giêsu đã làm người thực sự như ta, còn tội lỗi không nằm sâu trong bản tính loài người, nó hệ tại lòng ích kỷ và kiêu ngạo muốn chối bỏ Thiên Chúa, không tuân phục Thiên Chúa. Thiên Chúa mong muốn cho con người tốt đẹp, nghĩa là phải đi tới Ngài, thuộc Ngài vì chỉ có Ngài mới có thánh thiện, tốt đẹp. Ngài đã đặt “mong muốn đó” trong bản tính con người thành khát vọng thâm sâu của con người, nên tội lỗi chống lại Thiên Chúa đã đành, còn chống lại cả bản tính con người. Chúa Giêsu làm người không vương mắc tội vì Ngài hoàn toàn vâng phục Chúa Cha. Thánh Phaolô gọi là “Ngài đã mặc lấy thân phận tôi tớ”.
Dùng từ ngữ “tôi tớ” trong xã hội ngày nay xem ra không hợp, nhưng ở thời nào thì vẫn có cấp dưới phải thi hành lệnh cấp trên. Dùng từ ngữ tôi tớ, Kinh Thánh muốn nói Chúa Giêsu vâng phục trọn vẹn và thi hành hoàn toàn lệnh của Chúa Cha.
1. Làm người, Chúa Giêsu “vâng phục” các định luật sinh lý và tâm lý để Ngài có thể thực sự trở nên đồng bản tính với ta về mọi phương diện, trừ tội lỗi, và nhờ thế, Ngài có thể tác dụng một cách thích nghi tới con người “khả giác” chúng ta.
Chúng ta biết rằng Thiên Chúa tạo dựng con người vì tình yêu hoàn toàn vô vị lợi. Ngài muốn nhân loại kết hợp với Ngài, muốn hiến mình để nhân loại mới có thể kết hợp với Ngài một cách sung mãn. Kết hợp sung mãn chỉ có khi sự kết hợp thân mật bằng trí hiểu, ý chí và tình ái.
Mà chúng ta biết con người ta chỉ có thể đạt tới sinh hoạt tri thức và yêu mến qua trung gian những giác quan, cảm xúc và đời sống tâm sinh lý nghĩa là qua trung gian vũ trụ hữu hình và khả xúc nên con người phải đắm mình trong lịch sử và cơ cấu xã hội loài người. Thánh Toma Aquinô đã nói : Nihil in intellectu quin prius fuerit in sensu (không có gì trong trí khôn nếu trước đó không có nơi giác quan, Summa Theol 3,9,4). Rõ ràng người đui và điếc từ lúc chào đời, người đó tự nhiên câm mặc dầu cơ quan phát âm bình thường. Bạn chưa đau răng thì không thể hiểu được cơn nhức răng và khó thông cảm dễ dàng với người “khổ vì răng”.
Như vậy, Ngôi Lời “lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta”, phải tuân theo các định luật của nhân loại do Thiên Chúa thiết lập, nhờ thế Ngài mới có thể nâng loài người lên và loài người mới có thể kết hợp với NGài. Đức Leo I đã nói rất chí lý : Deus incomprehensibilis, per incarnationem, voluit comprehendi (Thiên Chúa là Đấng bất khả thấu hiểu, không đạt tới Ngài được, nhưng nhờ nhập thể, ta có thể hiểu Người phần nào và đạt tới được).
Vậy, Ngôi Lời làm người như chúng ta là một sự vâng lời tuyệt hảo rồi. Sự vâng phục tuyệt hảo này giải đáp thắc mắc : tại sao Chúa Giêsu không làm phép lạ khi Ngài đói, khát, mệt nhọc. Chính ma quỉ đã cám dỗ Ngài “biến hòn đá thành bánh” khi Ngài đói, và nếu Ngài làm theo thì Ngài “chẳng phải làm người như chúng ta” nữa.
2. Đẩy mạnh mức độ vâng lời tới cùng, Chúa Giêsu đã chết khổ sở trên thập giá. Cái chết vì vâng lời tuyệt đối này để biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, để chứng minh Thiên Chúa yêu thương nhân loại vô cùng – ai suy đến mà không xúc động, cảm động ? – nên tình yêu của Thiên Chúa thắng sự khước từ tình yêu của nhân loại đối với Thiên Chúa, vì thế sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu gây niềm tin tưởng nơi lòng người, gây ảnh hưởng cảm hóa mọi người khả dĩ làm nảy nở nơi tâm hồn chúng ta những tâm tình thống hối, tin cậy mến, nhờ đó con người cũ chúng ta đổi thành con người mới tái tạo theo hình ảnh Chúa Kitô. Nhờ thế, ta kết hợp với Chúa bằng trí hiểu, ý chí và tình yêu một cách tự do, một sự kết hợp rất bền chặt vì cá nhân con người ta không bị phá hủy mà lại được nâng lên cao kết hợp bền vững với Thiên Chúa : CHÚA TRỞ THÀNH TA ĐỂ TA TRỞ NÊN GIỐNG CHÚA.