CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY

Mc 9, 2-10

Thưa quí vị. Mùa chay kêu gọi mọi người ý thức về tội lỗi riêng, tội lỗi xã hội, tôi lỗi thế giới, trong các tổ chức chính trị, tôn giáo, thương mại, văn hoá, ý thức hệ. Những tổ chức mang nặng màu trần tục, tham lam, ích kỷ. Ảnh hưởng của bàn tay Satan và sự hư hỏng của bản tính loài người. Làm thế nào thoát khỏi những ảnh hưởng xấu xa ấy? Biến đổi hình dạng như Đức Giêsu trong Tin mừng hôm nay, là câu trả lời chính xác nhất. Nhưng chúng ta gượm bàn đến vấn đề này. Trước mắt xin nhìn lại tư cách làm môn đệ Chúa của mỗi tín hữu ra sao? Ngõ hầu đưa đến những biện pháp thích hợp. Nói chung hành vi của chúng ta không phù hợp với lòng Chúa mong ước. Nếp sống hằng ngày còn nhiều thiếu sót, không tích cực vác thánh giá theo Chúa như Ngài mời gọi, không can đảm từ bỏ những tiện nghi dư thừa mà Ngài đòi hỏi hy sinh. Ngược lại, ưa nếp sống nhung lụa, dễ dãi. Khổ chế chỉ là sáo ngữ, giả dối. Ngày nay Giáo hội cần một hàng giáo sĩ, tu sĩ chất lượng hơn, không những về trí tuệ mà còn về đời sống thiêng liêng. Nhìn rộng ra chúng ta có trách nhiệm vì tham dự hoặc cộng tác vào các sa đoạ xã hội hoặc thế giới mà chúng ta đang sống, có mặt và làm việc. Môi trường luân lý có lẽ khá hơn nếu chức vụ làm môn đệ Chúa được thi hành đúng đắn nơi các tín hữu.

Từ mùa chay năm ngoái đến nay, quang cảnh sống của chúng ta không mấy đổi thay. Các thói quen cố hữu làm cản trở Lời Chúa không được nhận diện và sửa chữa. Thí dụ, ích kỷ, kiêu căng, hà hiếp. Chúng vẫn là những sinh hoạt an toàn, dễ dãi và được ưa thích. Cầu nguyện chỉ có tính thời điểm và qua lần, chưa thấm nhập vào bản chất và con tim các tu sĩ nam nữ, các giáo dân, vẫn còn nhiều cảm tính loại trừ nhau, chưa có lòng bác ái đích thật, chưa tha thứ cho nhau theo gương Chúa. Cho nên, mùa chay này câu hỏi đặt ra là: Liệu chúng ta có nới lỏng đức tin, biến nó thành một thứ thoả hiệp với thế gian để nuôi dưỡng, đam mê xác thịt theo “văn hoá đương đại”? Mùa chay kêu gọi mọi người đi theo con đường hẹp, con đường Chúa Giê-su đã vạch ra từ hơn hai ngàn năm trước. Xin giảm bớt huyênh hoang mà đi vào thực chất đời sống người Kitô hữu. Có lẽ ngày nay, người ta sợ suy tư cô tịch, sợ khám phá những thói xấu của mình, không nhìn lại hướng đi căn bản. Hội hè, đình đám nhiều, và coi đó là bổn phận xã hội, là nổi tiếng. Trong khi con đường hẹp là cắt đứt những hoạt động đó để quay về với nội tâm.

Theo thói tục thánh thiêng cổ truyền, Mùa chay mang tính hãm mình, chết đi dần dần (Morti-ficatio). Chết đi cho con người cũ, tội lỗi, tính hư thói xấu, ngõ hầu có thể nẩy sinh con người mới, thánh thiện và trong lành. Dĩ nhiên, chết luôn là hành động đau xót, mọi người cố gắng trốn thoát. Nhưng đó là con đường Chúa kêu gọi mọi tín hữu hôm nay. Nhất định chúng ta phải chết để có khả năng đi theo con đường Chúa đã chọn cho mỗi người. Từ chối hy sinh không phải là môn đệ Chúa. Hội thánh lập ra Mùa chay để các tín hữu tập tành các nhân đức, mở ra tương lai cho nhân loại. Phục sinh không chỉ ở đời sau mà ngay ở đời này với mùa chay thánh thiện. Xin đừng để thời gian trôi qua vô ích với những hô hào suông. Người rao giảng phải thực hành khổ chế gương mẫu, kẻo chỉ là những diễn viên kịch nghệ rỗng tuếch. Tôi có quen một vị tu sĩ thông thái. Sau bài giảng hùng hồn của ông về mùa chay, hy sinh, hãm mình, khổ chế, ông đòi một con gà quay, nửa lít rượu mùi ngoại quốc. Bài giảng của ông trống rỗng. Đa phần chúng ta hành xử tương tự. Chúng ta “bồi dưỡng” nhiều quá đến độ nhiều vị thừa cân, dư chất. Nên chăng suy nghĩ lại lối sống của mình cho phù hợp với lời giảng dậy.

Mùa chay là mùa sáng mắt, sáng lòng theo ý nghĩa đích thực của ngôn ngữ, chứ không phải khẩu hiệu suông, rỗng tuếch, chúng ta đi qua con đường này như một cộng đoàn thánh hiến cho Chúa Giê-su bằng những con mắt đức tin. Mỗi thành viên phải là niềm hy vọng cho các thành viên khác, chứ không phải là gương mù che khuất. Mùa chay chúng ta dựa vào nhau, khích lệ nhau tiến bước theo gương sáng Đức Kitô. Liệu có ai không cần đến người khác trên con đường chết đi cho chính mình mà Chúa Giê-su kêu gọi các môn đệ Ngài? Chúng ta bước đi trong mùa chay cùng nhau chứ không phải riêng lẻ như những khách lạ? Xin hãy nhìn cộng đoàn chung quanh bàn tiệc thánh hôm nay, tức khắc chúng ta nhận ra Bí tích thánh tẩy đã tụ họp nhân loại thành cộng đoàn tin kính và nhắc nhở mỗi người không đơn lẻ. Chúng ta cùng nhau cử hành mùa chay, phục sinh và như vậy mãi trong suốt cuộc đời.

Bí tích rửa tội còn nhiều ý nghĩa hơn nữa. Thánh Phaolô trong bài đọc 2 cam đoan rằng: “Thưa anh em, có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?”. Đó là một thực tại quan trọng mà Bí tích mang lại. Khi chúng ta thực hành khổ chế như Bí tích đòi hỏi thì chính Thiên Chúa về phe với mỗi người trong tiến trình hy sinh hãm mình của họ. Thần Khí Đức Kitô thúc đẩy mỗi người đi vào sa mạc để lột bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới, thì chính Thiên Chúa ban ơn trợ giúp. Chúng ta không hành động một mình. Nhưng có Chúa cùng hoạt động bên cạnh và trong mỗi người. Tôi đã không chú ý đến tầm quan trọng của bài đọc này trong một thời gian khá dài. Bây giờ là lúc xin sửa chữa.

Có lẽ thánh Phaolô trong trích đoạn hôm nay hoặc cả lá thơ Rôma giúp đỡ chúng ta đối mặt với thánh giá và hy sinh trong mùa chay, khi chúng ta nhìn lên Thiên Chúa như nguồn trợ lực chính yếu. “Nếu Thiên Chúa về phe với chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?” Thánh Phaolô hoan hỷ nhắc đến tình yêu Thiên Chúa dành cho mỗi người và lưu ý những đau khổ, hy sinh của mỗi người được Thiên Chúa gánh lấy và biến đổi. Thực tế thánh nhân rất cao hứng trong trích đoạn này. Ca khen Thiên Chúa vì những việc Người làm cho loài người trong Đức Giêsu Kitô. Cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá là bằng chứng cụ thể Thiên Chúa yêu nhân loại. Tình yêu ấy không có chi sánh bằng và cũng không mô tả nổi. “Một khi đã trao người con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” Nghĩa là không còn gì để ban nữa, Chúa Giê-su đã tự nguyện trải qua khổ hình và cái chết để nên dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Như vậy không ai còn có thể nghi ngờ lòng yêu của Thiên Chúa đối với mình, dù có phải trải qua gian nan thử thách. Mùa chay là mùa chúng ta nên suy nghĩ về tình yêu này và thực hành những cải tổ cần thiết trong nếp sống giữ đạo của mình. Chúng ta còn nhiều sai lầm lắm mà cứ nghĩ mình hoàn hảo, thánh thiện.

Sở dĩ Chúa Giê-su phải chết là để hoàn thành sứ vụ Thiên Chúa trao: Công bố và thiết lập triều đại Đức Chúa Trời giữa nhân loại: Tình yêu, công lý, hoà bình, tha thứ. Điều này chỉ có thể được nếu chúng ta nghiêm chỉnh thực hiện tinh thần mùa chay. Dĩ nhiên lúc ấy các thẩm quyền đền thờ và thế gian coi Ngài như một đe doạ về quyên lợi và thói tục. Họ đang êm ấm trong những cổ truyền cha ông. Chúa mang đến những thay đổi và xáo trộn cho am hợp với thánh ý Chúa Cha và triều đại nước Đức Chúa Trời. Nhưng vô tình họ đã loại bỏ Đấng là quyền phép và hình ảnh Thiên Chúa, Đấng là tình yêu và lòng thương cảm của nhân loại. Xin đừng đi theo con đường sai lầm đó nữa, Chúa biến hình chứng tỏ chúng ta phải mặc lấy con người mới và đi theo đường lối Chúa đã đi. Chỉ lúc ấy chúng ta mới có khả năng nói được với thánh Phaolô; “Dù sự sống hay sự chết, thiên thần hay ma vương quỉ lực, chiều sâu hay chiều cao, không có gì tách chúng ta ra khỏi lòng mến Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô.” Thánh Phaolô đã thực hiện nội dung này cho sát nghĩa đen, bởi chức vụ tông đồ của ngài đã là nguồn mạch đau khổ, phỉ báng và ngay cả cái chết. Liệu chúng ta có sẵn sàng chấp nhận cái giá phải trả cho việc theo Chúa của chúng ta không? Hay hèn hạ tháo lui với một vài bất tiện nhỏ nhất? Chẳng có chi bảo đảm, trừ phi chúng ta thực sự thi hành Lời Chúa. Thánh Phaolô nhắc nhở mọi tín hữu tình yêu của Thiên Chúa nắm giữ chúng ta và không bao giờ lìa bỏ nữa.

Thánh nhân dùng hình ảnh toà án để giải thích ý tưởng này. Trong toà án nhất định phải có hai phe: Công tố và bị cáo. Công tố buộc tội và bị cáo chịu án phạt. Kinh nghiệm hằng ngày cho hay, vai trò luật sự biện hộ rất quan trong. Ông ta có khả năng bênh vực cho bị cáo trắng án và ngược lại, có thể đưa phạm nhân đến tù tội. Biết bao lần tôi gặp các nạn nhân, tội lỗi của họ có thể là nhẹ hơn hoặc vô tội, nếu thuê được một luật sư tài giỏi. Nhưng bất hạnh cho họ, các cáo buộc nặng nhẹ đều đổ lên đầu họ, mà luật sư không biết đường tháo gỡ. Thánh Phaolô tưởng tượng chúng ta ở trong hoàn cảnh này, nhưng các cáo buộc không chống lại chúng ta mà ủng hộ chúng ta: “Nếu Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai nào dám chống lại chúng ta được?” Câu hỏi chẳng qua có tính văn chương. Hỏi để trả lời rõ nét hơn: chẳng có ai cả. Như vậy chúng ta được tha bổng vì Thiên Chúa về phe với nhân loại. Bằng chứng nào? Bằng chứng Ngài đã phó nộp con Ngài chịu chết và sống lại vì nhân loại. Tình yêu của Ngài thật mãnh liệt. Nhân loại vô tội nhờ Đấng đã chết và sống lại cứu chuộc. Cái án phải trả đã được Đức Kitô đền xong: “Tạ ơn Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (7, 25).

Thiên Chúa không mù và cũng chẳng điếc. Ngài biết rõ tội lỗi chúng ta nhưng con đường Ngài đối phó với nó khác xa ý nghĩ của nhân loại. Ngài là tình yêu nên tha thứ và hoà giải tất cả trên căn bản lòng thống hối. Chúa Giê-su đã kể nhiều dụ ngôn về vấn đề này trong các Phúc âm, trừ có một tội là cứng lòng, khước từ ơn tha thứ, khước từ tình yêu. Phúc âm gọi là tội phạm đến Chúa Thánh Thần. “Vì thế tôi nói cho các ông hay. Mọi tội lỗi kể cả tội nói phạm thượng đều được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha. Nó mắc tội đến muôn đời.” (Mc 3, 28). Đó là đường lối Thiên Chúa đối xử với tội lỗi nhân loại. Dấu chỉ là Đức Kitô thể hiện lòng thương xót trong một thân thể loài người, phiên toà khép lại. Chúng ta chạy đến Chúa Giê-su để được tha thứ và bản án là tha bổng.

Nếu như cái chết của Chúa mà thôi chẳng chứng minh được chi. Điều chứng minh hùng hồn là Ngài đã sống lại và chúng ta được liên kết với Ngài qua bí tích thanh tẩy. Bí tích này cho phép tham dự vào đời sống thần linh. Nó là bằng cớ Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta đời sống mới, thay vì phải trầm luân muôn đời. Nhờ thần khí Đức Kitô, qua chay tịnh thánh thiện chúng ta được bảo đảm đạt đến hạnh phúc đó. Ngay cả khi còn ở đời này. Chứng cớ của thánh Phaolô thật mạnh mẽ, có sức thuyết phục cao: “Ta còn phải làm chi hơn nữa, để chứng tỏ Ta yêu mến chúng con? Ta đã trao ban con yêu dấu của Ta để minh chứng tình yêu ấy.”

Đến đây chúng ta có thể chuyển sang nội dung của bài Tin mừng. Cả ba Phúc âm đều tường thuật biến cố này trong ba cái nhìn khác nhau. Chứng tỏ ba truyền thống trong các cộng đoàn tiên khởi. Thánh Marcô mô tả “Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ trắng tinh, không có thợ giặt nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.” Thánh nhân không nói chi về diện mạo Chúa. Thánh Mattheo viết: “Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, y phục trở nên như ánh sáng.” Luca ghi rõ: “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo người bỗng đổi khác, y phục Người bỗng trở nên trắng tinh chói loà.” Yếu tố chung là Môsê và Êlia hiện ra đàm đạo với Ngài. Chúng ta có thể rút ra bài học trong ba truyền thống này. Mỗi tín hữu cũng được Thiên Chúa đưa lên đỉnh núi cao, chịu các cám dỗ của cuộc đời. Các thánh sử không cho biết tên của ngọn núi Chúa biến hình, cũng là để chúng ta nhận ra rằng cuộc đời có những cao điểm của ơn thánh và thử thách. Vậy thì phải có những giây phút biến hình trong cầu nguyện để biểu lộ chức vị làm con Thiên Chúa của mỗi người. Nếu Chúa ủng hộ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Cho nên không phải sợ hãi những khó khăn của cuộc đời.

Hạnh phúc của các tín hữu nằm ở biến cố này, nó báo trước con đường theo Chúa Kitô sẽ dẫn đến phục sinh vinh hiển. Chúng ta yên tâm đi trên con đường Chúa. Chỉ những tâm hồn chọn lối đi khác mới phải chịu cảnh nghi ngờ, bấp bênh. Khổ chế là con đường chắc chắn đưa tới ơn cứu độ và vinh hiển. Nó biến đổi hình dạng của mỗi linh hồn theo chân dung Chúa Kitô. Sự biến đổi thiêng liêng là tiến trình lâu dài: “Chúng ta được biến đổi theo hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, do tác động của thần khí Chúa (2 Cr 3, 18). Và sau khi được chết trong thân xác với Chúa Giê-su, chúng ta sẽ hưởng vinh quang với Ngài. Vinh quang chúng ta chia sẻ với Ngài nơi trần thế. Sự phục sinh của Ngài chắc chắn sẽ kéo theo sự phục sinh của mỗi linh hồn. Lúc ấy sự biến hình của chúng ta là hoàn toàn. “Nếu Thiên Chúa bênh vực chúng ta, ai dám chống lại chúng ta đặng?” Amen.