Bài giảng của Đức Thánh Cha nhân ngày Quốc tế về Đời sống Thánh hiến
"Một Dấu chỉ hùng hồn về sự Hiện diện của Nước Thiên Chúa"
VATICAN, 17/2/2006 (ZENIT.org).- Sau đây là bản dịch bài giảng của ĐTC Bênêditô XVI ngày 2/2/2006, Ngày Quốc tế về Đời sống Thánh hiến, tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô. Đức Thánh Cha giảng trong Thánh lễ chiều cho các tu sĩ nhân ngày lễ Dâng Chúa vào Đền thánh.
* * *
Anh chị em thân mến,
Ngày hôm nay, Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh 40 ngày sau khi sinh ra, trình bày trước mặt chúng ta một thời điểm đặc biệt trong đời sống Thánh Gia: Đức Maria và Giuse, theo luật Môisen, ẵm hài nhi Giêsu lên Đền thờ Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa (x. Lc 2,22). Ông Simêon và bà Anna, được Thiên Chúa soi sáng, đã nhận ra Hài nhi này là Đấng Mêsia hằng trông đợi và đã nói tiên tri về Người. Chúng ta đối diện một mầu nhiệm, đơn sơ mà trang trọng, qua đó Hội Thánh cử hành Đức Kitô, Đấng được xức dầu của Chúa Cha, trưởng tử của nhân loại mới.
Cuộc rước nến nhiều gợi ý vào đầu cuộc cử hành đã giúp chúng ta sống lại cuộc tiến vào huy hoàng của Đấng là “Đức Vua vinh hiển”, “Đức Chúa oai hùng khi xuất trận”, như chúng ta hát trong bài đáp ca (Tv 24[23],7-8). Nhưng ai là Thiên Chúa quyền năng đi vào Đền thánh? Đó là một Hài nhi; đó là con trẻ Giêsu trong vòng tay của mẹ Người, Đức Trinh nữ Maria. Thánh Gia đang chu toàn điều Luật dạy: thanh tẩy người mẹ, dâng đứa con đầu lòng cho Thiên Chúa và chuộc lại bằng một lễ vật.
Trong bài đọc thứ nhất, Phụng vụ đề cập đến sấm ngôn của tiên tri Malaki: "Chúa. .. thình lình đi vào thánh điện" (Malaki 3,1). Những lời này truyền đạt sức mạnh viên mãn của ước muốn đã từng đem lại sự sống cho sự mong chờ của dân tộc Do Thái suốt bao thế kỷ. "Thiên Thần của Giao ước" cuối cùng đã đi vào Nhà của Người: Người đến Giêrusalem để vào nhà Thiên Chúa trong thái độ vâng phục.
Ý nghĩa của hành vi này có được một viễn tượng rộng lớn hơn trong đoạn trích thư gởi người Do Thái, được công bố trong bài đọc hai của ngày hôm nay. Đức Kitô, vị trung gian liên kết Thiên Chúa và con người, khi xoá bỏ mọi ngăn cách, loại trừ mọi chia rẽ và phá vỡ mọi bức tường ngăn cách, Ngài được gới thiệu cho chúng ta nơi đây.
Đức Kitô đã đến như “một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân” (Dt 2,17). Vì thế, chúng ta ghi nhận rằng sự hoà giải với Thiên Chúa không diễn ra nơi sự thánh thiện và tách biệt của chức tư tế cũ, nhưng nơi sự liên đới có sức giải thoát với nhân loại.
Trong khi vẫn còn là một trẻ thơ, Ngài đã vạch ra con đường vâng phục mà Ngài đã đi theo cho đến cùng. Thư gởi Do Thái làm nổi bật điểm này khi nói: "Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết… Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người " (x. Dt 5,7-9).
Người đầu tiên hiệp thông với Đức Kitô trên con đường vâng phục, tin tưởng vững vàng và chia sẻ đau khổ là Mẹ Người, Đức Maria. Bản văn tin mừng mô tả Mẹ qua hành vi dâng Con: một sự dâng hiến vô điều kiện lôi kéo Mẹ dấn thân trong ngôi thứ nhất.
Đức Maria là Mẹ của Đấng là "vinh quang của Israel, Dân Người" và "ánh sáng mặc khải cho muôn dân," nhưng cũng là "dấu chỉ cho người đời chống đối" (x. Lc 2,32-34). Và trong cung lòng vô nhiễm của Mẹ, chính Mẹ đã bị lưỡi gươm muộn phiền đâm thâu, qua đó tỏ lộ rằng vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ không chấm dứt với mầu nhiệm Nhập thể nhưng được hoàn tất khi tham dự trong yêu thương và với đau đớn vào cái chết và Phục sinh của Con Mẹ.
Khi đem Con lên Giêrusalem, người Mẹ Trinh khiết đã dâng Người cho Thiên Chúa như con chiên đích thực gánh lấy tội trần gian. Ngài trao Người cho Ông Simêon và bà Anna như lời loan báo về ơn cứu chuộc; ngài giới thiệu Người cho mọi người như là ánh sáng cho cuộc hành trình an toàn trên nẻo đường chân lý và tình thương.
Những lời đến trên môi miệng của cụ già Simêon: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), đã được vang vọng trong tâm hồn của nữ tiên tri Anna. Những con người ngay lành và đạo đức này, một khi được ánh sáng Đức Kitô bao bọc, đã có thể nhìn thấy Hài nhi Giêsu là "nguồn an ủi của Israel" (Lc 2,25). Vì thế chính sự mong chờ này đã được biến đổi thành ánh sáng soi chiếu lịch sử. Ông Simêon là người mang trong mình một niềm hi vọng cũ và Thánh Thần của Chúa đã nói trong tâm hồn ông: vì thế ông có thể chiêm ngưỡng Đấng mà biết bao tiên tri và vua chúa đã muốn thấy: Đức Kitô, ánh sáng mặc khải cho muôn dân.
Ông nhìn nhận rằng Hài nhi này là Đấng Cứu độ, nhưng ông thấy trước trong Thánh Thần rằng số phận của nhân loại sẽ diễn ra chung quanh Người và Người phải chịu đau khổ bởi những người từ chối Người; ông đã loan báo căn tính và sứ vụ của Đấng Mêsia với những lời sẽ làm thành một trong những bản thánh ca của Giáo hội mới sinh, rạng rỡ với niềm hân hoan tròn đầy có tính cách cộng đoàn và cánh chung khi thấy sự thực hiện của lòng mong đợi ơn cứu độ. Sự nhiệt tình của ông lớn lao đến độ sống hay chết cũng như nhau, và “ánh sáng” và “vinh quang” trở thành một mặc khải phổ quát.
Anna là một "nữ tiên tri," một người đàn bà khôn ngoan và đạo đức biết giải thích ý nghĩa sâu xa của các biến cố lịch sử và sứ điệp của Thiên Chúa che dấu bên trong. Vì thế, bà có thể "tạ ơn Thiên Chúa" và "[nói về Hài nhi] cho mọi người đang ngóng chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem" (Lc 2,38).
Cuộc sống goá chồng kéo dài, hết lòng phụng thờ Thiên Chúa trong đền thờ, trung thành ăn chay mỗi tuần và chia sẻ lòng mong chờ của những ai khao khát ơn cứu chuộc cho Israel đạt đến cao điểm khi gặp gỡ Hài nhi Giêsu.
Anh chị em thân mến, vào ngày lễ dâng Chúa, Hội Thánh cử hành ngày của Đời sống Thánh hiến. Đây là cơ hội thuận tiện để ca ngợi Chúa và cám ơn Người vì quà tặng quý báu là Đời sống Thánh hiến dưới nhiều hình thức khác nhau; đồng thời đây là dịp để khích lệ toàn thể Dân Thiên Chúa hiểu biết và quý trọng đối với những ai hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa.
Quả thế, giống như đời sống của Đức Giêsu qua sự vâng phục và hiến mình cho Chúa Cha là một dụ ngôn sống động của "Thiên Chúa ở cùng chúng ta," thì sự hiến thân cụ thể của những người thánh hiến cho Thiên Chúa và cho đồng loại trở thành một dấu chỉ hùng hồn cho thế giới hôm nay về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa.
Lối sống và làm việc của các con có thể diễn tả cách sống động sự thuộc trọn về một Chúa; không chút dè dặt đặt cuộc đời chúng con vào trong bàn tay của Đức Kitô và Hội Thánh là lời loan báo mạnh mẽ và rõ ràng về sự hiện diện của Thiên Chúa trong một thứ ngôn ngữ người thời nay có thể hiểu được. Đó là việc phục vụ đầu tiên mà Đời sống Thánh hiến ban tặng cho Hội Thánh và cho thế giới.
Những người thánh hiến giống như những người tuần canh giữa Dân Thiên Chúa, họ nhận ra và loan báo đời sống mới đã hiện diện trong lịch sử chúng ta.
Giờ đây, cách đặc biệt cha nói với các con, các anh em, chị em thân mến đang ôm ấp ơn gọi của sự thánh hiến đặc biệt, cha âu yếm chào thăm và hết lòng cám ơn vì sự hiện diện của các con. Tôi gởi lời chào thăm đặc biệt đến Đức Tổng Giám mục Franc Rodé, Bộ trưởng Thánh bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hội đời sống tông đồ, và với các cộng tác viên đang đồng tế với tôi trong Thánh lễ mày.
Nguyện xin Chúa canh tân trong các con và trong mọi người thánh hiến mỗi ngày lời đáp trả vui tươi trước tình yêu trao ban cách tự do và trung thành của Người. Anh chị em thân mến, giống những ngọn nến sáng, các con hãy chiếu giải mọi nơi và mọi lúc tình yêu của Đức Kitô, ánh sáng trần gian. Nguyện xin Đức Maria rất thánh, người Nữ thánh hiến, giúp các con sống trọn vẹn ơn gọi và sứ vụ đặc biệt của các con trong Hội Thánh vì phần rỗi thế gian.
Amen!
"Một Dấu chỉ hùng hồn về sự Hiện diện của Nước Thiên Chúa"
VATICAN, 17/2/2006 (ZENIT.org).- Sau đây là bản dịch bài giảng của ĐTC Bênêditô XVI ngày 2/2/2006, Ngày Quốc tế về Đời sống Thánh hiến, tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô. Đức Thánh Cha giảng trong Thánh lễ chiều cho các tu sĩ nhân ngày lễ Dâng Chúa vào Đền thánh.
* * *
Anh chị em thân mến,
Ngày hôm nay, Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh 40 ngày sau khi sinh ra, trình bày trước mặt chúng ta một thời điểm đặc biệt trong đời sống Thánh Gia: Đức Maria và Giuse, theo luật Môisen, ẵm hài nhi Giêsu lên Đền thờ Giêrusalem để hiến dâng cho Chúa (x. Lc 2,22). Ông Simêon và bà Anna, được Thiên Chúa soi sáng, đã nhận ra Hài nhi này là Đấng Mêsia hằng trông đợi và đã nói tiên tri về Người. Chúng ta đối diện một mầu nhiệm, đơn sơ mà trang trọng, qua đó Hội Thánh cử hành Đức Kitô, Đấng được xức dầu của Chúa Cha, trưởng tử của nhân loại mới.
Cuộc rước nến nhiều gợi ý vào đầu cuộc cử hành đã giúp chúng ta sống lại cuộc tiến vào huy hoàng của Đấng là “Đức Vua vinh hiển”, “Đức Chúa oai hùng khi xuất trận”, như chúng ta hát trong bài đáp ca (Tv 24[23],7-8). Nhưng ai là Thiên Chúa quyền năng đi vào Đền thánh? Đó là một Hài nhi; đó là con trẻ Giêsu trong vòng tay của mẹ Người, Đức Trinh nữ Maria. Thánh Gia đang chu toàn điều Luật dạy: thanh tẩy người mẹ, dâng đứa con đầu lòng cho Thiên Chúa và chuộc lại bằng một lễ vật.
Trong bài đọc thứ nhất, Phụng vụ đề cập đến sấm ngôn của tiên tri Malaki: "Chúa. .. thình lình đi vào thánh điện" (Malaki 3,1). Những lời này truyền đạt sức mạnh viên mãn của ước muốn đã từng đem lại sự sống cho sự mong chờ của dân tộc Do Thái suốt bao thế kỷ. "Thiên Thần của Giao ước" cuối cùng đã đi vào Nhà của Người: Người đến Giêrusalem để vào nhà Thiên Chúa trong thái độ vâng phục.
Ý nghĩa của hành vi này có được một viễn tượng rộng lớn hơn trong đoạn trích thư gởi người Do Thái, được công bố trong bài đọc hai của ngày hôm nay. Đức Kitô, vị trung gian liên kết Thiên Chúa và con người, khi xoá bỏ mọi ngăn cách, loại trừ mọi chia rẽ và phá vỡ mọi bức tường ngăn cách, Ngài được gới thiệu cho chúng ta nơi đây.
Đức Kitô đã đến như “một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân” (Dt 2,17). Vì thế, chúng ta ghi nhận rằng sự hoà giải với Thiên Chúa không diễn ra nơi sự thánh thiện và tách biệt của chức tư tế cũ, nhưng nơi sự liên đới có sức giải thoát với nhân loại.
Trong khi vẫn còn là một trẻ thơ, Ngài đã vạch ra con đường vâng phục mà Ngài đã đi theo cho đến cùng. Thư gởi Do Thái làm nổi bật điểm này khi nói: "Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết… Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người " (x. Dt 5,7-9).
Người đầu tiên hiệp thông với Đức Kitô trên con đường vâng phục, tin tưởng vững vàng và chia sẻ đau khổ là Mẹ Người, Đức Maria. Bản văn tin mừng mô tả Mẹ qua hành vi dâng Con: một sự dâng hiến vô điều kiện lôi kéo Mẹ dấn thân trong ngôi thứ nhất.
Đức Maria là Mẹ của Đấng là "vinh quang của Israel, Dân Người" và "ánh sáng mặc khải cho muôn dân," nhưng cũng là "dấu chỉ cho người đời chống đối" (x. Lc 2,32-34). Và trong cung lòng vô nhiễm của Mẹ, chính Mẹ đã bị lưỡi gươm muộn phiền đâm thâu, qua đó tỏ lộ rằng vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ không chấm dứt với mầu nhiệm Nhập thể nhưng được hoàn tất khi tham dự trong yêu thương và với đau đớn vào cái chết và Phục sinh của Con Mẹ.
Khi đem Con lên Giêrusalem, người Mẹ Trinh khiết đã dâng Người cho Thiên Chúa như con chiên đích thực gánh lấy tội trần gian. Ngài trao Người cho Ông Simêon và bà Anna như lời loan báo về ơn cứu chuộc; ngài giới thiệu Người cho mọi người như là ánh sáng cho cuộc hành trình an toàn trên nẻo đường chân lý và tình thương.
Những lời đến trên môi miệng của cụ già Simêon: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), đã được vang vọng trong tâm hồn của nữ tiên tri Anna. Những con người ngay lành và đạo đức này, một khi được ánh sáng Đức Kitô bao bọc, đã có thể nhìn thấy Hài nhi Giêsu là "nguồn an ủi của Israel" (Lc 2,25). Vì thế chính sự mong chờ này đã được biến đổi thành ánh sáng soi chiếu lịch sử. Ông Simêon là người mang trong mình một niềm hi vọng cũ và Thánh Thần của Chúa đã nói trong tâm hồn ông: vì thế ông có thể chiêm ngưỡng Đấng mà biết bao tiên tri và vua chúa đã muốn thấy: Đức Kitô, ánh sáng mặc khải cho muôn dân.
Ông nhìn nhận rằng Hài nhi này là Đấng Cứu độ, nhưng ông thấy trước trong Thánh Thần rằng số phận của nhân loại sẽ diễn ra chung quanh Người và Người phải chịu đau khổ bởi những người từ chối Người; ông đã loan báo căn tính và sứ vụ của Đấng Mêsia với những lời sẽ làm thành một trong những bản thánh ca của Giáo hội mới sinh, rạng rỡ với niềm hân hoan tròn đầy có tính cách cộng đoàn và cánh chung khi thấy sự thực hiện của lòng mong đợi ơn cứu độ. Sự nhiệt tình của ông lớn lao đến độ sống hay chết cũng như nhau, và “ánh sáng” và “vinh quang” trở thành một mặc khải phổ quát.
Anna là một "nữ tiên tri," một người đàn bà khôn ngoan và đạo đức biết giải thích ý nghĩa sâu xa của các biến cố lịch sử và sứ điệp của Thiên Chúa che dấu bên trong. Vì thế, bà có thể "tạ ơn Thiên Chúa" và "[nói về Hài nhi] cho mọi người đang ngóng chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem" (Lc 2,38).
Cuộc sống goá chồng kéo dài, hết lòng phụng thờ Thiên Chúa trong đền thờ, trung thành ăn chay mỗi tuần và chia sẻ lòng mong chờ của những ai khao khát ơn cứu chuộc cho Israel đạt đến cao điểm khi gặp gỡ Hài nhi Giêsu.
Anh chị em thân mến, vào ngày lễ dâng Chúa, Hội Thánh cử hành ngày của Đời sống Thánh hiến. Đây là cơ hội thuận tiện để ca ngợi Chúa và cám ơn Người vì quà tặng quý báu là Đời sống Thánh hiến dưới nhiều hình thức khác nhau; đồng thời đây là dịp để khích lệ toàn thể Dân Thiên Chúa hiểu biết và quý trọng đối với những ai hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa.
Quả thế, giống như đời sống của Đức Giêsu qua sự vâng phục và hiến mình cho Chúa Cha là một dụ ngôn sống động của "Thiên Chúa ở cùng chúng ta," thì sự hiến thân cụ thể của những người thánh hiến cho Thiên Chúa và cho đồng loại trở thành một dấu chỉ hùng hồn cho thế giới hôm nay về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa.
Lối sống và làm việc của các con có thể diễn tả cách sống động sự thuộc trọn về một Chúa; không chút dè dặt đặt cuộc đời chúng con vào trong bàn tay của Đức Kitô và Hội Thánh là lời loan báo mạnh mẽ và rõ ràng về sự hiện diện của Thiên Chúa trong một thứ ngôn ngữ người thời nay có thể hiểu được. Đó là việc phục vụ đầu tiên mà Đời sống Thánh hiến ban tặng cho Hội Thánh và cho thế giới.
Những người thánh hiến giống như những người tuần canh giữa Dân Thiên Chúa, họ nhận ra và loan báo đời sống mới đã hiện diện trong lịch sử chúng ta.
Giờ đây, cách đặc biệt cha nói với các con, các anh em, chị em thân mến đang ôm ấp ơn gọi của sự thánh hiến đặc biệt, cha âu yếm chào thăm và hết lòng cám ơn vì sự hiện diện của các con. Tôi gởi lời chào thăm đặc biệt đến Đức Tổng Giám mục Franc Rodé, Bộ trưởng Thánh bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hội đời sống tông đồ, và với các cộng tác viên đang đồng tế với tôi trong Thánh lễ mày.
Nguyện xin Chúa canh tân trong các con và trong mọi người thánh hiến mỗi ngày lời đáp trả vui tươi trước tình yêu trao ban cách tự do và trung thành của Người. Anh chị em thân mến, giống những ngọn nến sáng, các con hãy chiếu giải mọi nơi và mọi lúc tình yêu của Đức Kitô, ánh sáng trần gian. Nguyện xin Đức Maria rất thánh, người Nữ thánh hiến, giúp các con sống trọn vẹn ơn gọi và sứ vụ đặc biệt của các con trong Hội Thánh vì phần rỗi thế gian.
Amen!