Mới và cũ
CN 8 năm B
18 Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay? "
19 Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được.20 Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.
21 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì như vậy, miếng vá mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách lại càng rách thêm.
22 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới! " (Mc 2, 18-22)
............................................................................
· Vài hàng sơ lược
Đoạn Phúc Âm này có thể chia như sau: Câu 18: Chất vấn về việc ăn chay, Câu 19-22: Trả lời của Chúa Giêsu.Trong phần này có thể chia ra như sau: (1) thời gian ăn chay (câu 19-20); (2) Hình ảnh áo và miếng vá; (3) Hình ảnh rượu và bầu rượu.
Nội dung chính của đoạn này là cuộc tranh luận về việc ăn chay. Nhưng ăn chay có ý nghĩa gì trong xã hội Do-thái thời đó?
Theo Bernhard Zahrl và Meinrad Limbeck, trong Do-thái giáo thời Chúa Giêsu có những ngày bắt buộc phải ăn chay, như vào ngày lễ hòa giải (Jom Kippur): „Đó sẽ là quy tắc vĩnh viễn cho các ngươi. Thật vậy, ngày ấy, sẽ cử hành lễ xá tội cho các ngươi, để thanh tẩy các ngươi: trước nhan ĐỨC CHÚA, các ngươi sẽ được thanh sạch khỏi mọi tội lỗi của các ngươi. Đối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ: đó là quy tắc vĩnh viễn.“ (Lê-vi 16, 29-31) Hay vào những ngày lễ hội (x. Dacaria 7, 3 và 8,19), vào thời gian khó khăn như chiến tranh, thiên tai. Ngoài ra, cũng có kiểu ăn chay của cá nhân, như ăn chay chuẩn bị cho việc cầu nguyện, hay ăn chay để chuẩn bị khấn hứa một điều gì đó. Chúng ta có thể nhớ đến hình ảnh Mô-sê ăn chay 40 ngày trên núi, để viết 10 điều răn Đức Chúa Trời: „Ông ở đó với ĐỨC CHÚA bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều.“ (Xh 34, 28) Ngày ăn chay thường xuyên là ngày thứ Hai và thứ Tư. Vào ngày Sa-bát và ngày Lễ lớn, thì không ăn chay gì cả.
Theo Adolf Pohl thì người Do-thái đạo đức rất thường ăn chay. Trong Phúc Âm Lc 18, 12 có nhắc đến việc ăn chay của người Pha-ri-sêu: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.“ Đây là việc ăn chay tự nguyện. Có những thầy Ra-bi sống chay tịnh kham khổ 300 ngày trong năm, và mỗi ngày từ 06 giờ sáng đến 18 giờ chiều. Người ta còn kể về một thầy Ra-bi suốt 40 năm liền chỉ ăn trái sung khô khan thôi, đến nỗi ông ta chỉ còn da bọc xương. Ăn chay là một hình thức sống rất lý tưởng của đời sống người Do-thái. Về ý nghĩa của ăn chay, Adolf Pohl giải thích từ ngữ „ăn chay“ trong ngôn ngữ A-ram có ý nghĩa tương tự như chỉ về sự đau buồn. Ăn chay trong nguyên thủy là một nghi thức chỉ sự đau buồn, như đau buồn vì người thân qua đời. Trong trường hợp của Đa-vít đau buồn về sự qua đời của vua Sao-lê và của Gio-na-than: „Ông Đa-vít nắm lấy áo mình mà xé ra, tất cả những người ở với ông cũng vậy.12 Họ cử hành tang lễ, khóc lóc và ăn chay cho đến chiều để tỏ lòng thương tiếc vua Sa-un và ông Giô-na-than, con vua, thương tiếc dân ĐỨC CHÚA và nhà Ít-ra-en, vì những người này đã ngã gục dưới lưỡi gươm.“ (2 Sam 1, 11) Ngoài ra, sự ăn chay cũng diễn tả sự khiêm nhường và hối hận ăn năn. Khi ăn chay, người Do-thái có những hành động cụ thể, như „ngủ đêm thì nằm dưới đất“ (ss. 2 Sam 12, 16) hay „xé áo mình ra, khoác áo vải bố bám sát vào thịt, ăn chay, nằm ngủ với bao bì và bước đi thiểu não“ (1 Vua 21, 27) hoặc „Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng ĐỨC CHÚA?“ (Is 58,5) Như vậy, ăn chay là nghi thức tỏ lộ sự buồn đau trước Thiên Chúa, về lỗi lầm của mình, về thân phận nhỏ bé không xứng đáng của mình, và qua đó tỏ lộ sự ăn năn thống hối trở về của mình, và hy vọng Gia-vê Thiên Chúa nhân hậu thứ tha và cứu thoát. Ở đây có thể đọc thêm trong sách tiên tri Gio-na chương 3, 4-9.
· Suy niệm
- Câu 18: „Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?" Có thể những người hỏi Giêsu là những người chống đối Giêsu (ss. Mc 2, 16 và 24). Với câu hỏi này, cách thức sống của các môn đệ Giêsu đã bị đặt thành vấn nạn. Nhưng tại sao, người ta không hỏi thẳng các môn đệ mà hỏi Giêsu? Vì Giêsu là sư phụ của họ, nên sư phụ là người có trách nhiệm với học trò, là người bảo đảm về cách sống của học trò mình. Vì vậy, không chỉ ở đây họ đặt câu hỏi với Giêsu về hành động của các môn đệ, mà trong đoạn kế tiếp cũng vậy: „Vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa. Dọc đường, các môn đệ bắt đầu bứt lúa. Người Pha-ri-sêu liền nói với Đức Giê-su: "Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia? Điều ấy đâu được phép! " (Mc 2, 23-24)
Câu hỏi họ đặt ra trong hình thức so sánh với các môn đệ của Gioan và Pha-ri-sêu, những người ăn chay đều đặn giống như thầy của mình: „Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng.“ (Mc 1, 6) Còn mấy ông đi theo Giêsu thì lại chẳng màng tới chay tịnh gì cả. Phải chăng các môn đệ của Giêsu đã „rút tay“ ra khỏi lối sống lý tưởng của người Do-thái đạo đức, điều đó làm cho mọi người nghi vấn Giêsu và học trò của mình? Vậy Giêsu là ai đây? Phải chăng là một Ra-bi đạo đức? Một mặt „Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.“ (Mc 1, 21) Mặt khác thì Giêsu cũng ăn cũng uống như ai, và người ta đã coi Ngài là „tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.“ (ss. Lc 7, 34) Ở đây liên quan đến đoạn trước của Mác-cô: „Những kinh sư thuộc nhóm Pha-ri-sêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người: "Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!" (Mc 2, 16) Nhưng chúng ta không được quên một điều, câu hỏi đề cập về việc ăn chay ở đây liên quan đến việc ăn chay có tính cách đạo đức cá nhân của người Pha-ri-sêu, chứ không liên quan đến việc ăn chay theo luật buộc. Vậy Đức Giêsu trả lời như thế nào?
- Câu 19-20 : „Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được. Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.“ Giêsu đã theo phương pháp của các Ráp-bi, trả lời họ bằng cách đặt lại câu hỏi cho họ. Hình ảnh đầu tiên Giêsu đưa ra trong câu trả lời là hình ảnh tiệc cưới. Thật là một bất ngờ. Để hiểu được tại sao Giêsu lại đưa hình ảnh này vào, chúng ta phải trở về với tục lệ mừng đám cưới của dân tộc Do-thái thời đó. Theo Adolf Pohl, khi người Do-thái nghe đến hai từ “tiệc cưới” thì niềm vui khôn tả hiện lên ngay trước mặt họ một. Một niềm vui đẩy lui tất cả sang một bên: Các Kinh Sư gấp cuốn sách giáo khao Thora lại; kẻ thù giải hòa với nhau. Và người người sẽ tấu lên những khúc nhạc mừng vui, trống đàn hòa tấu. Rồi người ta còn tung những hạt ngũ cốc vào đám đông, nhảy nhót vui mừng trước cô dâu, và ca ngợi vẻ đẹp của cô dâu. Họ mừng vui tiệc cưới bảy ngày trời. Sau bảy ngày mừng vui, thì mọi người trở về lại với cuộc sống thường ngày, với những luật lệ nghiêm ngặt và khô khan. Như vậy, tiệc cưới là một trong biến cố làm thay đổi đời sống thường ngày của người Do-thái. Tiệc cưới cũng làm cho việc ăn chay phải tạm ngưng. Vì làm sao có thể ăn chay được, khi chàng rể còn ở đó. Vâng bao lâu chàng rể và cô dâu còn đang ở đó, thì tiệc mừng vui vẫn được mừng, tất cả mọi chuyện khác cần phải dẹp qua một bên.
Như vậy, qua câu trả lời này, Giêsu muốn nói cho mọi người biết rằng, chính Ngài là chàng rể đến và đem theo thời gian của niềm vui, như trong Isaia đã nói : «Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, » (Is 40,2)
- Trong hai câu 21 và 22 Giêsu đã dùng hai hình ảnh của dụ ngôn. Hai dụ ngôn này nói lên một điều: Ai có hiểu biết và khôn ngoan thì không làm như thế, miếng vá mới và vải cũ không thể hợp với nhau. Cũng thể, rượu mới không thể đổ vào bầu da cũ. Nếu không thì chỉ làm hư hoại thêm mà thôi. Đi vào câu 21, chúng ta đọc được nguyên tắc của việc may mặc. „Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì vải mới sẽ kéo vải cũ và làm cho vết rách lớn hơn“ Để hiểu được ý nghĩa của câu này chúng ta để Adolf Pohl giải thích về việc may mặc thời đó: Quần áo được dùng rất lâu, từ thế hệ này qua thế hệ khác, và luôn luôn phải được vá lại. Một điều rất căn bản trong việc vá, là miếng vá không được phép lấy ra từ miếng vải mới dệt xong. Nếu không, thì miếng vá mới khi ướt sẽ co lại và kéo cho vết rách cũ to thêm. Vì vậy, khi vá người ta phải chọn miếng vải cũ hợp với quần áo cũ rách rưới. Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy hai tĩnh từ „mới“ và „cũ“ là trung tâm điểm. Cũng thế, trong câu 22 chúng ta đọc được: „Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới! " Đây là nguyên tắc căn bản của người nấu rượu và sản xuất rượu thời đó. Qua hai dụ ngôn rất ngắn gọn này, Giêsu muốn nói với chúng ta điều gì? Theo Rudolf Pesch, thì trong câu này, „mới“ và „cũ“ đối chọi hoàn toàn với nhau. Đọc kỹ sẽ nhận ra được một sức mạnh của „mới“. „Mới“ có sức trẻ, năng động và có thể vượt qua „cũ“ cách dễ dàng. „Mới“ không thể hợp được với „cũ“. Trong ý nghĩa Thần Học, thì nói về hình ảnh năng động của vương triều Thiên Chúa, và hình ảnh của Giáo Hội, cộng đoàn mới của Thiên Chúa. Người đọc, qua hai câu này, sẽ phải vượt ra khỏi „cuốn sách suy tư cũ rích“, vượt khỏi cách sống cũ kỹ, để với cái nhìn mới, suy tư về vương quốc của Thiên Chúa, về Giáo Hội của Ngài; và với con tim mới, xây dựng một đời sống mới trong vương quốc, trong Giáo Hội này. Vâng, nhóm người bước theo Giêsu đâu có thể là nhóm học trò của Pha-ri-sêu được.
Như vậy, tâm tình „mới và cũ“ trên diễn tả một sự „quay về“ triệt để. Sự quay về hợp với cái mới trong tinh thần của Thiên Chúa. Đâu phải cứ chay tịnh mãi mãi, thì sẽ trở thành người đạo đức đời đời đâu. Nền tảng của đời sống đạo đức và thiêng liêng đâu phải là ăn chay, hay nói đúng hơn đâu hệ tại vào việc ăn chay trường hay giữ chay theo luật. Nền tảng đạo đức của con cái Thiên Chúa ở đây chính là ưng thuận để cho thần khí Chúa đổi mới, đồng ý dẹp bỏ những cái cũ rích không thể hợp với cái mới trong tinh thần của Thiên Chúa. Vâng, cái mới không thể phát triển, nếu người ta cứ ôm cái cũ mãi trong lòng. Vương quốc của Thiên Chúa với tinh thần mới mẻ của Ngài chỉ có thể „nở hoa“, khi con cái của Ngài biết ý thức chia tay hoàn toàn với cái cũ, và triệt để tuân theo tinh thần sống mới mẻ của Ngài.
Tham khảo
- Rudolf Pesch, Das Markusevangelium, Herder Verlarg, Freiburg 2000. Sonderausgabe, Band II/1
- Adolf Pohl, Das Evangelium des Markus, R. Brockhaus Verlag Wuppertal 2005, Wuppertaler Studienbibel NT 1.
- Meinrad Limbeck, Markusevangelium, Stuttgarter kleiner Kommentar, Verlag katholisches Bibelwerk GmbH, Stuttgart 1984
- Bernhard Zahrl in Predigtforum der Redemtoristen http://www.predigtforum.at/magazin/magazin.php?menuid=3&topmenu=3
CN 8 năm B
18 Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay? "
19 Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được.20 Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.
21 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì như vậy, miếng vá mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách lại càng rách thêm.
22 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới! " (Mc 2, 18-22)
............................................................................
· Vài hàng sơ lược
Đoạn Phúc Âm này có thể chia như sau: Câu 18: Chất vấn về việc ăn chay, Câu 19-22: Trả lời của Chúa Giêsu.Trong phần này có thể chia ra như sau: (1) thời gian ăn chay (câu 19-20); (2) Hình ảnh áo và miếng vá; (3) Hình ảnh rượu và bầu rượu.
Nội dung chính của đoạn này là cuộc tranh luận về việc ăn chay. Nhưng ăn chay có ý nghĩa gì trong xã hội Do-thái thời đó?
Theo Bernhard Zahrl và Meinrad Limbeck, trong Do-thái giáo thời Chúa Giêsu có những ngày bắt buộc phải ăn chay, như vào ngày lễ hòa giải (Jom Kippur): „Đó sẽ là quy tắc vĩnh viễn cho các ngươi. Thật vậy, ngày ấy, sẽ cử hành lễ xá tội cho các ngươi, để thanh tẩy các ngươi: trước nhan ĐỨC CHÚA, các ngươi sẽ được thanh sạch khỏi mọi tội lỗi của các ngươi. Đối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ: đó là quy tắc vĩnh viễn.“ (Lê-vi 16, 29-31) Hay vào những ngày lễ hội (x. Dacaria 7, 3 và 8,19), vào thời gian khó khăn như chiến tranh, thiên tai. Ngoài ra, cũng có kiểu ăn chay của cá nhân, như ăn chay chuẩn bị cho việc cầu nguyện, hay ăn chay để chuẩn bị khấn hứa một điều gì đó. Chúng ta có thể nhớ đến hình ảnh Mô-sê ăn chay 40 ngày trên núi, để viết 10 điều răn Đức Chúa Trời: „Ông ở đó với ĐỨC CHÚA bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều.“ (Xh 34, 28) Ngày ăn chay thường xuyên là ngày thứ Hai và thứ Tư. Vào ngày Sa-bát và ngày Lễ lớn, thì không ăn chay gì cả.
Theo Adolf Pohl thì người Do-thái đạo đức rất thường ăn chay. Trong Phúc Âm Lc 18, 12 có nhắc đến việc ăn chay của người Pha-ri-sêu: “Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.“ Đây là việc ăn chay tự nguyện. Có những thầy Ra-bi sống chay tịnh kham khổ 300 ngày trong năm, và mỗi ngày từ 06 giờ sáng đến 18 giờ chiều. Người ta còn kể về một thầy Ra-bi suốt 40 năm liền chỉ ăn trái sung khô khan thôi, đến nỗi ông ta chỉ còn da bọc xương. Ăn chay là một hình thức sống rất lý tưởng của đời sống người Do-thái. Về ý nghĩa của ăn chay, Adolf Pohl giải thích từ ngữ „ăn chay“ trong ngôn ngữ A-ram có ý nghĩa tương tự như chỉ về sự đau buồn. Ăn chay trong nguyên thủy là một nghi thức chỉ sự đau buồn, như đau buồn vì người thân qua đời. Trong trường hợp của Đa-vít đau buồn về sự qua đời của vua Sao-lê và của Gio-na-than: „Ông Đa-vít nắm lấy áo mình mà xé ra, tất cả những người ở với ông cũng vậy.12 Họ cử hành tang lễ, khóc lóc và ăn chay cho đến chiều để tỏ lòng thương tiếc vua Sa-un và ông Giô-na-than, con vua, thương tiếc dân ĐỨC CHÚA và nhà Ít-ra-en, vì những người này đã ngã gục dưới lưỡi gươm.“ (2 Sam 1, 11) Ngoài ra, sự ăn chay cũng diễn tả sự khiêm nhường và hối hận ăn năn. Khi ăn chay, người Do-thái có những hành động cụ thể, như „ngủ đêm thì nằm dưới đất“ (ss. 2 Sam 12, 16) hay „xé áo mình ra, khoác áo vải bố bám sát vào thịt, ăn chay, nằm ngủ với bao bì và bước đi thiểu não“ (1 Vua 21, 27) hoặc „Phải chăng đó là cách ăn chay mà Ta ưa chuộng trong ngày con người phải thực hành khổ chế? Cúi rạp đầu như cây sậy cây lau, nằm trên vải thô và tro bụi, phải chăng như thế mà gọi là ăn chay trong ngày các ngươi muốn đẹp lòng ĐỨC CHÚA?“ (Is 58,5) Như vậy, ăn chay là nghi thức tỏ lộ sự buồn đau trước Thiên Chúa, về lỗi lầm của mình, về thân phận nhỏ bé không xứng đáng của mình, và qua đó tỏ lộ sự ăn năn thống hối trở về của mình, và hy vọng Gia-vê Thiên Chúa nhân hậu thứ tha và cứu thoát. Ở đây có thể đọc thêm trong sách tiên tri Gio-na chương 3, 4-9.
· Suy niệm
- Câu 18: „Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?" Có thể những người hỏi Giêsu là những người chống đối Giêsu (ss. Mc 2, 16 và 24). Với câu hỏi này, cách thức sống của các môn đệ Giêsu đã bị đặt thành vấn nạn. Nhưng tại sao, người ta không hỏi thẳng các môn đệ mà hỏi Giêsu? Vì Giêsu là sư phụ của họ, nên sư phụ là người có trách nhiệm với học trò, là người bảo đảm về cách sống của học trò mình. Vì vậy, không chỉ ở đây họ đặt câu hỏi với Giêsu về hành động của các môn đệ, mà trong đoạn kế tiếp cũng vậy: „Vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa. Dọc đường, các môn đệ bắt đầu bứt lúa. Người Pha-ri-sêu liền nói với Đức Giê-su: "Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia? Điều ấy đâu được phép! " (Mc 2, 23-24)
Câu hỏi họ đặt ra trong hình thức so sánh với các môn đệ của Gioan và Pha-ri-sêu, những người ăn chay đều đặn giống như thầy của mình: „Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng.“ (Mc 1, 6) Còn mấy ông đi theo Giêsu thì lại chẳng màng tới chay tịnh gì cả. Phải chăng các môn đệ của Giêsu đã „rút tay“ ra khỏi lối sống lý tưởng của người Do-thái đạo đức, điều đó làm cho mọi người nghi vấn Giêsu và học trò của mình? Vậy Giêsu là ai đây? Phải chăng là một Ra-bi đạo đức? Một mặt „Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.“ (Mc 1, 21) Mặt khác thì Giêsu cũng ăn cũng uống như ai, và người ta đã coi Ngài là „tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.“ (ss. Lc 7, 34) Ở đây liên quan đến đoạn trước của Mác-cô: „Những kinh sư thuộc nhóm Pha-ri-sêu thấy Người ăn uống với những kẻ tội lỗi và người thu thuế, thì nói với các môn đệ Người: "Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!" (Mc 2, 16) Nhưng chúng ta không được quên một điều, câu hỏi đề cập về việc ăn chay ở đây liên quan đến việc ăn chay có tính cách đạo đức cá nhân của người Pha-ri-sêu, chứ không liên quan đến việc ăn chay theo luật buộc. Vậy Đức Giêsu trả lời như thế nào?
- Câu 19-20 : „Đức Giê-su trả lời: "Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được. Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.“ Giêsu đã theo phương pháp của các Ráp-bi, trả lời họ bằng cách đặt lại câu hỏi cho họ. Hình ảnh đầu tiên Giêsu đưa ra trong câu trả lời là hình ảnh tiệc cưới. Thật là một bất ngờ. Để hiểu được tại sao Giêsu lại đưa hình ảnh này vào, chúng ta phải trở về với tục lệ mừng đám cưới của dân tộc Do-thái thời đó. Theo Adolf Pohl, khi người Do-thái nghe đến hai từ “tiệc cưới” thì niềm vui khôn tả hiện lên ngay trước mặt họ một. Một niềm vui đẩy lui tất cả sang một bên: Các Kinh Sư gấp cuốn sách giáo khao Thora lại; kẻ thù giải hòa với nhau. Và người người sẽ tấu lên những khúc nhạc mừng vui, trống đàn hòa tấu. Rồi người ta còn tung những hạt ngũ cốc vào đám đông, nhảy nhót vui mừng trước cô dâu, và ca ngợi vẻ đẹp của cô dâu. Họ mừng vui tiệc cưới bảy ngày trời. Sau bảy ngày mừng vui, thì mọi người trở về lại với cuộc sống thường ngày, với những luật lệ nghiêm ngặt và khô khan. Như vậy, tiệc cưới là một trong biến cố làm thay đổi đời sống thường ngày của người Do-thái. Tiệc cưới cũng làm cho việc ăn chay phải tạm ngưng. Vì làm sao có thể ăn chay được, khi chàng rể còn ở đó. Vâng bao lâu chàng rể và cô dâu còn đang ở đó, thì tiệc mừng vui vẫn được mừng, tất cả mọi chuyện khác cần phải dẹp qua một bên.
Như vậy, qua câu trả lời này, Giêsu muốn nói cho mọi người biết rằng, chính Ngài là chàng rể đến và đem theo thời gian của niềm vui, như trong Isaia đã nói : «Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, » (Is 40,2)
- Trong hai câu 21 và 22 Giêsu đã dùng hai hình ảnh của dụ ngôn. Hai dụ ngôn này nói lên một điều: Ai có hiểu biết và khôn ngoan thì không làm như thế, miếng vá mới và vải cũ không thể hợp với nhau. Cũng thể, rượu mới không thể đổ vào bầu da cũ. Nếu không thì chỉ làm hư hoại thêm mà thôi. Đi vào câu 21, chúng ta đọc được nguyên tắc của việc may mặc. „Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì vải mới sẽ kéo vải cũ và làm cho vết rách lớn hơn“ Để hiểu được ý nghĩa của câu này chúng ta để Adolf Pohl giải thích về việc may mặc thời đó: Quần áo được dùng rất lâu, từ thế hệ này qua thế hệ khác, và luôn luôn phải được vá lại. Một điều rất căn bản trong việc vá, là miếng vá không được phép lấy ra từ miếng vải mới dệt xong. Nếu không, thì miếng vá mới khi ướt sẽ co lại và kéo cho vết rách cũ to thêm. Vì vậy, khi vá người ta phải chọn miếng vải cũ hợp với quần áo cũ rách rưới. Qua dụ ngôn này, chúng ta thấy hai tĩnh từ „mới“ và „cũ“ là trung tâm điểm. Cũng thế, trong câu 22 chúng ta đọc được: „Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới! " Đây là nguyên tắc căn bản của người nấu rượu và sản xuất rượu thời đó. Qua hai dụ ngôn rất ngắn gọn này, Giêsu muốn nói với chúng ta điều gì? Theo Rudolf Pesch, thì trong câu này, „mới“ và „cũ“ đối chọi hoàn toàn với nhau. Đọc kỹ sẽ nhận ra được một sức mạnh của „mới“. „Mới“ có sức trẻ, năng động và có thể vượt qua „cũ“ cách dễ dàng. „Mới“ không thể hợp được với „cũ“. Trong ý nghĩa Thần Học, thì nói về hình ảnh năng động của vương triều Thiên Chúa, và hình ảnh của Giáo Hội, cộng đoàn mới của Thiên Chúa. Người đọc, qua hai câu này, sẽ phải vượt ra khỏi „cuốn sách suy tư cũ rích“, vượt khỏi cách sống cũ kỹ, để với cái nhìn mới, suy tư về vương quốc của Thiên Chúa, về Giáo Hội của Ngài; và với con tim mới, xây dựng một đời sống mới trong vương quốc, trong Giáo Hội này. Vâng, nhóm người bước theo Giêsu đâu có thể là nhóm học trò của Pha-ri-sêu được.
Như vậy, tâm tình „mới và cũ“ trên diễn tả một sự „quay về“ triệt để. Sự quay về hợp với cái mới trong tinh thần của Thiên Chúa. Đâu phải cứ chay tịnh mãi mãi, thì sẽ trở thành người đạo đức đời đời đâu. Nền tảng của đời sống đạo đức và thiêng liêng đâu phải là ăn chay, hay nói đúng hơn đâu hệ tại vào việc ăn chay trường hay giữ chay theo luật. Nền tảng đạo đức của con cái Thiên Chúa ở đây chính là ưng thuận để cho thần khí Chúa đổi mới, đồng ý dẹp bỏ những cái cũ rích không thể hợp với cái mới trong tinh thần của Thiên Chúa. Vâng, cái mới không thể phát triển, nếu người ta cứ ôm cái cũ mãi trong lòng. Vương quốc của Thiên Chúa với tinh thần mới mẻ của Ngài chỉ có thể „nở hoa“, khi con cái của Ngài biết ý thức chia tay hoàn toàn với cái cũ, và triệt để tuân theo tinh thần sống mới mẻ của Ngài.
Tham khảo
- Rudolf Pesch, Das Markusevangelium, Herder Verlarg, Freiburg 2000. Sonderausgabe, Band II/1
- Adolf Pohl, Das Evangelium des Markus, R. Brockhaus Verlag Wuppertal 2005, Wuppertaler Studienbibel NT 1.
- Meinrad Limbeck, Markusevangelium, Stuttgarter kleiner Kommentar, Verlag katholisches Bibelwerk GmbH, Stuttgart 1984
- Bernhard Zahrl in Predigtforum der Redemtoristen http://www.predigtforum.at/magazin/magazin.php?menuid=3&topmenu=3