MỘT VÀI CHÌA KHÓA ĐỂ HIỂU THƯ MỤC VỤ 2005 CỦA HĐGMVN.



Mở đầu :

Nhìn chung, thư Mục Vụ 2005 được soạn thảo một cách đơn giản cả về cấu trúc lẫn văn phong. Ta có thể hiểu được cách dễ dàng hơn nữa nếu cùng một lúc đặt nó trong tương quan với Năm Thánh Thể 2004-2005 vừa qua và trong bối cảnh kỷ niệm 40 năm hiến chế Verbum Dei (Mạc Khải của Thiên Chúa), rồi từ đó, cùng với Hội Đồng Giám Mục tìm phương cách sống Lời Chúa cách cụ thể trong môi trường Việt Nam.

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Không phải tình cờ mà Thư Mục Vụ 2005 đã chọn đề tài “Sống Lời Chúa” làm phương hướng soạn thảo. Có hai lý do dẫn đến việc lựa chọn này.

Lý do thứ nhất, đó là mối quan hệ bất khả phân ly giữa Thánh Thể và Lời Chúa. Qua Thư Mục Vụ 2005, Hội Đồng Giám Mục muốn nhắc lại cho cộng đồng Dân Chúa Việt Nam rằng Thánh Thể và Lời Chúa chỉ là hai mặt khác nhau của “cùng một mầu nhiệm”, mầu nhiệm sự sống thần linh. Thánh Thể và Lời Chúa còn là chất liệu tạo ra “hai bàn tiệc” thiêng liêng mà Chúa Giêsu chiêu đãi những ai tin vào Ngài, là hai loại lương thực cần thiết để nuôi dưỡng linh hồn người Kitô hữu.

Vì mối tương quan mật thiết đó, tương tự như phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể không thể tách rời nhau trong một Thánh Lễ, năm Quốc Tế Thánh Thể 2004-2005, theo Thư Mục Vụ 2005, cần phải được kiện toàn và tiếp nối bằng năm “Sống Lời Chúa”. Liên kết như thế, thành quả đạt được trong Năm Thánh Thể vừa qua sẽ có âm hưởng sâu xa hơn (Xem Thư Mục Vụ, số 1), sự hiểu biết đức tin của Kitô hữu Việt nam sẽ quân bình hơn nhờ phối hợp hai yếu tố nền tảng là Thánh Thể và Lời Chúa.

Lý do thứ hai đó là : 2005 là mốc thời gian kỷ niệm 40 năm công bố hiến chế Dei Verbum (Mạc Khải của Thiên Chúa), được xem là “m?t trong nh?ng van ki?n quan tr?ng nh?t” c?a Công Ð?ng Vatican II, một công đồng được nhiều nhà phê bình đánh giá là một cuộc “cách mạng copernic” đối với Giáo Hội.

Điều đó đã được Đức Thánh Cha Bênêđitô 16, một trong những chuyên gia hàng đầu của công đồng Vatican II, nhấn mạnh dưới một hình thức khác : ngài khẳng định công đồng là “kim chỉ nam” cho triều đại giáo hoàng của ngài. Theo Đức Thánh Cha, con người và thế hệ trẻ thời đại chúng ta thường có xu hướng cho rằng công đồng Vatican II là một biến cố vĩ đại nhưng đã bế mạc ngày 08-12-1965, nghĩa là đã xa xưa lỗi thời. Đối với ngài, điều quan trọng và cốt lõi không phải chỉ là thấy ở Công Đồng Vatican II một biến cố lịch sử, mà là làm thế nào để tiếp tục “kiện toàn và triển khai Công Đồng trong lòng Giáo Hội”. Điều đó đòi hỏi mọi thành phần Dân Chúa phải đọc lại Công Đồng một cách thích đáng và tương xứng. Đức Thánh Cha không ngần ngại dùng từ ngữ “thực thi Công Đồng” để nhấn mạnh tính cách thời sự của Công Đồng trong sinh hoạt không bao giờ ngừng nghỉ của Kitô Hữu và của Giáo Hội. Công Đồng không chỉ là tập hợp những văn kiện thuần lý giáo thuyết nhưng thực sự là những chân lý hiện sinh để sống và để hành động.

Hưởng ứng lời kêu gọi của vị cha chung, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, qua thư mục vụ 2005, cũng muốn cùng với Giáo Hội khắp nơi trên thế giới., rà xét lại thái độ dấn thân của mình trong thời gian bốn thập kỷ sau Công Đồng bằng một hành vi cụ thể, đó là hành hương về những giá trị đích thực của Lời Chúa theo giáo huấn Công Đồng.

II. LƯỢC ĐỒ THƯ MỤC VỤ 2005

Không cần phải suy nghĩ lâu, ta có thể nhận ra lược đồ ba phần của bức thư. Phần I có tính cách tín lý; phần II là hệ lụy thần học của phần I và phần III có tính cách mục vụ.

Lược đồ ba chặng này được thông báo ngay trong phần mở đầu, ở số 1 của lá thư : “V?i Thu m?c v? nầy, trước tiên chúng tôi muốn cùng với anh chị em ôn lại giáo huấn của Công Đồng về Lời Chúa (tín lý và hệ lụy thần học về Mạc khải), sau đó cùng suy nghĩ về phương cách sống Lời Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội Việt Nam hôm nay (gợi ý và phương hướng mục vụ)”.

Phần tín lý được triển khai từ số 2 đến số 4, chủ yếu tóm lược thần học của hiến chế Dei Verbum về chiều kích Ba Ngôi của Lời Thiên Chúa. Thư Mục Vụ tuần tự đặt từng Ngôi Vị trong tương quan với Lời Thiên Chúa một. Số 2 xác định vai trò của Thiên Chúa Cha như là nguồn gốc của Lời Thiên Chúa. Số 3 giải thích tại sao Chúa Kitô chính là hiện thân của Lời Chúa Cha và số 4 mô tả Chúa Thánh Thần như là sự linh ứng của Thiên Chúa trong việc soạn thảo Thánh kinh và khơi động tinh thần con thảo nơi tâm hồn tín hữu.

Hai số tiếp theo, số 4 và số 5, đề cập đến vai trò Lời Chúa trong đời sống Kitô hữu và trong đời sống Giáo Hội (hệ lụy thần học). Số 1 của lá thư đã giải thích rằng sau khi đã “nh?c nhở chúng ta nội dung đức tin hết sức phong phú và sống động của Giáo Hội về Mạc Khải của Thiên Chúa hoàn tất trong Đức Kitô, Hiến Chế khẳng định chỉ có Lời đến từ Thiên Chúa, được thông truyền và diễn tả qua chính đời sống Giáo Hội cũng như qua chứng tá của mỗi Kitô hữu mới có thể đem lại ánh sáng và niềm vui cho một thế giới đang khắc khoải tìm kiếm con đường về Sự Thật và Sự Sống” (xem Verbum Dei, số 21; xem Thư Mục Vụ, số 5 và số 6).

Từ cơ sở giáo huấn đó của Công Đồng, bốn số 7, 8, 9, 10 của Thư Mục Vụ đưa ra “những gợi ý thực tiễn” để sống Lời Chúa trong môi trường cụ thể Việt Nam. Cho tới nay, Lời Chúa đối với Kitô hữu Việt Nam vẫn chỉ giới hạn trong các bài đọc thánh lễ, các buổi cử hành phụng vụ tại nhà thờ. Cần phải vươn xa hơn nữa bằng cách mở lối cho cuốn Thánh Kinh có cơ hội đi vào các gia đình, tạo điều kiện để Lời Chúa được học hỏi và giữ vai trò trọng yếu hơn trong các buổi cầu nguyện và sinh họat (số 7). Hơn nữa, xã hội Việt Nam đang thay đổi tận gốc rễ trong mọi lãnh vực khiến con người chao đảo mất phương hướng. Cần phải làm thế nào để Lời Chúa thực sự trở thành ánh sáng soi đường và “nền tảng cho đời sống luân lý đạo đức” (số 8).

Để đạt được những mục tiêu trên, mỗi bậc sống, mỗi tầng lớp Kitô hữu phải thể hiện tinh thần sống Lời Chúa sao cho phù hợp với chức phận mình trong cộng đoàn Giáo Hội (số 9). Mẫu số chung cho mọi ngành mọi giới phải là liên kết tri với hành, lời nói và việc làm, niềm tin và biểu hiện cụ thể của niềm tin. Tắt một lời, để sống Lời Chúa cách đích thực, người Kitô hữu Việt Nam phải dấn thân xây dựng, nói theo ngôn từ của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, một “nền văn minh tình thương” ngay trong lòng xã hội Việt Nam (số 10).

Thư Mục Vụ 2005, theo truyền thống tốt đẹp của hầu hết các văn kiện Giáo Hội, cũng kết thúc bằng lời kêu gọi độc giả hướng về Đức Maria như mẫu gương sống Lời Chúa cách tuyệt hảo. Người Kitô hữu Việt Nam sẽ hoàn thành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho đồng hương nếu biết tiếp thu bài học suy niệm và thực thi Lời Chúa của Mẹ.

Kết luận

Thật ra, tư tưởng thần học về Mạc Khải được trình bày trong phần I và II của Thư Mục Vụ 2005, tuy rất quan trọng nhưng chỉ giữ vai trò qui hướng độc giả về phần III nói về thái độ cụ thể người Kitô hữu phải có trong đời sống đạo của mình. Đó là lý do tại sao bức thư được mệnh danh là “Thư mục vụ”. Đích nhắm của Hội Đồng Giám Mục có tính thiết thực, đó là kêu gọi cộng đồng Dân Chúa Việt Nam nỗ lực tạo một mặt bằng xứng hợp hơn cho Lời Chúa, đồng thời giúp họ “kín múc nơi Lời Chúa sức mạnh thiêng liêng cho dời sống đức tin và luân lý trong mọi hoàn cảnh cuộc đời” (số 6).

Trước những hiện tượng ồ ạt vũ bão giữa lòng xã hội Việt Nam như làn sóng di dân, công nghiệp hoá, kỹ nghệ hoá, đô thị hoá, trước những căn bệnh thế kỷ như sida, dịch cúm gia cầm, trước sự bùng nổ thông tin và chủ nghĩa hưởng thụ, trước những tệ nạn mỗi lúc một gia tăng như phá thai, nghiện hút, làm thế nào để linh mục, phó tế vẫn chung thủy “gắn bó với Thánh Kinh”. để Lời Chúa luôn là “nguồn mạch đầu tiên” của mọi linh đạo tu sĩ, để người giáo đân “vừa là người gieo giống vừa là thửa đất để đón nhận Lời Chúa”, nhất là để giới trẻ có đủ năng lực “giúp nhân lọai khám phá ánh sao dẫn đường đích thật là Đức Giêsu Kitô”?

Đó mới thực sự là những câu hỏi hàng đầu mà Thư Mục Vụ 2005 muốn đặt ra.

+ Giuse Nguyễn chí Linh

Giám mục giáo phận Thanh Hoá